Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 1.1: Chuỗi cung ứng điển hình

Hình 1.1: Chuỗi cung ứng điển hình

Tải bản đầy đủ - 0trang

-14Trong hình 1.1, ta thấy có rất nhiều tổ chức tham gia vào chuỗi cung

ứng như: nhà cung cấp nguyên vật liệu chính, nhà vận chuyển, nhà sản xuất

trung gian, nhà sản xuất chính, nhà phân phối và khách hàng. Với một chuỗi

cung ứng cụ thể cho một ngành hàng, ta có thể chia ra thành 3 đối tượng

chính đó là: nhà cung cấp, nhà sản xuất và khách hàng. Nguồn tạo ra lợi

nhuận cho tồn chuỗi đó là khách hàng cuối cùng. Do đó, mục tiêu thỏa mãn

khách hàng cuối cùng là mục tiêu chung của một chuỗi cung ứng liên kết.

Trong bài nghiên cứu này, chúng ta định nghĩa quản trị chuỗi cung ứng

là tập hợp những phương thức sử dụng nhà cung cấp, người sản xuất, hệ

thống kho bãi và các cửa hàng một cách tích hợp và hiệu quả, nhằm phân phối

hàng hóa sản xuất đến đúng địa điểm, với đúng yêu cầu về chất lượng, với

mục đích giảm thiểu chi phí tồn hệ thống trong khi vẫn thỏa mãn những yêu

cầu về mức độ phục vụ.

1.1.2. Mục tiêu quản trị chuỗi cung ứng

Trước hết, quản trị chuỗi cung ứng phải cân nhắc đến tất cả các thành

tố của chuỗi cung ứng; những tác động của nó đến chi phí và vai trò trong sản

xuất sản phẩm phù hợp với nhu cầu khách hàng; từ nhà cung ứng và các cơ sở

sản xuất thông qua các nhà kho và trung tâm phân phối đến nhà bán lẻ và các

cửa hàng. Thực ra, trong các phân tích chuỗi cung ứng, thực sự là cần thiết

phải xét đến người cung cấp của các nhà cung ứng và khách hàng của khách

hàng bởi vì họ có tác động đến kết quả và hiệu quả của chuỗi cung ứng.

Thứ hai, mục tiêu của quản trị chuỗi cung ứng là hữu hiệu và hiệu quả

trên tồn hệ thống; tổng chi phí của toàn hệ thống từ khâu vận chuyển, phân

phối đến tồn kho nguyên vật liệu, tồn kho trong sản xuất và thành phẩm, cần

phải được tối thiểu hóa. Nói cách khác, mục tiêu của mọi chuỗi cung ứng là

tối đa hóa giá trị tạo ra cho tồn hệ thống. Giá trị tạo ra của chuỗi cung cấp là

sự khác biệt giữa giá trị của sản phẩm cuối cùng đối với khách hàng và nỗ lực



-15mà chuỗi cung cấp dùng vào việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Đối với

đa số các chuỗi cung ứng thương mại, giá trị liên quan mật thiết đến lợi ích

của chuỗi cung ứng, sự khác biệt giữa doanh thu mà khách hàng phải trả cho

công ty đối với việc sử dụng sản phẩm và tổng chi phí của cả chuỗi cung ứng.

Vì vậy quản lý một cách hiệu quả các dòng này là yếu tố then chốt làm nên sự

thành công của chuỗi. Quản trị chuỗi cung ứng liên quan đến việc quản lý các

dòng dịch chuyển giữa và trong suốt các giai đoạn của chuỗi nhằm tối đa hóa

lợi nhuận của tồn chuỗi.

Cuối cùng, quản trị chuỗi cung ứng tập trung vào việc tích hợp một

cách hiệu quả nhà cung cấp, người sản xuất, nhà kho và các cửa hàng, nó bao

gồm những hoạt động của công ty ở nhiều cấp độ, từ cấp độ chiến lược đến

chiến thuật và tác nghiệp:

 Cấp độ chiến lược: xử lý với các quyết định có tác động dài hạn

đến tổ chức. Những quyết định này bao gồm số lượng, vị trí và cơng suất của

nhà kho, các nhà máy sản xuất, hoặc dòng dịch chuyển nguyên vật liệu trong

mạng lưới.

 Cấp độ chiến thuật: điển hình bao gồm những quyết định được cập

nhật ở bất cứ nơi nào ở thời điểm của quý hoặc năm. Điều này bao gồm các

quyết định thu mua và sản xuất, các chính sách tồn kho và các quyết định vận

tải kể cả tần suất viếng thăm của khách hàng.

 Cấp độ tác nghiệp: liên quan đến các quyết định hàng ngày chẳng

hạn như lên thời gian biểu, lộ trình của xe vận tải…

1.1.3. Phân biệt giữa quản trị logistics và quản trị chuỗi cung ứng

 Quản trị logistics: Theo định nghĩa của Hiệp hội các nhà chuyên

nghiệp về quản trị chuỗi cung ứng (Council of Supply Chain Management

Professionals-CSCMP): “Quản trị logistics là một phần của quản trị chuỗi

cung ứng bao gồm việc hoạch định, thực hiện, kiểm soát việc vận chuyển và

dự trữ hiệu quả hàng hóa, dịch vụ cũng như những thông tin liên quan từ nơi



-16xuất phát đến nơi tiêu thụ để đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Hoạt động của

quản trị logistics cơ bản bao gồm quản trị vận tải hàng hóa xuất và nhập, quản

lý đội tàu, kho bãi, nguyên vật liệu, thực hiện đơn hàng, thiết kế mạng lưới

logistics, quản trị tồn kho, hoạch định cung/cầu, quản trị nhà cung cấp dịch vụ

thứ ba. Ở một số mức độ khác nhau, các chức năng của logistics cũng bao

gồm việc tìm nguồn đầu vào, hoạch định sản xuất, đóng gói, dịch vụ khách

hàng. Quản trị logistics là chức năng tổng hợp kết hợp và tối ưu hóa tất cả các

hoạt động logistics cũng như phối hợp hoạt động logistics với các chức năng

khác như marketing, kinh doanh, sản xuất, tài chính, cơng nghệ thơng tin”.

 Quản trị chuỗi cung ứng (SCM): Theo định nghĩa của Hiệp hội các

nhà quản trị chuỗi cung ứng: “Quản trị chuỗi cung ứng bao gồm hoạch định

và quản lý tất cả các hoạt động liên quan đến tìm nguồn cung, mua hàng, sản

xuất và tất cả các hoạt động quản trị logistics. Ở mức độ quan trọng, quản trị

chuỗi cung ứng gồm sự phối hợp và cộng tác của các đối tác trên cùng một

kênh như nhà cung cấp, trung gian, các nhà cung cấp dịch vụ, khách hàng. Về

cơ bản, quản trị chuỗi cung ứng sẽ tích hợp vấn đề quản trị cung cầu bên

trong và giữa các công ty với nhau. Quản trị chuỗi cung ứng là một chức năng

tích hợp với vai trò đầu tiên là kết nối các chức năng kinh doanh và các quy

trình kinh doanh chính yếu bên trong cơng ty và của các cơng ty với nhau

thành một mơ hình kinh doanh hiệu quả cao và kết dính. Quản trị chuỗi

cung ứng gồm tất cả những hoạt động quản trị logistics đã nêu cũng như

những hoạt động sản xuất và thúc đẩy sự phối hợp về quy trình và hoạt

động của các bộ phận marketing, kinh doanh, thiết kế sản phẩm, tài chính,

cơng nghệ thơng tin”.

Sự khác nhau giữa quản trị chuỗi cung ứng và quản trị logictics có thể

được khái quát như sau:



-17Bảng 1.1: Khác nhau giữa quản trị logictics và quản trị chuỗi cung ứng

Tiêu chí

Nội dung



Quản trị Logictics

Quản trị chuỗi cung ứng

Vận tải, kho bãi, dự báo, đơn Logictics, nguồn cung ứng,

hàng, giao nhận, dịch vụ sản xuất, hợp tác, tích hợp

khách hàng, giá trị gia tăng, với các đối tác và khách



Phạm vi



thông tin…

Cục bộ doanh nghiệp.



hàng.

Cả trong và ngồi doanh



Mục tiêu



nghiệp.

Giảm chi phí Logictics, tăng Giảm chi phí tổng thể, đẩy

chất lượng chăm sóc khách mạnh hợp tác và cộng tác.



hàng.

Tầm ảnh hưởng Ngắn hạn, trung hạn.

Chiến lược.

(Nguồn: theo Logistics and Supply chain management Basics/SCM VietNam)

Trong phạm vi đề tài này, quản trị chuỗi cung ứng được nhìn nhận theo

quan điểm hợp nhất, có nghĩa logistics là một phần của quản trị chuỗi cung

ứng. Tuy nhiên, quản trị chuỗi cung ứng nếu hiểu theo nghĩa rộng thì là sự kết

hợp của nhiều doanh nghiệp có liên quan đến nhau trong cả một quốc gia,

thậm chí ở nhiều quốc gia khác nhau. Đề tài này cũng chỉ nghiên cứu quản trị

chuỗi cung ứng trong phạm vi một doanh nghiệp cụ thể.

1.1.4. Tầm quan trọng của quản trị chuỗi cung ứng

 Đối với các công ty, quản trị chuỗi cung ứng có vai trò rất lớn, bởi

quản trị chuỗi cung ứng giải quyết cả đầu ra lẫn đầu vào của doanh nghiệp

một cách hiệu quả. Nhờ có thể thay đổi các nguồn nguyên vật liệu đầu vào

hoặc tối ưu hố q trình ln chuyển ngun vật liệu, hàng hố, dịch vụ mà

quản trị chuỗi cung ứng có thể giúp tiết kiệm chi phí, tăng khả năng cạnh

tranh cho doanh nghiệp. Có khơng ít cơng ty đã gặt hái được nhiều thành

công lớn nhờ biết soạn thảo chiến lược và giải pháp quản trị chuỗi cung ứng

thích hợp, ngược lại, có nhiều cơng ty gặp khó khăn, thất bại do đưa ra các

quyết định sai lầm như lựa chọn sai nguồn cung cấp nguyên vật liệu, chọn sai



-18vị trí kho bãi, tính tốn lượng dự trữ khơng phù hợp, tổ chức vận chuyển rắc

rối...

 Quản trị chuỗi cung ứng còn hỗ trợ đắc lực cho hoạt động tiếp thị,

đặc biệt là tiếp thị hỗn hợp. Chính quản trị chuỗi cung ứng đóng vai trò then

chốt trong việc đưa sản phẩm đến đúng nơi cần đến và đúng thời điểm thích

hợp. Mục tiêu lớn nhất của quản trị chuỗi cung ứng là cung cấp sản phẩm,

dịch vụ cho khách hàng với tổng chi phí nhỏ nhất.

 Điểm đáng lưu ý là các chuyên gia kinh tế đã nhìn nhận rằng hệ

thống quản trị chuỗi cung ứng hứa hẹn từng bước nâng cao hiệu quả hoạt

động sản xuất kinh doanh của công ty và tạo điều kiện cho chiến lược thương

mại điện tử phát triển. Đây chính là chìa khố thành cơng cho doanh nghiệp.

Tuy nhiên, như khơng ít các nhà phân tích kinh doanh đã cảnh báo, chìa khố

này chỉ thực sự phục vụ cho việc nhận biết các chiến lược dựa trên hệ thống

sản xuất, khi chúng tạo ra một trong những mối liên kết trọng yếu nhất trong

dây chuyền cung ứng.

Trong một công ty sản xuất luôn tồn tại ba yếu tố chính của dây chuyền

cung ứng: Thứ nhất là, các bước khởi đầu và chuẩn bị cho quá trình sản xuất,

hướng tới các thơng tin tập trung vào khách hàng và yêu cầu của họ. Thứ hai

là bản thân chức năng sản xuất, tập trung vào những phương tiện, thiết bị,

nhân lực, nguyên vật liệu và chính quá trình sản xuất. Thứ ba là tập trung vào

sản phẩm cuối cùng, phân phối và một lần nữa hướng tới những thông tin tập

trung vào khách hàng và yêu cầu của họ.

Trong dây chuyền cung ứng ba nhân tố này, quản trị chuỗi cung ứng sẽ

điều phối khả năng sản xuất có giới hạn và thực hiện việc lên kế hoạch sản

xuất, những cơng việc đòi hỏi tính dữ liệu chính xác về hoạt động tại các nhà

máy nhằm làm cho kế hoạch sản xuất đạt hiệu quả cao nhất. Khu vực nhà

máy sản xuất trong công ty của bạn phải là một môi trường năng động, trong



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 1.1: Chuỗi cung ứng điển hình

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×