Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 1.3: Hệ thống thông tin trong chuỗi cung ứng

Hình 1.3: Hệ thống thông tin trong chuỗi cung ứng

Tải bản đầy đủ - 0trang

-29Dữ liệu từ đội ngũ nhân viên của doanh nghiệp cũng là một nguồn dữ

liệu quan trọng. Loại dữ liệu này khơng có nhiều trong hồ sơ của doanh

nghiệp, trong máy tính hay thư viện.... Đội ngũ nhân viên của doanh nghiệp

như là nhà quản trị, người lập kế hoạch và người cố vấn nội bộ, họ như các

chuyên gia hoạt động ở gần nguồn dữ liệu và bản thân họ cũng trở thành

nguồn dữ liệu tốt. Loại dữ liệu này giúp dự đoán lượng bán trong tương lai,

những hành động cạnh tranh và khả năng sẵn có của nguyên vật liệu…

+ Quản trị cơ sở dữ liệu: Việc biến đổi dữ liệu thành thơng tin và trình

bày lại ở dạng có ích cho việc ra quyết định và liên hệ thông tin với các

phương thức hỗ trợ việc ra quyết định thường được gọi là phần trung tâm của

một hệ thống thông tin. Quản trị cơ sở dữ liệu liên quan đến việc lựa chọn dữ

liệu lưu trữ và truy cập, lựa chọn những phương pháp phân tích để tổng hợp

và lựa chọn thực hiện chu trình xử lý dữ liệu cơ bản nào.

Vấn đề quan tâm đầu tiên trong việc thiết kế cơ sở dữ liệu sau khi xác

định nội dung cơ sở dữ liệu là quyết định dữ liệu nào được lưu trữ thành các

bản cứng trong máy tính để truy cập nhanh và những dữ liệu nào không nên

lưu trữ ở bất kỳ cơ sở thông thường nào. Việc lưu trữ dữ liệu có thể rất tốn

kém nên việc quyết định lưu trữ dưới bất kỳ dạng nào cần căn cứ vào:

- Tầm quan trọng của thông tin đối với việc ra quyết định trong doanh

nghiệp.

- Tốc độ thơng tin cần truy cập nhanh chóng.

- Tần suất truy cập.

- Những cố gắng cần để xử lý thông tin thành dạng cần dùng.

Những thông tin cần cho việc hoạch định chiến lược không yêu cầu sẵn

sàng hay truy cập thường xuyên. Ngược lại, những thông tin cần cho hoạch

định hoạt động tác nghiệp, yêu cầu phải sẵn sàng và truy cập thường xuyên

như một thư ký vận tải xem lại cước phí vận chuyển trong bộ nhớ máy tính



-30hoặc người đại diện theo dịch vụ của khách hàng kiểm tra tình trạng của đơn

hàng thơng qua hệ thống đánh dấu và theo dõi của công ty sẽ thông qua

những lưu trữ cơ sở dữ liệu này và khả năng truy cập của hệ thống thông tin.

Xử lý những dữ liệu là một trong những yếu tố lâu đời và phổ biến nhất

của một hệ thống thông tin. Khi máy tính lần đầu tiên được giới thiệu trong

lĩnh vực kinh doanh thì mục đích của nó là giảm thiểu thời gian tính tốn hóa

đơn cho hàng nghìn khách hàng và chuẩn bị các bản ghi kế toán. Bây giờ việc

chuẩn bị đơn hàng, vận đơn và hóa đơn vận chuyển là những hoạt động xử lý

dữ liệu phổ biến để giúp đỡ nhà quản trị chuỗi cung ứng hoạch định và kiểm

sốt dòng chảy ngun vật liệu. Các hoạt động xử lý dữ liệu là việc chuyển

đổi một cách đơn giản và dễ hiểu những dữ liệu trong các tập tin thành một số

dạng thơng dụng hơn.

Phân tích dữ liệu là một ứng dụng tiên tiến và hiện đại nhất của hệ

thống thơng tin. Hệ thống có thể chứa đựng các mơ hình tốn học, thống kê

phổ biến và đặc thù đối với việc giải quyết các vấn đề trong chuỗi cung ứng

của doanh nghiệp. Những mơ hình này chuyển đổi thông tin thành các giải

pháp hỗ trợ cho việc ra quyết định.

+ Đầu ra: Yếu tố cuối cùng của hệ thống thơng tin là đầu ra. Đó là

phương thức giao tiếp với người sử dụng trong hệ thống. Đầu ra thường gồm

một số dạng và được chuyển đổi thành một số mẫu. Thứ nhất, đầu ra rõ ràng

nhất là một số mẫu báo cáo như: Báo cáo tóm lược về chi phí hoặc dữ liệu

thống kê hoạt động, báo cáo về tình trạng dự trữ hàng hóa hoặc xúc tiến bán

hàng, báo cáo bên ngoài đánh giá hoạt động kế hoạch với hoạt động thực tế và

báo cáo (đơn hàng mua hoặc đơn hàng sản xuất) hướng dẫn các hoạt động.

Thứ hai, đầu ra có thể có dạng các tài liệu in sẵn như hóa đơn vận chuyển và

xếp dỡ hàng hóa. Cuối cùng, đầu ra có thể là các kết quả phân tích dữ liệu từ

các mơ hình tốn học và thống kê.



-31Đầu vào, khả năng quản trị cơ sở dữ liệu và đầu ra là các nhân tố chủ

yếu của hệ thống thơng tin. Ngồi việc tăng khả năng xử lý dữ liệu, mục tiêu

cơ bản của hệ thống là cung cấp các công cụ hỗ trợ ra quyết định trong công

tác lập kế hoạch và điều hành chuỗi cung ứng.

1.3.3. Hoạt động kho bãi

 Khái niệm: Kho bãi là một bộ phận của hệ thống quản trị chuỗi

cung ứng, là nơi cất giữ nguyên, nhiên, vật liệu, bán thành phẩm, thành

phẩm… trong suốt quá trình chu chuyển từ điểm đầu đến điểm cuối của dây

chuyền cung ứng hàng hoá. Đồng thời cung cấp các thơng tin về tình trạng,

điều kiện lưu giữ và vị trí của các hàng hố được lưu kho.

 Vai trò của kho bãi: Kho bãi là một bộ phận không thể thiếu trong

chuỗi cung ứng hàng hoá. Là nơi cất giữ, bảo quản, trung chuyển hàng hố,

kho bãi có những vai trò quan trọng sau:

 Nâng cao tính chủ động trong sản xuất kinh doanh.

 Tiết kiệm được chi phí vận tải: nhờ có kho, có thể mua hàng với số

lượng lớn, giảm được chi phí vận tải.

 Tiết kiệm chi phí trong sản xuất kinh doanh.

 Có thể được giảm giá do mua được nhiều hàng trong một đơn hàng.

 Đảm bảo nguồn cung hàng hóa ổn định.

 Có thể tránh được những tác động tiêu cực như tính thời vụ, thời

tiết, rủi ro, nhu cầu, …

 Các hoạt động của kho bãi: các hoạt động cơ bản của kho bãi được

chia thành 2 loại hoạt động di chyển và hoạt động lưu trữ. Lưu trữ có thể nói

là hoạt động thường xuyên nhất, trong khi di chuyển có vẻ không hợp lý lắm.

Tuy nhiên các di chuyển khoảng cách ngắn là vần đề sống còn của kho bãi.



-32 Hoạt động di chuyển: chức năng di chuyển là đặc điểm quan trọng

của nhà phân phối và kho bãi trung chuyển đối với hàng hóa thành phẩm.

Hàng hóa qua các kho hàng phân phối hoặc các kho bãi trung chuyển được di

chuyển qua kho bãi một cách nhanh chóng, do vậy tạo ra vòng quay tồn kho

nhanh. Vì vậy, di chuyển hàng hóa nhanh chóng và hiệu quả trong kho bãi

phân phối và kho bãi trung chuyển là nhiệm vụ bắt buộc. Việc di chuyển sản

phẩm bao gồm bồn hoạt động: Nhận hàng - nhận hàng hóa vào kho từ mạng

lưới các phương tiện vận tải; sắp xếp - chuyển hàng hóa vào vị trí cụ thể trong

kho bãi; lấy hàng theo đơn hàng - lựa chọn các kết hợp hàng hóa theo đơn đặt

hàng của khách hàng hoặc nguyên vật liệu phục vụ sản xuất; và giao hàng –

chất hàng lên phương tiện để giao đến khách hàng hoặc đến dây chuyền sản

xuất. Tất cả bốn hoạt động trên đều liên quan đến những di chuyển khoảng

cách ngắn.

 Hoạt động lưu kho: trong các kho bãi trung chuyển, chức năng lưu

kho là rất ngắn hạn và tạm thời. Thật vậy, nhiều mặt hàng sẽ "quay" trong

vòng 24h hoặc ít hơn. Lưu kho dài hạn (hơn 90 ngày) thường đối với ngun

vật liệu hoặc hàng hóa thành phẩm, vì chúng có giá trị thấp hơn, ít rủi ro hơn,

đòi hỏi các cơ sở lưu kho ít tiên tiến hơn và có thể liên quan đến các khoản

chiết khấu số lượng khi mua hàng. Hàng hóa thành phẩm cũng có thể lưu trữ

dài hạn vì nhu cầu bất thường, nhu cầu theo mùa vụ.

 Các quyết định cơ bản về kho bãi: các quyết định kho bãi được

thực hiện theo logic phân tích được mất. Tổng chi phí, bao gồm cả dịch vụ tác

động đến được mất doanh thu, là một tiêu chuẩn được sử dụng đề ra các quyết

định. Chẳng hạn, có nhiều kho hàng nhằm tăng mức phục vụ cung ứng cho

khách hàng vì sản phẩm được đưa đến gần khách hàng hơn. Tuy nhiên, đánh

đổi lại là chi phí kho bãi, chi phí tồn kho và có thể là cả chi phí vận tải điều



-33cao hơn. Tổng chi phí sẽ là yếu tố quyết định. Có 4 quyết định cơ về kho bãi,

đó là:

 Quyết định về quyền sở hữu kho bãi: sở hữu tư nhân (hoặc thuê)

hoặc sở hữu kho bãi chung. Việc lựa chọn giữa 2 quyết định kho bãi này là

một quyết định quan trọng ảnh hưởng đến cả bảng tổng kết tài sản (đầu tư)

báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (chi phí kho bãi). Nếu công ty sử dụng

kho bãi chung, vấn đề quy mơ sẽ ít quan trọng hơn vì đối với kho bãi chung,

cơng ty có thể điều chỉnh quy mô lớn hoặc nhỏ hơn phù hợp với nhu cầu của

công ty ở các thời điểm khác nhau. Đối với những công ty sử dụng kho bãi

riêng, quyết định về quy mơ quan trọng hơn vì quy mơ này một khi được thiết

kế và xây dựng là cố định và khơng thể thay đổi mà khơng mất chi phí.

 Quyết định về số lượng kho bãi: quyết định này chủ yếu liên quan

đến việc sẽ bố trí bao nhiêu kho hàng trong chuỗi cung ứng. Các công ty cỡ

trung và nhỏ với thị trường mang tính khu vực thường sẽ chỉ cần một kho

hàng, trong khi các công ty lớn với thị trường toàn quốc hoặc quốc tế cần phải

xem xét vấn đề này chi tiết hơn. Số lượng kho bãi cần phải được xem xét

cùng với các lựa chọn về vận tải.

 Quyết định về bố trí kho bãi: cùng với vấn đề về số lượng kho bãi

phải bố trí trong mạng lưới là vấn đề về việc bố trí ở đâu. Cơng ty phải xem

xét vấn đề được mất của việc bố trí. Bằng việc phân tích chức năng của kho

bãi, các vị trí cơ bản có thể được xác định, như gần thị trường đối với hàng

hóa, dịch vụ cao và gần nhà cung cấp đối với các nguyên vật liệu. Công ty

phải đạt được mức độ dịch vụ khách hàng mong muốn với chi phí hậu cần

thấp nhất có thể.

 Quyết định sản phẩm tồn kho: các quyết định tồn kho được đặt ra

liên quan đến việc những sản phẩm nào sẽ tồn kho trong khoảng thời gian nào

trong kho bãi nào. Những quyết định tồn kho này quan trọng chỉ đối với



-34những cơng ty có nhiều kho bãi. Các công ty phải quyết định nên lưu kho tất

cả các mặt hàng ở tất cả các kho hay mỗi kho sẽ chuyên lưu trữ một vài loại

hàng đặc biệt, hoặc có nên liên kết hợp kho bãi vừa tồn kho chuyên biệt, vừa

tồn kho chung.

Tóm lại, các quyết định kho bãi là quan trọng và đòi hỏi phải quan tâm

rất nhiều. Việc cải thiện tính hiệu quả và tính năng suất là mối quan tâm lớn

của khâu quản lý trong các hoạt động kho bãi. Hơn nữa, các quyết định kho

bãi tương tác rất chặt chẽ với các vấn đề về hệ thống chuỗi cung ứng khác.

1.3.4. Hoạt động dự trữ

 Khái niệm dự trữ: Hàng dự trữ thường chiếm tỷ trọng lớn trong

tài sản của doanh nghiệp (thông thường từ 40% đến 50%). Do vậy, việc

quản lý, kiểm sốt tốt hàng dự trữ có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, nó góp

phần đảm bảo cho quá trình sản xuất tiến hành liên tục, nhịp nhàng, đồng thời

đạt hiệu quả cao.

Hoạt động dự trữ là một nội dung quan trọng của quản trị chuỗi cung

ứng. Bản thân vấn đề quản trị dự trữ chứa đựng hai mặt đối lập nhau. Nếu dự

trữ nguyên vật liệu, sản phẩm, hàng hố,… khơng đủ về số lượng, chủng loại

hoặc khơng đạt u cầu về chất lượng, thì hoạt động kinh doanh, hoạt động

quản trị chuỗi cung ứng không thể diễn ra nhịp nhàng và tất nhiên là không

hiệu quả được; còn ngược lại, nếu dự trữ quá nhiều, sẽ dẫn đến hiện tượng

hàng hố bị ứ đọng, vòng quay của vốn chậm, chi phí cho hoạt động kinh

doanh, hoạt động quản trị chuỗi cung ứng tăng và làm cho hoạt động khơng

hiệu quả.

Vậy, có thể nói sự tích luỹ, ngưng đọng nguyên vật liệu, sản phẩm,

hàng hoá ở các giai đoạn vận động của quá trình quản trị chuỗi cung ứng

được gọi là dự trữ.



-35Hàng dự trữ bao gồm nguyên vật liệu, bán thành phẩm, dụng cụ, phụ

tùng, thành phẩm dự trữ,…Tuỳ theo các loại hình doanh nghiệp mà các dạng

hàng dự trữ và nội dung hoạch định, kiểm sốt hàng dự trữ cũng khác nhau.

Đối với các cơng ty hoạt động trong lĩnh vực thương mại, doanh nghiệp mua

bán kiếm lời, hàng dự trữ của họ chủ yếu là mua hàng về và chuẩn bị chuyển

đến tay người tiêu dùng. Trong lĩnh vực này, doanh ngiệp hầu như khơng có

dự trữ là bán thành phẩm trên dây chuyền như trong lĩnh vực sản xuất.

 Nguyên nhân của việc hình thành dự trữ:

- Do sự phân cơng lao động xã hội, chun mơn hố sản xuất.

- Do sản xuất, vận tải…phải đạt đến một quy mơ nhất định thì mới

mang lại hiệu quả.

- Để cân bằng cung - cầu đối với những mặt hàng có tính thời vụ.

- Để đề phòng rủi ro.

- Là phương tiện để phục vụ nhu cầu của khách hàng một cách tốt

nhất.

- Dự trữ để đầu cơ.

- Do hàng không bán được.

- Là phương tiện giúp thực hiện quá trình quản trị chuỗi cung ứng

một các thông suốt.

 Phân loại dự trữ

Dự trữ gồm nhiều loại và có thể phân loại theo nhiều tiêu thức khác

nhau. Một số tiêu thức chủ yếu để phân loại dự trữ trong hoạt động quản trị

chuỗi cung ứng như:

- Phân loại theo vị trí của hàng hố trên dây chuyền cung ứng.

- Phân loại theo nguyên nhân hình thành dự trữ.

- Phân loại theo công dụng của dự trữ.

- Phân loại theo giới hạn của dự trữ.



-36- Phân loại theo thời hạn dự trữ.

- Phân loại theo kỹ thuật phân tích ABC.

 Chi phí dự trữ: Dự trữ có ảnh hưởng rất lớn đến tồn bộ hoạt động

quản trị chuỗi cung ứng. Mức dự trữ khơng thích hợp sẽ làm cho không thực

hiện được mục tiêu chiến lược của quản trị chuỗi cung ứng là: tối thiểu hoá

chi phí và thực hiện tốt các dịch vụ khách hàng. Nếu dự trữ quá nhiều sẽ làm

cho hàng hoá ứ đọng, vốn quay vòng chậm, hiệu quả kinh doanh thấp. Ngược

lại, nếu dự trữ q ít sẽ khơng có đủ hàng hố, sản phẩm đảm bảo cho q

trình kinh doanh liên tục, dẫn đến không thoả mãn được nhu cầu của khách

hàng, sẽ bị mất các khách hàng hiện tại.

Chi phí quản trị dự trữ bao gồm 4 khoản chi lớn sau:

- Chi phí về vốn - lượng vốn đầu tư vào hàng dự trữ.

- Chi phí cho các dịch vụ hàng dự trữ, gồm: Chi phí bảo hiểm và thuế.

- Chi phí liên quan đến kho bãi để chứa đựng, bảo quản hàng dự trữ,

gồm: chi phí cho trang thiết bị trong kho, chi phí liên quan đến việc sử dụng

kho cơng cộng, chi phí th kho và chi phí cho kho của cơng ty.

- Chi phí cho những rủi ro liên quan đến hàng dự trữ, gồm: hao mòn

vơ hình (chi phí cho những hàng dự trữ bị lỗi thời khơng còn bán được với

mức giá ban đầu, thậm chí phải vứt bỏ hay bán lỗ vốn); hàng hoá bị hư hỏng;

hàng hoá bị thiếu hụt, mất mát; chi phí liên quan đến việc điều chuyển, bố trí

lại hàng hoá giữa các kho.

Trong thực tế, khi nghiên cứu hoạt động dự trữ người ta thường đề cập

đến các loại chi phí sau đây:

- Chi phí đặt hàng: Là tồn bộ các chi phí có liên quan đến việc thiết

lập các đơn hàng. Nó bao gồm các chi phí tìm kiếm nguồn hàng, thực hiện

quy trình đặt hàng (giao dịch, đàm phán, ký kết hợp đồng, thông báo qua lại).



-37- Chi phí lưu kho: Là những chi phí phát sinh trong thực hiện hoạt

động dự trữ, như: Chi phí về nhà cửa và kho tàng; Chi phí sử dụng thiết bị,

phương tiện; Chi phí về nhân lực cho hoạt động quản lý; Phí tổn cho việc đầu

tư vào hàng dự trữ; Thiệt hại hàng dự trữ do mất, hư hỏng hoặc khơng sử

dụng được.

- Chi phí mua hàng: là chi phí được tính khối lượng hàng của đơn

hàng và giá mua một đơn vị. Thường chi phí mua hàng khơng ảnh hưởng

nhiều đến việc lựa chọn mơ hình dự trữ, trừ mơ hình khấu trừ theo lượng mua.

 Các mơ hình dự trữ:

- Mơ hình mức đặt hàng tối ưu (Economic Order Quantity - EOQ)

- Mơ hình mức đặt hàng theo sản xuất (Production Order Quantity

POQ)

- Mơ hình dự trữ thiếu (Back Order Quantity - BOQ)

- Mơ hình khấu trừ theo số lượng (Quantity Discount Model – QDM).

1.3.5. Hoạt động vận tải

 Vận tải: là hoạt động kinh tế có mục đích của con người nhằm hốn

chuyển vị trí của hàng hoá và bản thân con người từ nơi này đến nơi khác bằng

các phương tiện vận tải. Vận tải có vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động

quản trị chuỗi cung ứng và vai trò này sẽ ngày càng tăng thêm, bởi chi phí cho

vận tải sẽ ngày càng tăng cao do giá cả xăng dầu liên tục tăng cao. Vì vận tải có

tầm quan trọng như vậy nên các doanh nghiệp cần phải quan tâm, chú ý đến

việc cân nhắc, lựa chọn các điều kiện vận tải để có được quyết định đúng đắn,

góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức. Vì vậy, hoạt động vận tải

đảm nhiệm việc di chuyển hàng hóa giữa các mắc xích của chuỗi cung ứng.

 Phí vận tải: chi phí của dịch vụ vận tải đối với chủ hàng chính là

cước phí vận chuyển trên tuyến đường cộng với các khoản chi phí hoặc lệ phí

cho các dịch vụ bổ sung. Phí này là một yếu tố quan trọng trong hậu cần và có



-38thể tác động đến tồn bộ vấn đề di chuyển. Chi phí vận tải tương đối rẻ cũng

thay đổi hình dạng của chuỗi cung ứng, khi tổ chức có thể phủ một vùng rộng

từ cơ sở vật chất của mình.

 Hình thức vận tải: là loại vận tải được sử dụng. Về cơ bản có năm

lựa chọn khác nhau: đường sắt, đường bộ, đường thủy, hàng khơng và ống

dẫn. Mỗi hình thức có các đặc điểm khác nhau và hình thức nào tốt nhất trong

bối cảnh nào sẽ phụ thuộc vào loại hàng hóa, vận chuyển, địa điểm, khoảng

cách, giá trị và hàng loạt các vấn đề khác.

 So sánh ưu nhược điểm các hình thức vận tải:

Bảng 1.2: So sánh các hình thức vận tải

Loại hình

vận tải



Ưu điểm



Nhược điểm



- Chuyên chở hàng nặng, cự ly xa, - Đầu tư ban đầu lớn,

tốc độ nhanh và ổn định, giá rẻ.

- Tính cơ động thấp

- Tiện lợi, động cơ, thích nghi cao - Khối lượng vận chuyển

với các dạng địa hình.

nhỏ, chi phí xăng dầu cao.

- Hiệu quả kinh tế cao trên các cự ly - Gây ô nhiểm môi trường.

Đường bộ ngắn.

- Dể gây ách tắc giao

- Là phương tiện vận tải phối hợp thơng.

hoạt động của các phương tiện

khác.

- Vận chuyển hàng hóa nặng, cồng - Tốc độ chậm.

Đường

kềnh.

- Ơ nhiểm mơi trường biển,

thủy

- Giá thành rẻ.

chi phí xây dựng cảng

nhiều.

Đường

- Tốc độ vận chuyển nhanh nhất.

- Cước phí vận chuyển đắt,

hàng

trọng tải thấp, chi phí lớn.

khơng

Đường ống - Giá rẻ, ít tốn mặt bằng xây dựng. - Không vận chuyển được

- Rất hiệu quả khi vận chuyển dầu các chất rắn.

và khí đốt.

- Khó khăn cho khắc phục

sự cố.

Đường sắt



-39- Chi phí tốn kém.

 Lựa chọn phương thức vận tải: đôi khi sự lựa chọn phương thức

vận chuyển có vẻ như rất hiển nhiên, nhưng trong thực tế, sự lựa chọn phương

thức vận tải phụ thuộc vào nhiều nhân tố. Có lẻ nhân tố quan trọng nhất là bản

chất của hàng hóa được vận chuyển, qui mô và khoảng cách. Các nhân tố

khác bao gồm:

- Giá trị của hàng hóa, hàng hóa càng đắt tiền càng làm tăng chi phí

tồn kho và khuyến khích sử dụng các phương thức vận chuyển nhanh hơn.

- Tầm quan trọng của hàng hóa, thậm chí là hàng hóa có giá trị thấp

nhưng có vai trò duy trì hoạt động cũng cần vận chuyển nhanh và tin cậy.

- Thời gian chuyển đổi, khi các hoạt động sản xuất phải đáp ứng

nhanh với những thay đổi thì sẽ không chờ đợi được các cung ứng vận chuyển

với tốc độ chậm.

- Tính tin cậy với giao hàng ổn định thì yếu tố này còn quan trọng

hơn cả thời gian chuyển đổi.

- Chi phí và tính linh hoạt trong việc thương lượng phí vận chuyển.

- Danh tiếng và tính ổn định của nhà vận chuyển.

- Tính an tồn, mất mát và hư hỏng.

- Lịch trình và tần suất giao hàng.

- Các cơ sở đặc biệt sẵn có.

 Lựa chọn hình thức sở hữu phương tiện vận tải: Có một số nhân

tố cần xem xét khi lựa chọn hình thức sơ hữu phù hợp nhất:

- Chi phí vận hành: trong các tình huống khác nhau cả tự vận chuyển

lẫn vận chuyển th ngồi điều có thể rẻ hơn và chắc chắn phải có những lợi

ích khác quan trọng khi tổ chức chuyển từ một phương án rẻ hơn sang

phương án mới.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 1.3: Hệ thống thông tin trong chuỗi cung ứng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×