Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

Tải bản đầy đủ - 0trang

5

trị trong các doanh nghiệp theo thông tư số 53/2006/TT-BTC thì kế tốn quản trị

được định nghĩa như sau:

Kế tốn quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thơng tin kinh

tế, tài chính theo u cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn

vị kế toán (Luật Kế toán, khoản 3, điều 4).

Qua các khái niệm trên ta thấy kế toán quản trị thực sự là một hệ thống trợ

thủ đắc lực cho nhà quản trị doanh nghiệp trong quá trình điều hành và sản xuất

kinh doanh.

1.1.2 Vai trò của kế tốn quản trị

Khác với kế tốn tài chính hướng đến cung cấp thông tin cho những cá nhân

tổ chức bên ngồi có lợi ích liên quan thì kế tốn quản trị hướng đến cung cấp thông

tin quản trị nội bộ ở doanh nghiệp.

Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải lập kế hoạch

SXKD cho doanh nghiệp mình. Từ kế hoạch chung của doanh nghiệp, các bộ phận

triển khai thành các mục tiêu thực hiện và kiểm tra kết quả thực hiện các mục tiêu

này. Đó chính là kiểm tra quản lý – kiểm tra hướng hoạt động của doanh nghiệp

trong quá trình thực hiện các mục tiêu đề ra cần phải quản lý các qui trình cụ thể,

chi tiết hơn như quản lý tồn kho, quản lý sản xuất, quản lý chi phí,… Kế tốn quản

trị chi phí còn được coi là cơng cụ để đánh giá quá trình thực hiện mục tiêu kế hoạch thơng qua việc phân tích các chi phí, từ đó có những quyết định hợp lý để hoạt động sản

xuất kinh doanh ngày càng đạt hiệu quả cao hơn. Kế tốn quản trị chi phí giúp thực hiện

chức năng kiểm tra của quản lý một cách rất hiệu quả thông qua việc thu thập và cung

cấp các thông tin chi tiết về tình hình thực hiện kế hoạch, phát hiện các khoản chênh lệch

so với kế hoạch và các nguyên nhân dẫn đến tình hình đó, giúp nhà quản lý nắm bắt hoạt

động nào đem lại lợi ích, hoạt động nào đang duy trì lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp,

… Với khả năng cung cấp thông tin về chi phí và lợi nhuận thu được từ từng loại sản

phẩm, dịch vụ, từng lĩnh vực hoạt động, từng bộ phận,… kế tốn quản trị chi phí sẽ rất

hữu ích trong việc kiểm sốt chi phí sản xuất và vòng đời của sản phẩm cũng như hiệu

quả của từng hoạt động. Có thể nói, kế tốn quản trị chi phí đóng vai trò kiểm sốt tồn



6

bộ các khâu của hoạt động kinh doanh một cách rất cụ thể, chi tiết và thường xun

Ở Việt nam kế tốn quản trị chi phí sản xuất còn là vấn đề rất mới mẻ, chưa

được ứng dụng một cách phổ biến nhưng thực sự nó rất cần thiết vì nhu cầu thơng

tin về tiềm lực và nội bộ của doanh nghiệp là một yếu tố khơng thể thiếu và kế tốn

quản trị là phương tiện là công cụ hổ trợ quan trọng nhất quyết định quá trình chất

lượng quản lý ở các doanh nghiệp

1.2 PHÂN LOẠI CHI PHÍ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

Trong qúa trình điều hành và quản lý hoạt động của doanh nghiệp, các nhà

quản trị luôn luôn cần các thông tin về hoạt động sản xuất và kinh doanh của doanh

nghiệp. Đứng trên quan điểm kế tốn, các thơng tin mà các nhà quản lý cần đa số

thường có liên quan đến các chi phí của doanh nghiệp. Trong kế tốn quản trị chi

phí được phân loại theo nhiều tiêu thức tùy theo mục đích sử dụng của nhà quản lý.

Việc phân loại trong doanh nghiệp sản xuất có ý nghĩa lớn trong công tác quản lý

doanh nghiệp, giúp nhà quản lý tìm ra biện pháp quản lý thích ứng với từng loại chi

phí để hạ thấp giá thành sản phẩm. Có thể phân loại chi phí theo các loại sau:

1.2.1 Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động

Mục đích của việc phân loại chi phí theo chức năng hoạt động trong kế toán

quản trị là xác định rõ vai trò, chức năng hoạt động của chi phí trong q trình hoạt

động sản xuất kinh doanh ở các doanh nghiệp và cung cấp thơng tin có hệ thống cho

việc lập các báo cáo tài chính. Và để trợ giúp các nhà quản lý trong việc vạch kế

hoạch và kiểm soát chi phí, các nhân viên kế tốn quản trị phân loại chi phí theo lĩnh

vực chức năng của tổ chức. Theo đó, chi phí có thể được phân loại thành chi phí sản

xuất (manufacturing costs) và chi phí ngồi sản xuất (non-manufacturing costs).

+ Chi phí sản xuất

- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: bao gồm các loại nguyên liệu, vật liệu sử

dụng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm, như:

* Chi phí nguyên vật liệu chính bao gồm: da action, da burnish, đế giày,…

* Chi phí nguyên vật liệu phụ: vải, chỉ, xi đánh bóng,…

* Các loại nhiên liệu như: than, điện, dầu,…



7

- Chi phí nhân cơng trực tiếp là tiền lương, phụ cấp lương và các khoản trích

theo lương của cơng nhân trực tiếp sản xuất.

- Chi phí sản xuất chung: là những chi phí cần thiết khác để sản xuất sản phẩm

ngồi 2 loại chi phí trên. Chi phí sản xuất chung chủ yếu bao gồm 3 loại chi phí là

chi phí NVL gián tiếp, chi phí lao động gián tiếp và các chi phí khác.

+ Chi phí ngồi sản xuất

Để tổ chức và thực hiện việc tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp còn phải thực

hiện một số khoản chi phí ở khâu ngồi sản xuất được gọi là chi phí ngồi sản xuất.

- Chi phí bán hàng và tiếp thị bao gồm toàn bộ những chi phí cần thiết để đẩy

mạnh q trình lưu thơng hàng hóa và đảm bảo việc đưa hàng hóa đến tay người

tiêu dùng.

- Chi phí quản lý doanh nghiệp gồm những khoản chi phí liên quan tới việc

tổ chức hành chính và các hoạt động văn phòng làm việc của doanh nghiệp.

1.2.2 Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí

Cách “ứng xử” của chi phí là thuật ngữ để biểu thị sự thay đổi của chi phí

tương ứng với các mức độ hoạt động đạt được. Mục đích của cách phân loại chi phí

này trong kế tốn quản trị là cung cấp thông tin phục vụ cho việc lập kế hoạch, kiểm

tra và chủ động điều tiết chi phí cho phù hợp. Nghĩa là, căn cứ vào các thơng tin do

kế tốn quản trị cung cấp, các nhà quản trị sẽ thấy được sự biến động của chi phí có

phù hợp với sự biến động của mức độ hoạt động và từ đó có các biện pháp hữu hiệu

nhằm quản lý tốt các chi phí.

+ Biến phí

Biến phí (chi phí biến đổi): Là tập hợp loại chi phí mà lượng tiêu hao của chúng tỷ

lệ thuận với sự biến đổi sản lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ sản xuất, mua vào

hoặc bán ra trong kì như: chi phí ngun vật liệu, chi phí nhân cơng, chi phí sản

xuất chung. Chi phí khả biến khơng thay đổi khi tính cho một đơn vị sản phẩm,

cơng việc.

Trong q trình sản xuất, có nhiều loại chi phí khác nhau, để xác định xem

đó có phải là chi phí biến đổi hay khơng chúng ta phải dựa vào tính chất về lượng



8

tiêu hao của nó, bởi vì biến phí được cấu thành từ hai yếu tố cơ bản là lượng tiêu

hao và mức giá đầu vào. Về mặt giá trị thì biến phí có thể khơng hồn tồn tỷ lệ

thuận với sự biến đổi của sản lượng một mặt hàng nào đó. Chẳng hạn, bộ phận sản

xuất tăng sản lượng sản phẩm thì mức tiêu hao nguyên, vật liệu sẽ tăng tỷ lệ thuận

với sản lượng, nhưng do khối lượng nguyên, vật liệu mua vào nhiều nên giá mua

của nguyên, vật liệu có thể giảm xuống do được hưởng chiết khấu, giảm giá. vì vậy,

chi phí ngun vật liệu trực tiếp có thể khơng tăng tỷ lệ thuận với sản lượng sản

phẩm sản xuất.

Khi tính tốn mức hao phí của biến phí cho 1 đơn vị sản lượng thì nó có tính

chất ổn định, vì vậy, biến phí là loại chi phí có thể xây dựng được định mức tiêu hao

cho từng đơn vị sản lượng của mặt hàng kinh doanh.

+ Định phí

Định phí (chi phí cố định): Là tập hợp các loại chi phí mà mức tiêu hao của

chúng khơng phụ thuộc sản lượng sản phẩm, hàng hố, dịch vụ sản xuất hoặc bán ra

trong kỳ. Bao gồm : chi phí tài sản cố định, cơng cụ dụng cụ, chi phí tạo mơi trường

làm việc (điện thắp sáng, chạy các thiết bị vệ sinh cơng nghiệp...), chi phí cho nhân

viên phân xưởng, chi phí hành chính của phân xưởng, lãi vay…

Định phí là những khoản chi phí khơng biến đổi khi mức độ hoạt động thay

đổi. Định phí chỉ giữ nguyên trong phạm vi phù hợp của doanh nghiệp. Phạm vi phù

hợp là phạm vi giữa khối lượng sản phẩm tối thiểu và khối lượng sản phẩm tối đa

mà doanh nghiệp dự định sản xuất.

Khi phân định một yếu tố chi tiêu cho sản xuất là định phí hay biến phí còn

phụ thuộc cách thức tính tốn khoản chi tiêu đó. Chẳng hạn, khi doanh nghiệp trả

lương cho người lao động theo thời gian làm việc thì chi phí nhân cơng là định phí,

nhưng khi doanh nghiệp trả lương cho người lao động theo sản phẩm trực tiếp hoặc

gián tiếp thì nó trở thành biến phí.

+ Chi phí hỗn hợp

Chi phí hỗn hợp là những chi phí mà cấu thành nên nó bao gồm cả yếu tố chi

phí khả biến và chi phí bất biến. Ở một mức độ hoạt động cụ thể nào đó, chi phí hỗn



9

hợp mang đặc điểm của chi phí bất biến và khi mức độ hoạt động tăng lên, chi phí

hỗn hợp sẽ biến đổi như đặc điểm của chi phí khả biến. Trong các doanh nghiệp sản

xuất, chi phí hỗn hợp cũng chiếm một tỉ lệ khá cao trong các loại chi phí như: chi

phí điện thoại, chi phí bảo trì MMTB, chi phí về cơng cụ,dụng cụ dùng để sản xuất

tạo ra sản phẩm.

Ví dụ: chi phí về cơng cụ, dụng cụ để sản xuất tạo ra sản phẩm

- Là biến phí: Nếu một khn mẫu đúc sử dụng có định lượng số sản phẩm

sản xuất, vượt quá số sản phẩm này phải thay khn.

- Là định phí: Nếu căn cứ vào thời gian sử dụng của mộtkhuôn mẫu, khuôn

để thay mà không quan tâm đến lượng sản phẩm sản xuất của một khuôn mẫu.

Nhằm phục vụ việc lập kế hoạch, phân tích và quản lý chi phí, cần phải phân

tích các chi phí hỗn hợp thành yếu tố khả biến và yếu tố bất biến. Việc phân tích này

được thực hiện bằng một trong ba phương pháp: phương pháp cực đại, cực tiểu,

phương pháp đồ thị phân tán và phương pháp bình phương bé nhất.

Áp dụng kế tốn quản trị dựa trên cơ sở của phương pháp phân loại chi phí

theo cách ứng xử của chi phí đối với kết quả tiêu thụ có thể sử dụng trong việc xác

định giá của sản phẩm, để lập kế hoạch sản xuất và để tính tốn đánh giá kết quả mức

độ đóng góp của từng sản phẩm trong toàn bộ kết quả chung của doanh nghiệp.

1.2.3 Phân loại chi phí theo nội dung kinh tế

- Chi phí NVL: Bao gồm giá trị của nguyên vật liệu, nhiên liệu, phụ tùng

thay thế, công cụ dụng cụ xuất dùng cho sản xuất trong kỳ báo cáo trừ nguyên vật

liệu xuất bán hoặc xuất cho xây dựng cơ bản,…

- Chi phí CCDC sản xuất là tồn bộ các công cụ dụng cụ chỉ phục vụ cho quá

trình sản xuất như quần áo bảo hộ lao động cho cơng nhân, búa…

- Chi phí nhiên liệu bao gồm nhiên liệu phục vụ cho máy móc thiết bị vận hành

- Chi phí nhân cơng Bao gồm tồn bộ chi phí phải trả cho người lao động về

tiền lương, tiền cơng, phụ cấp có tính chất lương và các khoản trích theo lương

trong kỳ báo cáo.

- Chi phí khấu hao TSCĐ Là tồn bộ các khoản trích khấu hao tài sản cố



10

định của DN dùng trong sản xuất kinh doanh kỳ báo cáo.

- Chi phí dịch vụ mua ngồi Gồm các khoản chi phí phải trả cho cơng ty điện

lực, điện thoại, nước, vệ sinh và các dịch vụ khác

- Chi phí bằng tiền khác Bao gồm các chi phí sản xuất kinh doanh khác, chưa

được phản ánh trong các chi tiêu trên đã chi bằng tiền trong kỳ báo cáo như tiếp

khách, lệ phí, hội nghị, thuê quảng cáo

Cách phân loại này chủ yếu phục vụ cho việc xây dựng dự tốn chi phí cho

từng đơn đặt hàng nhằm góp phần kiểm sốt chi phí.

1.2.4 Phân loại chi phí sử dụng cho mục đích kiểm tra và ra quyết định

Nhằm mục đích phục vụ cho việc kiểm tra và ra quyết định trong quản lý, chi

phí của doanh nghiệp phải được xem xét ở nhiều khía cạnh khác. Nổi bật nhất là

việc xem xét trách nhiệm của các cấp quản lý đối với các loại chi phí phát sinh,

thêm nữa, các nhà quản lý nên nhìn nhận đúng đắn sự thích đáng của các loại chi

phí khác nhau phục vụ cho việc phân tích, so sánh để ra quyết định lựa chọn

phương án tối ưu trong các tình huống.

+ Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp

- Chi phí trực tiếp đối với một đối tượng chịu chi phí là loại chi phí liên

quan trực tiếp đến đối tượng chịu chi phí và có thể tính trực tiếp cho đối tượng đó

một cách hiệu quả ít tốn kém.[7,Tr63]

- Chi phí gián tiếp là những chi phí sản xuất có liên quan đến việc phục vụ

và quản lí sản xuất - kinh doanh như chi phí phân xưởng, chi phí quản lí doanh

nghiệp. chi phí gián tiếp được tính vào giá thành sản phẩm theo phương pháp phân

bổ gián tiếp (phân bổ theo tỉ lệ với tiền lương của cơng nhân sản xuất chính hoặc

với chi phí trực tiếp). Chi phí gián tiếp càng chiếm tỉ lệ thấp thì hiệu quả kinh tế

càng tăng cao

+ Chi phí kiểm sốt được và chi phí khơng kiểm sốt được

Đây là một phương pháp phân loại chi phí có thể hữu ích trong việc kiểm

sốt chi phí. Phương pháp phân loại này dựa trên khả năng kiểm sốt chi phí đối với

các nhà quản lý. Nếu một nhà quản lý có thể kiểm sốt hoặc quyết định về một loại



11

chi phí, thì chi phí ấy được gọi là chi phí kiểm sốt được bởi nhà quản lý đó. Ngược

lại, chi phí mà nhà quản lý khơng có khả năng kiểm sốt hoặc gây ảnh hướng lớn

lên nó thì được phân loại là chi phí khơng kiểm sốt được đối với nhà quản lý đó.

Chẳng hạn, người quản lý bán hàng có trách nhiệm trong việc tuyển dụng

cũng như quyết định cách thức trả lương cho nhân viên bán hàng, do vậy, chi phí

tiền lương trả cho bộ phận nhân viên này là chi phí kiểm sốt được đối với bộ phận

bán hàng đó. Tương tự như vậy là các khoản tiếp khách, chi phí hoa hồng bán hàng.

Tuy nhiên, chi phí khấu hao các phương tiện kho hàng, một khoản chi phí cũng phát

sinh ở bộ phận bán hàng thì lại là chi phí khơng kiểm sốt được đối với người quản

lý bán hàng vì quyền quyết định xây dựng kho hàng cũng như quyết định cách thức

khấu hao của nó thuộc bộ phận quản lý doanh nghiệp.[7,Tr62]

+ Chi phí chênh lệch

Để có quyết định đúng đắn khi ra quyết định nhà quản lý thường phải so

sánh nhiều phương án khác nhau.Tất nhiên, sẽ phát sinh các chi phí gắn liền với

phương án đó. Các nhà quản lý thường so sánh các chi phí phát sinh trong các

phương án khác nhau để đi đến quyết định là chọn nhiều hay chọn một phương án.

Có những khoản chi phí hiện diện trong phương án này nhưng lại không hiện

diện hoặc chỉ hiện diện một phần trong phương án khác. Những chi phí này được

gọi là chi phí chênh lệch. Người quản lý đưa ra các quyết định lựa chọn các phương

án trên cơ sở phân tích bộ phận chi phí chênh lệch này nên chi phí chênh lệch là

dạng thơng tin thích hợp cho việc ra quyết định.

+ Chi phí cơ hội

Trong hoạt động kinh doanh, bất kỳ một khoản mục chi phí nào phát sinh

đều được phản ánh và theo dõi trên các sổ sách kế tốn. Tuy nhiên, có một loại chi

phí hồn tồn khơng được phản ánh trên sổ sách kế toán nhưng lại rất quan trọng,

cần được xem xét đến mỗi khi nhà quản lý lựa chọn các phương án kinh doanh, đầu

tư. Đó là chi phí cơ hội. Chi phí cơ hội được định nghĩa là lợi ích (lợi nhuận) tiềm

tàng bị mất đi khi chọn một phương án này thay vì chọn phương án khác.



12

+ Chi phí chìm

Chi phí chìm là những chi phí đã phát sinh do quyết định trong quá khứ.

Doanh nghiệp phải chịu chi phí này cho dù bất kỳ phương án nào được chọn. Vì

vậy, trong việc lựa chọn các phương án khác nhau, chi phí này khơng được đưa vào

xem xét, nó khơng thích hợp cho việc ra quyết định trong doanh nghiệp

1.3 NỘI DUNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG CÁC DOANH

NGHIỆP SẢN XUẤT

1.3.1 Lập dự tốn chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong các doanh

nghiệp sản xuất

1.3.1.1 Lập dự tốn chi phí sản xuất

Lập dự tốn chi phí là căn cứ để đánh giá tình hình thực hiện các chỉ tiêu đã

dự kiến, tìm ra những nguyên nhân, nhân tố ảnh hưởng đến tình hình thực hiện các

chỉ tiêu đó trên cơ sở đó có biện pháp nâng cao hiệu quả SXKD trong thời kỳ tiếp

theo. Và cũng là căn cứ để các nhà quản lý doanh nghiệp khai thác các khả năng

tiềm tàng, khă năng cạnh tranh nhằm phát huy nội lực.

Dự tốn chi phí sản xuất là dự tốn số chi phí cần cho q trình sản xuất của tồn

doanh nghiệp hoặc 1 bộ phận. Gồm:

- Dự tốn chi phí ngun vật liệu trực tiếp: phản ánh tất cả chi phí NVL trực

tiếp cần thiết để đáp ứng yêu cầu sản xuất đã được thực hiện trên dự toán khối

lượng sản phẩm sản xuất.

Để lập dự toán cần xác định:

+ Định mức tiêu hao nguyên vật liệu để sản xuất một sản phẩm

+ Đơn giá xuất

nguyên vật liệu

+ Mức độ dự trữ nguyên vật liệu trực tiếp vào cuối kỳ dự toán.

Dự toán chi phí NVL

trực tiếp



=



Dự tốn lượng NVL

sử dụng



*



Đơn giá xuất

NVL



13

Trong đó:

Dự toán NVL sử

dụng



=



Định mức tiêu hao

NVL



*



Số lượng sản phẩm SX

theo dự tốn



- Dự tốn chi phí nhân cơng trực tiếp

Dự tốn này cung cấp những thơng tin quan trọng liên quan đến quy mô của

lực lượng lao động cần thiết cho kỳ kế toán. Mục tiêu cơ bản của kỳ kế tốn này là

duy trì lực lượng lao động vừa đủ để đáp ứng yêu cần sản xuất , tránh tình trạng

lãng phí hoặc bị động trong sử dụng lao động. Dự tốn lao động còn là cơ sở để

doanh nghiệp lập dự toán về đào tạo, tuyển dụng trong q trình hoạt động sản xuất.

- Dự tốn chi phí sản xuất chung: bao gồm cả chi phí biến đổi và chi phí cố định

+ Dự tốn biến phí sản xuất chung

+ Dự tốn định phí sản xuất chung

Dự tốn chi phí SXC = Dự tốn biến phí

SXC



+ Dự tốn định phí

SXC



Trong đó:

Dự tốn biến phí SXC = Dự tốn biến phí * Sản lượng sản xuất

SXC đơn vị

Dự tốn định phí SXC = Định phí SXC



theo dự tốn

* Tỷ lệ tăng (giảm) định



thực tế kỳ trước



phí SXC theo dự kiến



1.3.1.2 Lập dự toán giá thành sản phẩm

Dự toán chi phí sản xuất của doanh nghiệp là dự tính tồn bộ các khoản chi phí



mà doanh nghiệp phải chi ra cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình trong

một thời kỳ nhất định có thể nói dự tốn chi phí sản xuất là bản dự tính tồn bộ chi

tiêu của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định nên cần thiết phải có lập dự tốn

giá thành sản phẩm để góp phần kiểm sốt tốt chi phí sản xuất từ đó có thể xây

dựng giá thành sản phẩm tối ưu nhất.

Có nhiều phương pháp để lập dự tốn giá thành sản phẩm nhưng luận văn chỉ

trình bày 2 phương pháp sau:

* Lập dự tốn theo phương pháp tồn bộ



14

Dựa trên tồn bộ các chi phí liên quan đến khối lượng sản phẩm hoàn thành

trong kỳ, cụ thể là chi phí NVL trực tiếp, chi phí nhân cơng trực tiếp và chi phí SXC

để tính giá thành. Trên phương diện kế toán quản trị phương pháp này được xem là

cách tính đầy đủ các chi phí sản xuất làm cơ sở định giá bán sản phẩm, đánh giá

hiệu quả nội bộ, kiểm sốt chi phí theo từng trung tâm chi phí và ra quyết định.

Nhưng phương pháp này khơng đáp ứng nhu cầu thơng tin về chi phí của đơn vị khi

các tình huống quy mơ sản xuất, quy trình cơng nghệ, chất lượng dịch vụ, sản phẩm

khác nhau; có sự cạnh tranh về giá trong việc tìm kiếm thị trường dẫn đến chi phí

đơn vị kết quả từng mặt hàng sẽ khơng chính xác.

Theo phương pháp này, giá thành sản phẩm được tính theo cơng thức:

Giá thành sản phẩm =

hồn thành



chi phí



+ chi phí



NVLTT



NCTT



+



chi phí

SXC



Với quy mơ sản xuất của mỗi doanh nghiệp khác nhau thì việc lập kế hoạch

đáp ứng nhu cầu thơng tin về chi phí đơn vị cũng khác nhau

* Lập dự toán theo phương pháp trực tiếp

Khác với phương pháp lập dự toán theo phương pháp tồn bộ, phương pháp này

chi phí sản xuất chung chỉ liên quan đến chi phí biến đổi. Phần chi phí sản xuất chung

cố định khơng được tính vào giá thành sản phẩm hồn thành. Vì định phí sản xuất

chung là chi phí thời kỳ, nghĩa là doanh nghiệp ln phát sinh chi phí này để duy trì và

điều hành hoạt động sản xuất cho dù có sự tăng giảm sản lượng trong kỳ trong giới hạn

quy mô nhà xưởng. Định phí sản xuất chung gần như ít thay đổi qua các năm, trước khi

có sự thay đổi quy mơ đầu tư nên sẽ bất hợp lý khi tính chi phí sản xuất chung cố định

cho sản phẩm hồn thành, vì định phí này khơng gắn với hoạt động sản xuất như các

chi phí biến đổi khác. Do vậy, cơng thức tính dự tốn như sau:

Giá thành sản phẩm =

hồn thành



Chi phí

NVLTT



+



Chi phí

NCTT



+



Biến phí

SXC



Trường hợp khơng thể phân loại ngay thành biến phí và định phí thì chi phí

này sẽ được theo dõi riêng, đến cuối kỳ sẽ phân tích thành biến phí và định phí. Kế



15

tốn sẽ tổng hợp tồn bộ biến phí sản xuất để tính giá thành sản phẩm. Lúc này, giá

thành đơn vị được xác định:

Giá thành đơn vị



Tổng biến phí sản xuất

=



Sản phẩm



Sản lượng sản phẩm hoàn thành trong kỳ



Phương pháp trực tiếp đã loại trừ được hạn chế của phương pháp toàn bộ

trong việc phân bổ các chi phí chung cho đơn vị sản phẩm, phương pháp này được

sử dụng nhiều trong KTQT như: định giá sản phẩm, lập dự toán linh hoạt, lập báo

cáo thu nhập theo số dư đảm phí, ứng dụng trong phân tích mối quan hệ chi phí,

khối lượng và lợi nhuận, xác định sản lượng hòa vốn...Phương pháp tính giá thành

theo phương pháp trực tiếp được sử dụng rộng rãi trong các DN sản xuất.

1.3.2 Tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

1.3.2.1 Tập hợp chi phí sản xuất

Là phạm vi được xác định trước để tập hợp chi phí. Xác định đối tượng tập

hợp chi phí thực chất là xác định giới hạn các bộ phận chịu chi phí hoặc các đối

tượng chịu chi phí làm cơ sở cho việc tính giá thành.

Xác định đối tượng tập hợp chi phí là khâu rất quan trọng trong tồn bộ tổ

chức cơng tác KTQT chi phí và tính giá thành sản phẩm, dịch vụ. Khi xác định đối

tượng tập hợp chi phí, kế tốn phải dựa trên các yếu tố sau:

- Phân cấp quản lý và yêu cầu quản lý đối với các bộ phận của tổ chức

- Quy trình cung cấp dịch vụ trong doanh nghiệp

- Đơn vị tính giá thành áp dụng trong doanh nghiệp

1.3.2.2 Tính giá thành trong doanh nghiệp sản xuất

Giá thành sản phẩm là một phạm trù của sản xuất hàng hóa, phản ánh lượng

giá trị của lao động sống và lao động vật hóa đã thực sự chi ra cho sản xuất và tiêu

thụ sản phẩm trong giá thành sản phẩm.

Một hệ thống tính giá thành rất chi tiết và cụ thể có thể cung cấp nhiều thơng

tin cho nhà quản trị, nhưng lại mất nhiều thời gian và tiền bạc, nhất là các chi phí về

đào tạo. Do vậy, hệ thống tính giá thành phức tạp chỉ vận dụng khi các nhà quản trị



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x