Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

Tải bản đầy đủ - 0trang

5



các cơng cụ kiểm sốt và lập kế hoạch, thu nhận và xử lý thông tin phục vụ cho

công việc ra quyết định gọi là kế toán quản trị.

Cho đến nay đã tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau về kế toán quản trị.

Theo Ronakd W. Hiton, giáo sư Đại học Cornell (Mỹ): “Kế toán quản trị là

một bộ phận của hệ thống thông tin quản trị trong tổ chức, mà nhà quản trị dựa vào

đó để hoạch định và kiểm soát các hoạt động của tổ chức”.

Theo Ray H.Garrison: “Kế tốn quản trị có liên hệ với việc cung cấp các tài

liệu cho các nhà quản lý là những người bên trong tổ chức kinh tế và có trách nhiệm

trong việc điều hành và kiểm soát mọi hoạt động của tổ chức đó”.

Theo các giáo sư Đại học South Florida: “Kế toán quản trị là một hệ thống

kế tốn cung cấp cho các nhà quản trị những thơng tin định lượng mà họ cần để

hoạch định và kiểm soát”.

Theo từ điển thuật ngữ kế toán Mỹ: “Kế toán quản trị là lĩnh vực kế toán liên

quan đến thu thập và xử lý các thông tin kinh tế nhằm hỗ trợ những nhà quản lý

trong việc đưa ra các quyết định tài chính đặc biệt trong hoạch định kế hoạch và

quản lý giá thành”.

Theo hiệp hội kế toán viên Hoa Kỳ năm 1982: “Kế toán quản trị là quy trình

định dạng, đo lường, tổng hợp, phân tích, lập bảng biểu, giải thích và thơng đạt các

số liệu tài chính và phi tài chính cho ban giám đốc để lập kế hoạch, đánh giá, theo

dõi việc thực hiện trong phạm vi nội bộ doanh nghiệp và để đảm bảo việc sử dụng

có hiệu quả các tài sản và quản lý chặt chẽ các tài sản này”.

Theo luật Kế toán Việt Nam: “Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân

tích và cung cấp thơng tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh

tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế tốn”.

Từ những quan điểm trên, có thể hiểu Kế tốn quản trị là một khoa học thu

thập, xử lý và cung cấp những thông tin định lượng về hoạt động của đơn vị một

cách cụ thể, giúp các nhà quản lý trong quá trình ra quyết định liên quan đến



6



việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra, kiểm soát và đánh giá tình hình

thực hiện các hoạt động của đơn vị.

1.1.1.2. Bản chất của kế tốn quản trị chi phí



- Kế tốn quản trị chi phí là cơng việc của từng doanh nghiệp, Nhà nước

chỉ hướng dẫn các nguyên tắc, cách thức tổ chức và các nội dung, phương pháp

kế toán quản trị chủ yếu tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp thực hiện.

- Kế toán quản trị chi phí nhằm cung cấp các thơng tin về hoạt động nội bộ

của doanh nghiệp, như: Chi phí của từng bộ phận (trung tâm chi phí), từng cơng

việc, sản phẩm; phân tích, đánh giá tình hình thực hiện với kế hoạch về doanh thu,

chi phí, lợi nhuận; quản lý tài sản, vật tư, tiền vốn, cơng nợ; phân tích mối quan hệ

giữa chi phí với khối lượng và lợi nhuận; lựa chọn thơng tin thích hợp cho các

quyết định đầu tư ngắn hạn và dài hạn; lập dự toán ngân sách sản xuất, kinh

doanh;... nhằm phục vụ việc điều hành, kiểm tra và ra quyết định kinh tế.

- Đối tượng nhận thơng tin kế tốn quản trị chi phí là Ban lãnh đạo doanh

nghiệp và những người tham gia quản lý, điều hành hoạt động sản xuất, kinh

doanh của doanh nghiệp.

- Đơn vị tính sử dụng trong Kế tốn quản trị chi phí, gồm: Đơn vị tiền tệ,

đơn vị hiện vật, thời gian lao động hoặc các đơn vị tính khác theo yêu cầu quản

lý của doanh nghiệp.

- Nguyên tắc tổ chức hệ thống thơng tin kế tốn quản trị chi phí: Việc tổ

chức hệ thống thơng tin kế tốn quản trị không bắt buộc phải tuân thủ đầy đủ các

nguyên tắc kế tốn và có thể được thực hiện theo những quy định nội bộ của

doanh nghiệp nhằm tạo lập hệ thống thơng tin quản lý thích hợp theo u cầu

quản lý cụ thể của từng doanh nghiệp. Doanh nghiệp được toàn quyền quyết

định việc vận dụng các chứng từ kế toán, tổ chức hệ thống sổ kế toán, vận dụng

và chi tiết hoá các tài khoản kế toán, thiết kế các mẫu báo cáo kế toán quản trị

cần thiết phục vụ cho kế toán quản trị của đơn vị.



7



- Doanh nghiệp được sử dụng mọi thông tin, số liệu của phần kế tốn tài

chính để phối hợp và phục vụ cho kế tốn quản trị.

1.1.2. Vai trò của kế tốn quản trị chi phí trong quản trị doanh nghiệp



1.1.2.1. Kế toán quản trị với các chức năng quản lý

Vai trò của kế tốn quản trị thể hiện trong các khâu của quá trình quản lý,

được thể hiện cụ thể như sau:

- Trong giai đoạn lập kế hoạch và dự toán

+ Lập kế hoạch là việc xây dựng các mục tiêu phải đạt được và vạch ra các

bước thực hiện để đạt được mục tiêu đó.

+ Dự tốn cũng là một loại kế hoạch nhằm liên kết các mục tiêu và chỉ rõ

cách huy động, sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đề ra.

Để chức năng lập kế hoạch và dự toán của quản lý được thực hiện tốt, để các

kế hoạch và dự toán được lập đảm bảo tính khoa học và tính khả thi cao đòi hỏi phải

dựa trên những thơng tin đầy đủ, thích hợp và có cơ sở. Các thơng tin này do kế

toán quản trị cung cấp.

- Trong giai đoạn thực hiện

Trong khâu tổ chức thực hiện, các nhà quản trị phải biết cách liên kết tốt nhất

giữa các yếu tố, tổ chức, con người và các nguồn lực sao cho kế hoạch được thực

hiện ở mức cao nhất và hiệu quả nhất. Để thực hiện tốt chức năng này, nhà quản trị

cũng phải có nhu cầu rất lớn đối với các thơng tin kế tốn quản trị như nhà quản trị

cần được kế tốn cung cấp thơng tin để ra quyết định kinh doanh đúng đắn trong

quá trình điều hành, chỉ đạo việc thực hiện các quyết định hàng ngày, chẳng hạn

như quyết định tiếp tục kinh doanh hay loại bộ một bộ phận, một sản phẩm nào đó,

quyết định tự sản xuất hay mua ngoài,...

- Trong giai đoạn kiểm tra và đánh giá

Trong giai đoạn này, nhà quản trị cần các kế toán viên quản trị cung cấp các

báo cáo thực hiện để nhận diện những vấn đề còn tồn tại và cần có tác động của



8



quản lý bằng cách phân tích, so sánh số liệu thực hiện với số liệu kế hoạch và dự

toán, xác định những sai biệt giữa kết quả đạt được với kế hoạch đề ra.

- Trong khâu ra quyết định

Phần lớn các thông tin do kế toán quản trị cung cấp nhằm giúp các nhà quản trị

ra quyết định, đó là chức năng quan trọng, xuyên suốt các khâu quản trị doanh nghiệp.

Không những thế, kế tốn quản trị còn vận dụng các kỹ thuật phân tích vào những tình

huống khác nhau, để từ đó nhà quản trị có thể lựa chọn và ra quyết định thích hợp nhất.

Đối với mỗi doanh nghiệp, sau khi đã xác định được các mục tiêu chung,

chúng sẽ được chính thức hóa bằng các chỉ tiêu kinh tế cụ thể. Các chỉ tiêu này trở

thành căn cứ để lập kế hoạch chính thức. Trên cơ sở đó, kế tốn tiến hành soạn thảo

và triển khai bản dự toán chung và dự toán chi tiết để làm căn cứ tổ chức thực hiện,

theo dõi, kiểm tra và đánh giá quá trình thực hiện kế hoạch. Sau đó kế tốn thu thập

kết quả thực hiện và soạn thảo báo cáo thực hiện, cung cấp cho nhà quản trị đánh

giá, kịp thời phát hiện và khắc phục các yếu kém.

Chu kỳ quản lý và q trình kế tốn quản trị vận động liên tục và lặp đi lặp

lại không ngừng trong hoạt động của doanh nghiệp.

1.1.2.2 Sự cần thiết của Kế toán quản trị ở Việt Nam

Ở các nước theo nền kinh tế thị trường, vai trò của kế tốn quản trị ngày càng

được mở rộng. Có những lý do chủ yếu dẫn đến sự hình thành và phát triển của lĩnh

vực kế tốn này như sau :

- Q trình tự động hố trong sản xuất ngày càng phát triển nhanh chóng, sự

cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gia tăng trên tồn cầu. Do đó, các nhà

quản lý phải đương đầu với nhiều vấn đề về định giá và tính giá các sản phẩm, dịch vụ.

- Các mơ hình quản lý và mơ hình ra quyết định cũng thay đổi nhờ sự phát

triển của công nghệ thông tin và các cơng cụ phân tích định lượng, như: phân tích

xác xuất, lý thuyết ra quyết định,... Những công cụ này ngày càng được áp dụng

phổ biến khi ra quyết định ở các doanh nghiệp.

Những chuyển biến trên đặt ra nhu cầu thông tin ngày càng cao trong công



9



tác quản lý. Một doanh nghiệp sẽ tồn tại nếu doanh nghiệp đó thích ứng, đối phó

nhanh chóng và kịp thời với mọi thử thách mới trên thị trường. Chính vì vậy, kế

tốn quản trị ngày càng giữ được vị trí quan trọng.

Ở nước ta, từ trước đến nay, khái niệm kế toán quản trị hoàn toàn mới mẻ.

Chuyển sang cơ chế thị trường, với sự điều tiết của Nhà nước, sự hình thành kế toán

quản trị trong bộ phận kế toán là rất cần thiết vì những lý do sau :

- Các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đã được giao quyền tự chủ sản xuất

kinh doanh. Mơi trường kinh doanh đã hình thành ở Việt Nam, giữa những doanh

nghiệp trong nước với nhau, giữa doanh nghiệp nhà nước với tư nhân và với các

doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi, do vậy, các thơng tin nội bộ do hệ thống kế

tốn quản trị cung cấp tất yếu phải được hình thành.

- Hệ thống kế tốn Việt Nam đã có những thay đổi đáng kể để phù hợp với

các thông lệ kế tốn quốc tế, theo đó, hệ thống tài khoản kế tốn mới cùng với các

chuẩn mực kế tốn đã hình thành. Đây là cơ sở để từng bước xây dựng kế tốn quản

trị độc lập với kế tốn tài chính.

Những lý do trên yêu cầu các nhà quản lý của các doanh nghiệp Việt Nam

hiện nay phải đối phó với những thay đổi liên tục trên thị trường để ra các quyết định

kinh doanh đúng đắn. Chính vì thế, nhu cầu thông tin về tiềm lực và nội bộ của doanh

nghiệp là một yếu tố không thể thiếu và kế tốn quản trị là phương tiện, là cơng cụ hỗ

trợ quan trọng quyết định chất lượng quá trình quản lý ở các doanh nghiệp.



1.2. Khái niệm và phân loại chi phí trong doanh nghiệp sản xuất

1.2.1. Khái niệm chi phí trong doanh nghiệp sản xuất

1.2.1.1. Khái niệm chi phí theo quan điểm kế tốn tài chính

Hiện nay theo các tài liệu và giáo trình thì chi phí được định nghĩa theo nhiều

phương diện khác nhau, chi phí của doanh nghiệp là tổng các hao phí về lao động

sống, lao động vật hố và các chi phí cần thiết khác được biểu hiện bằng tiền mà

doanh nghiệp bỏ ra và tính trong một thời kỳ nhất định.



10



Theo chuẩn mực kế toán số 01 Việt Nam, chi phí được định nghĩa: “Chi phí là

tổng giá trị giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế tốn dưới hình thức các

khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm

giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”.

1.2.1.2. Khái niệm chi phí theo quan điểm kế tốn quản trị

Theo quan điểm kế tốn quản trị, chi phí khơng chỉ đơn giản được nhận thức

theo quan điểm của kế tốn tài chính mà chi phí được sử dụng theo nhiều chiều

hướng khác nhau để đáp ứng thơng tin một cách tồn diện cho các nhà quản trị

trong việc hoạch định, kiểm soát và ra quyết định. Theo đó chi phí được định nghĩa

là giá trị tiền tệ của các khoản hao phí bỏ ra nhằm tạo ra các loại tài sản, hàng hóa

hoặc các dịch vụ.

1.2.2. Phân loại chi phí trong doanh nghiệp sản xuất

1.2.2.1. Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động

Chi phí phát sinh trong các doanh nghiệp sản xuất, xét theo cơng dụng của

chúng, hay nói một cách khác, xét theo từng hoạt động có chức năng khác nhau

trong quá trình sản xuất kinh doanh mà chúng phục vụ, được chia thành hai loại lớn:

chi phí sản xuất và chi phí ngồi sản xuất.

- Chi phí sản xuất

Giai đoạn sản xuất là giai đoạn chế biến nguyên vật liệu thành thành phẩm

bằng sức lao động của công nhân với việc sử dụng máy móc thiết bị. Chi phí sản

xuất bao gồm các khoản mục: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân cơng

trực tiếp và chi phí sản xuất chung.

* Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp: Khoản mục chi phí này bao gồm

các khoản nguyên liệu và vật liệu dùng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm. Trong

đó ngun vật liêu liệu chính dùng để cấu tạo nên thực thể chính của sản phẩm và

các loại vật liệu phụ khác có tác dụng kết hợp với ngun vật liệu chính để hồn

chỉnh sản phẩm về mặt chất lượng và hình dáng.



11



* Chi phí nhân cơng trực tiếp: Khoản mục chi phí này bao gồm tiền lương

và nhưng khoản trích theo lương phải trả cho bộ phận công nhân trực tiếp sản xuất

sản phẩm. Cần phải chú ý rằng, chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương của

cơng nhân phục vụ hoạt động chung của bộ phận sản xuất hoặc nhân viên quản lý

các bộ phận sản xuất thì khơng bao gồm khoản mục chi phí này mà được tính một

phần chi phí sản xuất chung.

* Chi phí sản xuất chung: Là các chi phí phục vụ và quản lý q trình sản

xuất sản phẩm phát sinh trong phạm vi các phân xưởng. Khoản mục chi phí này bao

gồm: chi phi vật liệu phục vụ quá trình sản xuất hoặc quản lý sản xuất, tiền lương

và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý phân xưởng, chi phí khấu hao,

sửa chửa và bảo trì máy móc thiết bị, nhà xưởng, chi phí dịch vụ mua ngồi phục vụ

sản xuất và quản lý ở phân xưởng…

- Chi phí ngồi sản xuất

Đây là chi phí phát sinh ngồi q trình sản xuất sản phẩm liên quan đến quá

trình tiêu thụ sản phẩm hoặc phục vụ cơng tác quản lý chung tồn doanh nghiệp.

Bao gồm các chi phí sau:

* Chi phí bán hàng: Khoản mục chi phí này bao gồm các chi phí phát sinh

phục vụ cho khâu tiêu thụ sản phẩm. Có thể kể đến chi phí như chi phí vận chuyển,

bốc giở thành phẩm giao cho khách hàng, chi phí bao bì, khấu hao các phương tiện

vận chuyển, tiền lương nhân viên bán hàng, hoa hồng bán hàng, chi phí tiếp thị quảng

cao, …

* Chi phí quản lý doanh nghiệp: Bao gồm tất cả các chi phí phục vụ cho

cơng tác tổ chức và quản lý quá trình tổ chức sản xuất và kinh doanh nói chung trên

góc độ tồn doanh nghiệp. Khoản mục này bao gồm các chi phí như: chi phí văn

phòng, tiền lương và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý doanh

nghiệp, khấu hao tài sản cố định phục vụ cho quản lý doanh nghiệp, các chi phí dich

vụ mua ngồi khác...



12



1.2.2.2. Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí

Đây là cách phân loại chi phí theo khả năng phản ứng hoặc thay đổi như thế

nào của chi phí khí có những thay đổi xảy ra trong các mức độ hoạt động sản xuất

kinh doanh. Theo đó chi phí được chia thành ba loại:chi phí khả biến, chi phí bất

biến và chi phí hỗn hợp.

- Chi phí khả biến (biến phí)

Chi phí khả biến là các chi phí, xét về lý thuyết, có sự thay đổi tỷ lệ với các

mức độ hoạt động. Chi phí khả biến chỉ phát sinh khi có các hoạt động xãy ra. Tổng

số chi phí khả biến sẽ tăng (hoặc giảm) tương ứng với sự tăng (hoặc giảm) của mức

độ hoạt động, nhưng chi phí khả biến tính theo đơn vị của mức độ hoạt động thì

khơng đổi.

Trong các loại chi phí sản xuất kinh doanh thì chi phí khả biến là: chi phí

nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân cơng trực tiếp đó là trả lương theo sản

phẩm,...

- Chi phí bất biến (định phí)

Chi phí bất biến là những chi phí, xét về lý thuyết, khơng có sự thay đổi theo

các mức độ hoạt động đạt được. Vì tổng số chi phí bất biến là không thay đổi cho

nên, khi mức độ hoạt động tăng thì chi phí bất biến tính theo mức độ hoạt động sẽ

giảm và ngược lại. Doanh nghiệp hoạt động hay khơng hoạt động vẫn tồn tại chi phí

bất biến, có 2 loại chi phí bất biến: Chi phí bất biến bắt buộc và chi phí bất biến

khơng bắt buộc.

- Chi phí hỗn hợp

Chi phí hỗn hợp là những chi phí mà cấu thành nên nó bao gồm cả yếu tố

chi phí khả biến và chi phí bất biến. Ở một mức độ hoạt động cụ thể nào đó, chi phí

hỗn hợp mang đặc điểm của chi phí bất biến, và khi mức độ hoạt động tăng lên, chi

phí hỗn hợp sẽ biến đổi như đặc điểm của chi phí khả biến. Các chi phí biểu hiện

chi phí hỗn hợp như: chi phí điện thoại cố định trong dịch vụ viển thơng-chi phí

th bao là định phí, phí trả theo thời gian sử dụng là biến phí.



13



Chi phí nhân cơng trực tiếp, trường hợp trả lương vừa bao gồm theo thời gian và

theo sản phẩm, phần trả theo thời gian là định phí, phần trả theo sản phẩm là biến phí.

1.2.2.3. Theo mối quan hệ giữa chi phí với lợi nhuận xác định từng kỳ

Theo cách phân loại này chi phí sản xuất được chia làm 2 loại là chi phí sản

phẩm và chi phí thời kỳ.

- Chi phí sản phẩm

Chi phí sản phẩm bao gồm các chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất

sản phẩm, do vậy các chi phí này kết hợp tạo nên giá trị của sản phẩm hình thành

qua giai đoạn sản xuất (được gọi là giá thành sản xuất hay giá thành công xưởng).

Tuỳ thuộc vào phương pháp tính giá thành được áp dụng mà chi phí sản phẩm có

khác nhau. Với phương pháp tính giá thành tồn bộ, chi phí sản phẩm gồm các

khoản mục: chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp, chi phí nhân cơng trực tiếp và chi

phí sản xuất chung. Xét theo mối quan hệ với việc xác định lợi tức trong từng kỳ kế

tốn, chi phí sản phẩm chỉ được tính tốn, kết chuyển để xác định lợi tức trong kỳ

tương ứng với khối lượng sản phẩm đã được tiêu thụ trong kỳ đó. Chi phí của khối

lượng sản phẩm tồn kho chưa được tiêu thụ vào cuối kỳ sẽ được lưu giữ như giá trị

tồn kho và sẽ được kết chuyển để xác định lợi tức ở các kỳ sau khi mà chúng được

tiêu thụ. Vì lý do này, chi phí sản phẩm còn được gọi là chi phí tồn kho.

- Chi phí thời kỳ

Chi phí thời kỳ gồm các khoản mục chi phí còn lại sau khi đã xác định các

khoản mục chi phí thuộc chi phí sản phẩm. Nó thường bao gồm chi phí bán hàng,

chi phí quản lý doanh nghiệp và chi phí tài chính. Các chi phí thời kỳ phát sinh ở kỳ

kế tốn nào được xem là có tác dụng phục vụ cho q trình kinh doanh của kỳ đó,

do vậy chúng được tính tốn kết chuyển hết để xác định lợi tức ngay trong kỳ mà

chúng phát sinh. Chi phí thời kỳ còn được gọi là chi phí khơng tồn kho.

1.2.2.4. Các cách phân loại chi phí sử dụng trong kiểm tra và ra quyết

định

- Chi phí kiểm sốt được và chi phí khơng kiểm sốt được



14



+ Chi phí kiểm sốt được: Là những chi phí mà ở một cấp quản lý nào đó

nhà quản trị xác định được một cách chính xác sự phát sinh của nó, đồng thời nhà

quản trị cũng có thẫm quyền quyết địnhvề loại chi phí đó, như: Chi phí quảng cáo

riêng ở của hàng , người của hàng trưởng quyết định được mức chi tiêu…

+ Chi phí khơng kiểm sốt được: Là những chi phí mà nhà quản trị khơng

thể dự đốn chính xác sự phát sinh của nó, hoặc khơng có thẩm quyền quyết định về

loại chi phí đó, như: Chi phí quảng cáo chung do công ty phân bổ, người cửa hàng

trưởng không quyết định được mức chi tiêu…

- Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp

+ Chi phí trực tiếp: Là các khoản chi phí phát sinh có liên quan trực tiếp đến

quá trình sản xuất sản phẩm hoặc thực hiện các đơn đặt hàng, do vậy có thể tính

trực tiếp cho từng loại sản phẩm hay từng đơn đặt hàng, như: chi phí nguyên vật

liệu trực tiếp và chi phí nhân cơng trực tiếp.

+ Chi phí gián tiếp: Là các khoản chi phí phát sinh cho mục đích phục vụ

và quản lý chung, liên quan đến việc sản xuất và tiêu thụ nhiều loại sản phẩm, nhiều

đơn đặt hàng cần được tiến hành phân bổ cho các đối tượng sử dụng chi phí theo

các tiêu thức phân bổ phù hợp, như: Chi phí sản xuất chung, chi phí bán hàng và chi

phí quản lý doanh nghiệp. Cách phân loại chi phí này giúp ích cho việc xây dựng

các phương pháp hạch tốn và phân bổ thích hợp cho từng loại chi phí.

- Chi phí lặn

Chi phí lặn được hiểu là khoản chi phí đã bỏ ra trong quá khứ và sẽ hiển hiện

ở tất cả mọi phương án với giá trị như nhau. Hiểu một cách khác, chi phí lặn được

xem như là khoản chi phí khơng thể tránh được cho dù nhà quản lý quyết định lựa

chọn thực hiện theo phương án nào. Chính vì vậy, chi phí lặn là loại chi phí khơng

thích hợp cho việc xem xét, ra quyết định của người quản lý. Tuy nhiên trong thực

tế, việc nhận diện được chi phí lặn cũng như sự nhận thức rằng chi phí lặn cần được

loại bỏ trong tiến trình ra quyết định khơng phải lúc nào cũng dễ dàng.

- Chi phí chênh lệch



15



Chi phí chênh lệch (còn được gọi là chi phí khác biệt) chỉ xuất hiện khi so

sánh chi phí gắn liền với các phương án trong quyết định lựa chọn phương án tối

ưu. Chi phí chênh lệch còn được hiểu là phần giá trị khác nhau của các loại chi phí

của một phương án so với một phương án khác.

Có 2 dạng chi phí chênh lệch: giá trị của những chi phí chỉ phát sinh ở

phương án này mà khơng có ở phương án khác, hoặc là phần chênh lệch về giá trị

của cùng một loại chi phí ở các phương án khác nhau. Người quản lý đưa ra các

quyết định lựa chọn các phương án trên cơ sở phân tích bộ phận chênh lệch này nên

chi phí chênh lệch là dạng thơng tin thích hợp cho việc ra quyết định.

- Chi phí cơ hội

Chi phí cỏ hội là những thu nhập tiềm tàng bị mất đi khi lựa chọn thực hiện

phương án này thay cho phương án khác.

Chẳng hạn với việc sử dụng cửa hàng để tổ chức hoạt động kinh doanh thay

vì cho th thì thu nhập có được từ việc cho thuê cửa hàng trở thành chi phí cơ hội

của phương án tự tổ chức kinh doanh.

Chi phí cơ hội có thể là chi phí giả định, chúng khơng có trên sổ kế toán,

nhưng cần phải được xem xét trước khi lựa chọn phương án thực hiện.

Công dụng: cung cấp thông tin để người quản lý ra quyết định.



1.3. Nội dung của KTQT chi phí trong doanh nghiệp sản xuất

Kế tốn quản trị chi phí là một bộ phận của kế toán quản trị chuyên thực hiện việc

xử lý và cung cấp các thơng tin về chi phí nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức

năng của nhà quản trị như: hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm tra và ra quyết định.

Kế tốn quản trị chi phí nhấn mạnh đến tính dự báo của thơng tin và trách

nhiệm của các nhà quản lý thuộc các cấp quản lý (trong đó tập trung vào cấp quản

trị cấp thấp như các tổ, đội, phân xưởng sản xuất hay bộ phận quản lý và phục vụ là nơi trực tiếp phát sinh các chi phí) nhằm gắn trách nhiệm của các nhà quản trị với

chi phí phát sinh thơng qua hình thức thơng tin chi phí được cung cấp theo các trung

tâm chi phí (nguồn gây ra chi phí).



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x