Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG CỦA DOANH NGHIỆP

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG CỦA DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ - 0trang

-13người và công nghệ là nhân tố then chốt cho việc tích hợp chuỗi cung ứng

thành cơng.

Theo Hội đồng chuỗi cung ứng thì quản trị chuỗi cung ứng là việc quản

lý cung và cầu, xác định nguồn nguyên liệu và chi tiết, sản xuất và lắp ráp,

kiểm tra kho hàng và tồn kho, tiếp nhận đơn hàng và quản lý đơn hàng, phân

phối qua các kênh và phân phối đến khách hàng cuối cùng.

Theo Tiến sĩ Hau Lee và đồng tác giả Corey Billington trong bài báo

nghiên cứu thì quản trị chuỗi cung ứng như là việc tích hợp các hoạt động xãy

ra ở các cơ sở của mạng lưới nhằm tạo nguyên vật liệu, dịch chuyển chúng

vào sản phẩm trung gian và sau đó đến sản phẩm hồn thành cuối cùng và

phân phối sản phẩm đến khách hàng thông qua hệ thống phân phối.

Vậy, chuỗi cung ứng là gì? Tại sao các tập đoàn trên thế giới lại coi

trọng nó như vậy? Ta có thể thấy rõ hơn qua hình 1.1 như sau:



Hình 1.1: Chuỗi cung ứng điển hình



-14Trong hình 1.1, ta thấy có rất nhiều tổ chức tham gia vào chuỗi cung

ứng như: nhà cung cấp nguyên vật liệu chính, nhà vận chuyển, nhà sản xuất

trung gian, nhà sản xuất chính, nhà phân phối và khách hàng. Với một chuỗi

cung ứng cụ thể cho một ngành hàng, ta có thể chia ra thành 3 đối tượng

chính đó là: nhà cung cấp, nhà sản xuất và khách hàng. Nguồn tạo ra lợi

nhuận cho tồn chuỗi đó là khách hàng cuối cùng. Do đó, mục tiêu thỏa mãn

khách hàng cuối cùng là mục tiêu chung của một chuỗi cung ứng liên kết.

Trong bài nghiên cứu này, chúng ta định nghĩa quản trị chuỗi cung ứng

là tập hợp những phương thức sử dụng nhà cung cấp, người sản xuất, hệ

thống kho bãi và các cửa hàng một cách tích hợp và hiệu quả, nhằm phân phối

hàng hóa sản xuất đến đúng địa điểm, với đúng yêu cầu về chất lượng, với

mục đích giảm thiểu chi phí tồn hệ thống trong khi vẫn thỏa mãn những yêu

cầu về mức độ phục vụ.

1.1.2. Mục tiêu quản trị chuỗi cung ứng

Trước hết, quản trị chuỗi cung ứng phải cân nhắc đến tất cả các thành

tố của chuỗi cung ứng; những tác động của nó đến chi phí và vai trò trong sản

xuất sản phẩm phù hợp với nhu cầu khách hàng; từ nhà cung ứng và các cơ sở

sản xuất thông qua các nhà kho và trung tâm phân phối đến nhà bán lẻ và các

cửa hàng. Thực ra, trong các phân tích chuỗi cung ứng, thực sự là cần thiết

phải xét đến người cung cấp của các nhà cung ứng và khách hàng của khách

hàng bởi vì họ có tác động đến kết quả và hiệu quả của chuỗi cung ứng.

Thứ hai, mục tiêu của quản trị chuỗi cung ứng là hữu hiệu và hiệu quả

trên tồn hệ thống; tổng chi phí của toàn hệ thống từ khâu vận chuyển, phân

phối đến tồn kho nguyên vật liệu, tồn kho trong sản xuất và thành phẩm, cần

phải được tối thiểu hóa. Nói cách khác, mục tiêu của mọi chuỗi cung ứng là

tối đa hóa giá trị tạo ra cho toàn hệ thống. Giá trị tạo ra của chuỗi cung cấp là

sự khác biệt giữa giá trị của sản phẩm cuối cùng đối với khách hàng và nỗ lực



-15mà chuỗi cung cấp dùng vào việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Đối với

đa số các chuỗi cung ứng thương mại, giá trị liên quan mật thiết đến lợi ích

của chuỗi cung ứng, sự khác biệt giữa doanh thu mà khách hàng phải trả cho

công ty đối với việc sử dụng sản phẩm và tổng chi phí của cả chuỗi cung ứng.

Vì vậy quản lý một cách hiệu quả các dòng này là yếu tố then chốt làm nên sự

thành công của chuỗi. Quản trị chuỗi cung ứng liên quan đến việc quản lý các

dòng dịch chuyển giữa và trong suốt các giai đoạn của chuỗi nhằm tối đa hóa

lợi nhuận của tồn chuỗi.

Cuối cùng, quản trị chuỗi cung ứng tập trung vào việc tích hợp một

cách hiệu quả nhà cung cấp, người sản xuất, nhà kho và các cửa hàng, nó bao

gồm những hoạt động của công ty ở nhiều cấp độ, từ cấp độ chiến lược đến

chiến thuật và tác nghiệp:

 Cấp độ chiến lược: xử lý với các quyết định có tác động dài hạn

đến tổ chức. Những quyết định này bao gồm số lượng, vị trí và cơng suất của

nhà kho, các nhà máy sản xuất, hoặc dòng dịch chuyển nguyên vật liệu trong

mạng lưới.

 Cấp độ chiến thuật: điển hình bao gồm những quyết định được cập

nhật ở bất cứ nơi nào ở thời điểm của quý hoặc năm. Điều này bao gồm các

quyết định thu mua và sản xuất, các chính sách tồn kho và các quyết định vận

tải kể cả tần suất viếng thăm của khách hàng.

 Cấp độ tác nghiệp: liên quan đến các quyết định hàng ngày chẳng

hạn như lên thời gian biểu, lộ trình của xe vận tải…

1.1.3. Phân biệt giữa quản trị logistics và quản trị chuỗi cung ứng

 Quản trị logistics: Theo định nghĩa của Hiệp hội các nhà chuyên

nghiệp về quản trị chuỗi cung ứng (Council of Supply Chain Management

Professionals-CSCMP): “Quản trị logistics là một phần của quản trị chuỗi

cung ứng bao gồm việc hoạch định, thực hiện, kiểm soát việc vận chuyển và

dự trữ hiệu quả hàng hóa, dịch vụ cũng như những thông tin liên quan từ nơi



-16xuất phát đến nơi tiêu thụ để đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Hoạt động của

quản trị logistics cơ bản bao gồm quản trị vận tải hàng hóa xuất và nhập, quản

lý đội tàu, kho bãi, nguyên vật liệu, thực hiện đơn hàng, thiết kế mạng lưới

logistics, quản trị tồn kho, hoạch định cung/cầu, quản trị nhà cung cấp dịch vụ

thứ ba. Ở một số mức độ khác nhau, các chức năng của logistics cũng bao

gồm việc tìm nguồn đầu vào, hoạch định sản xuất, đóng gói, dịch vụ khách

hàng. Quản trị logistics là chức năng tổng hợp kết hợp và tối ưu hóa tất cả các

hoạt động logistics cũng như phối hợp hoạt động logistics với các chức năng

khác như marketing, kinh doanh, sản xuất, tài chính, cơng nghệ thơng tin”.

 Quản trị chuỗi cung ứng (SCM): Theo định nghĩa của Hiệp hội các

nhà quản trị chuỗi cung ứng: “Quản trị chuỗi cung ứng bao gồm hoạch định

và quản lý tất cả các hoạt động liên quan đến tìm nguồn cung, mua hàng, sản

xuất và tất cả các hoạt động quản trị logistics. Ở mức độ quan trọng, quản trị

chuỗi cung ứng gồm sự phối hợp và cộng tác của các đối tác trên cùng một

kênh như nhà cung cấp, trung gian, các nhà cung cấp dịch vụ, khách hàng. Về

cơ bản, quản trị chuỗi cung ứng sẽ tích hợp vấn đề quản trị cung cầu bên

trong và giữa các công ty với nhau. Quản trị chuỗi cung ứng là một chức năng

tích hợp với vai trò đầu tiên là kết nối các chức năng kinh doanh và các quy

trình kinh doanh chính yếu bên trong cơng ty và của các cơng ty với nhau

thành một mơ hình kinh doanh hiệu quả cao và kết dính. Quản trị chuỗi

cung ứng gồm tất cả những hoạt động quản trị logistics đã nêu cũng như

những hoạt động sản xuất và thúc đẩy sự phối hợp về quy trình và hoạt

động của các bộ phận marketing, kinh doanh, thiết kế sản phẩm, tài chính,

cơng nghệ thông tin”.

Sự khác nhau giữa quản trị chuỗi cung ứng và quản trị logictics có thể

được khái quát như sau:



-17Bảng 1.1: Khác nhau giữa quản trị logictics và quản trị chuỗi cung ứng

Tiêu chí

Nội dung



Quản trị Logictics

Quản trị chuỗi cung ứng

Vận tải, kho bãi, dự báo, đơn Logictics, nguồn cung ứng,

hàng, giao nhận, dịch vụ sản xuất, hợp tác, tích hợp

khách hàng, giá trị gia tăng, với các đối tác và khách



Phạm vi



thông tin…

Cục bộ doanh nghiệp.



hàng.

Cả trong và ngồi doanh



Mục tiêu



nghiệp.

Giảm chi phí Logictics, tăng Giảm chi phí tổng thể, đẩy

chất lượng chăm sóc khách mạnh hợp tác và cộng tác.



hàng.

Tầm ảnh hưởng Ngắn hạn, trung hạn.

Chiến lược.

(Nguồn: theo Logistics and Supply chain management Basics/SCM VietNam)

Trong phạm vi đề tài này, quản trị chuỗi cung ứng được nhìn nhận theo

quan điểm hợp nhất, có nghĩa logistics là một phần của quản trị chuỗi cung

ứng. Tuy nhiên, quản trị chuỗi cung ứng nếu hiểu theo nghĩa rộng thì là sự kết

hợp của nhiều doanh nghiệp có liên quan đến nhau trong cả một quốc gia,

thậm chí ở nhiều quốc gia khác nhau. Đề tài này cũng chỉ nghiên cứu quản trị

chuỗi cung ứng trong phạm vi một doanh nghiệp cụ thể.

1.1.4. Tầm quan trọng của quản trị chuỗi cung ứng

 Đối với các công ty, quản trị chuỗi cung ứng có vai trò rất lớn, bởi

quản trị chuỗi cung ứng giải quyết cả đầu ra lẫn đầu vào của doanh nghiệp

một cách hiệu quả. Nhờ có thể thay đổi các nguồn nguyên vật liệu đầu vào

hoặc tối ưu hoá q trình ln chuyển ngun vật liệu, hàng hố, dịch vụ mà

quản trị chuỗi cung ứng có thể giúp tiết kiệm chi phí, tăng khả năng cạnh

tranh cho doanh nghiệp. Có khơng ít cơng ty đã gặt hái được nhiều thành

công lớn nhờ biết soạn thảo chiến lược và giải pháp quản trị chuỗi cung ứng

thích hợp, ngược lại, có nhiều cơng ty gặp khó khăn, thất bại do đưa ra các

quyết định sai lầm như lựa chọn sai nguồn cung cấp nguyên vật liệu, chọn sai



-18vị trí kho bãi, tính tốn lượng dự trữ khơng phù hợp, tổ chức vận chuyển rắc

rối...

 Quản trị chuỗi cung ứng còn hỗ trợ đắc lực cho hoạt động tiếp thị,

đặc biệt là tiếp thị hỗn hợp. Chính quản trị chuỗi cung ứng đóng vai trò then

chốt trong việc đưa sản phẩm đến đúng nơi cần đến và đúng thời điểm thích

hợp. Mục tiêu lớn nhất của quản trị chuỗi cung ứng là cung cấp sản phẩm,

dịch vụ cho khách hàng với tổng chi phí nhỏ nhất.

 Điểm đáng lưu ý là các chuyên gia kinh tế đã nhìn nhận rằng hệ

thống quản trị chuỗi cung ứng hứa hẹn từng bước nâng cao hiệu quả hoạt

động sản xuất kinh doanh của công ty và tạo điều kiện cho chiến lược thương

mại điện tử phát triển. Đây chính là chìa khố thành cơng cho doanh nghiệp.

Tuy nhiên, như khơng ít các nhà phân tích kinh doanh đã cảnh báo, chìa khố

này chỉ thực sự phục vụ cho việc nhận biết các chiến lược dựa trên hệ thống

sản xuất, khi chúng tạo ra một trong những mối liên kết trọng yếu nhất trong

dây chuyền cung ứng.

Trong một công ty sản xuất luôn tồn tại ba yếu tố chính của dây chuyền

cung ứng: Thứ nhất là, các bước khởi đầu và chuẩn bị cho quá trình sản xuất,

hướng tới các thông tin tập trung vào khách hàng và yêu cầu của họ. Thứ hai

là bản thân chức năng sản xuất, tập trung vào những phương tiện, thiết bị,

nhân lực, ngun vật liệu và chính q trình sản xuất. Thứ ba là tập trung vào

sản phẩm cuối cùng, phân phối và một lần nữa hướng tới những thông tin tập

trung vào khách hàng và yêu cầu của họ.

Trong dây chuyền cung ứng ba nhân tố này, quản trị chuỗi cung ứng sẽ

điều phối khả năng sản xuất có giới hạn và thực hiện việc lên kế hoạch sản

xuất, những cơng việc đòi hỏi tính dữ liệu chính xác về hoạt động tại các nhà

máy nhằm làm cho kế hoạch sản xuất đạt hiệu quả cao nhất. Khu vực nhà

máy sản xuất trong công ty của bạn phải là một mơi trường năng động, trong



-19đó sự vật được chuyển hố liên tục, đồng thời thơng tin cần được cập nhật và

phổ biến tới tất cả các cấp quản lý cơng ty để cùng đưa ra quyết định nhanh

chóng và chính xác. Quản trị chuỗi cung ứng cung cấp khả năng trực quan

hoá đối với các dữ liệu liên quan đến sản xuất và khép kín dây chuyền cung

cấp, tạo điều kiện cho việc tối ưu hoá sản xuất đúng lúc bằng các hệ thống sắp

xếp và lên kế hoạch. Nó cũng mang lại hiệu quả cho việc dự trù số lượng

nguyên vật liệu, quản lý nguồn tài nguyên, lập kế hoạch đầu tư và sắp xếp

hoạt động sản xuất của công ty.

 Một tác dụng khác của việc ứng dụng giải pháp quản trị chuỗi cung

ứng là phân tích dữ liệu thu thập được và lưu trữ hồ sơ với chi phí thấp. Hoạt

động này nhằm phục vụ cho những mục đích liên quan đến hoạt động sản

xuất như dữ liệu về thông tin sản phẩm, dữ liệu về nhu cầu thị trường…Để

đáp ứng đòi hỏi của khách hàng. Quản trị chuỗi cung ứng là nền tảng của một

chương trình cải tiến và quản lý chất lượng - bạn khơng thể cải tiến được

những gì bạn khơng thể nhìn thấy.

1.2. CẤU TRÚC CHUỖI CUNG ỨNG

Một dây chuyền cung ứng sản xuất bao gồm ba yếu tố: Nhà cung cấp,

bản thân đơn vị sản xuất và khách hàng.

- Nhà cung cấp: Là các công ty bán sản phẩm, dịch vụ là nguyên liệu

đầu vào cần thiết cho quá trình sản xuất, kinh doanh. Thông thường, nhà cung

cấp được hiểu là đơn vị cung cấp nguyên liệu trực tiếp như vật liệu thô, các

chi tiết của sản phẩm. Các công ty cung cấp dịch vụ cho sản xuất, kinh doanh

được gọi là nhà cung cấp dịch vụ.

- Đơn vị sản xuất: Là nơi sử dụng nguyên liệu, dịch vụ đầu vào và áp

dụng các quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm cuối cùng. Các nghiệp vụ về

quản lý sản xuất được sử dụng tối đa tại đây nhằm tăng hiệu quả, nâng cao

chất lượng sản phẩm, tạo nên sự thông suốt cho dây chuyền cung ứng.

- Khách hàng: Là người sử dụng sản phẩm của đơn vị sản xuất.



-20Cấu trúc chuỗi cung cấp có thể được thể hiện theo mơ hình dưới đây:

Các hoạt động xi dòng



Các hoạt động ngược dòng



Nhà

cung

cấp

gốc



Nhà

cung

cấp

3



Nhà

cung

cấp

2



Nhà

cung

cấp



KH

cấp

1



KH

cấp

2



1



KH

cấp



3



KH

cuối

cùng



TỔ CHỨC



Hình 1.2: Các hoạt động trong một chuỗi cung ứng

Bức tranh đơn giản nhất của chuỗi cung ứng là khi chỉ có một sản phẩm

dịch chuyển qua một loạt các tổ chức, và mỗi tổ chức tạo thêm một phần giá

trị cho sản phẩm. Lấy một tổ chức nào đó làm qui chiếu, nếu xét đến các hoạt

động trước nó – dịch chuyển nguyên vật liệu đến – được gọi là ngược dòng;

những tổ chức phía sau doanh nghiệp – dịch chuyển vật liệu ra ngoài - được

gọi là xi dòng.

Các hoạt động ngược dòng dành cho các nhà cung cấp. Một nhà cung

cấp dịch chuyển nguyên vật liệu trực tiếp đến nhà sản xuất là nhà cung cấp

cấp 1, nhà cung cấp đảm nhiệm việc dịch chuyển nguyên vật liệu cho nhà

cung cấp cấp 1 được gọi là nhà cung cấp cấp 2, cứ ngược dòng như vậy sẽ

đến nhà cung cấp cấp 3 rồi đến tận cùng sẽ là nhà cung cấp gốc. Khách

hàng cũng được phân chia thành từng cấp: khách hàng nhận sản phẩm một

cách trực tiếp từ nhà sản xuất là khách hàng cấp 1, khách hàng nhận sản

phẩm từ khách hàng cấp 1 chính là khách hàng cấp 2, tương tự chúng ta sẽ

có khách hàng cấp 3 và tận cùng của dòng dịch chuyển này sẽ đến khách

hàng cuối cùng.

1.3. NỘI DUNG QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG



-211.3.1. Dịch vụ khách hàng

 Các khái niệm: Dịch vụ khách hàng là một khái niệm rất rộng và

được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau:

- Dịch vụ khách hàng là những hoạt động cụ thể của công ty nhằm

giải quyết tốt các đơn đặt hàng của khách hàng, những hoạt động đó có thể là:

lập bộ chứng từ, làm thủ tục hải quan, xử lý, truy soát đơn hàng, giải quyết

các khiếu nại, …

- Dịch vụ khách hàng là việc thực hiện những công việc cụ thể, được

đánh giá bằng những thông số cụ thể, những quy chuẩn sẵn có, ví dụ: khả

năng hồn thành 98% đơn hàng trong vòng 24 tiếng đồng hồ; đến thăm khách

hàng chính trong vòng 6 tháng một lần; giải quyết khiếu nại trong vòng 15

ngày; hồn thành thủ tục hải quan trong vòng 2 tiếng; …

- Dựa vào triết lý của tổ chức, người ta định nghĩa dịch vụ khách hàng

là một phần trong triết lý chung của công ty, phải thỏa mãn nhu cầu của khách

hàng một cách tốt nhất.

Định nghĩa thứ ba mang tính tồn diện, khái quát và linh hoạt hơn hai

định nghĩa trên. Nó nêu được tầm quan trọng của dịch vụ khách hàng, nó u

cầu các bộ phận của cơng ty, các nhân viên phải chăm sóc khách hàng hơn

chính bản thân mình. Do nhu cầu của khách hàng ln thay đổi khơng ngừng

nên các thơng số quy chuẩn cũ có thể trở nên lỗi thời, đòi hỏi phải được điều

chỉnh cho phù hợp với điều kiện mới nên các định nghĩa thứ nhất và thứ hai

mặc dù chi tiết, cụ thể nhưng khơng nói lên được bản chất của dịch vụ khách

hàng như ở định nghĩa thứ ba.

Tóm lại, dịch vụ khách hàng là quá trình diễn ra giữa người mua, người

bán, và bên thứ ba (các nhà thầu phụ). Kết quả của quá trình này là tạo ra giá

trị gia tăng cho sản phẩm hay dịch vụ được trao đổi cho người tiêu dùng. Nói



-22ngắn gọn hơn, dịch vụ khách hàng là q trình cung cấp các tiện ích từ giá trị

gia tăng cho dây chuyền cung ứng với chi phí hiệu quả nhất.

 Các yếu tố dịch vụ khách hàng:

 Các yếu tố trước giao dịch: Các yếu tố trước giao dịch chủ yếu tập

trung vào việc xây dựng chính sách dịch vụ khách hàng và chuẩn bị các điều

kiện thực hiện. Việc này có ảnh hưởng lớn đến nhận thức của khách hàng về

tổ chức cũng như mức độ hài lòng của họ. Khơng phải mọi yếu tố trước giao

dịch đều liên quan trực tiếp đến hoạt động quản trị chuỗi cung ứng. Chúng

được thiết lập trước khi tổ chức tiến hành các dịch vụ khách hàng và có ảnh

hưởng đến hiệu quả hoạt động quản trị chuỗi cung ứng. Các yếu tố trước giao

dịch bao gồm:

+ Xây dựng chính sách phục vụ khách hàng: Chính sách được xây dựng

dựa trên cơ sở nhu cầu của khách hàng và khả năng của cơng ty. Trong chính

sách phục vụ khách hàng, cần xác định rõ các dịch vụ khách hàng và tiêu

chuẩn của chúng, đó là các thước đo về thực hiện các dịch vụ khác, dựa vào

đó có thể đánh giá được trách nhiệm và quy kết trách nhiệm cho các bộ phận

có liên quan. Chính sách cũng nêu rõ chế độ kiểm tra, báo cáo việc thực hiện

nhiệm vụ.

+ Giới thiệu và cung cấp các văn bản về chính sách dịch vụ khách hàng

của cơng ty cho khách hàng: Văn bản này sẽ giúp khách hàng biết được các

dịch vụ của công ty, đồng thời giúp bảo vệ cơng ty trước những sự cố ngồi

dự kiến. Nội dung văn bản ngoài việc cung cấp cho khách hàng những thơng

tin cần thiết và các loại dịch vụ, còn cho khách hàng biết cần phải làm gì

trong trường hợp dịch vụ khách hàng không được công ty đáp ứng.

+ Tổ chức bộ máy thực hiện các dịch vụ: ở các cơng ty khác nhau thì

bộ máy tổ chức thực hiện dịch vụ khách hàng sẽ khác nhau, đa phần là do các

giám đốc (trưởng phòng) quan hệ khách hàng quản lý. Vị trí này đóng vai trò



-23quan trọng và có tầm nhìn rộng trong tồn cơng ty. Cơ cấu tổ chức phải cho

phép hỗ trợ, phối hợp các chính sách đối nội cũng như đối ngoại, việc thực

hiện các chính sách đó và cả những hoạt động điều chỉnh khi cần thiết. Khách

hàng phải được tiếp cận một cách rõ ràng đến mỗi cá nhân trong tổ chức,

những người có thể đáp ứng được nhu cầu của khách hàng cũng như trả lời

được các câu hỏi của họ. Hãy hình dung sự tức giận của một khách hàng khi

họ gặp phải một vấn đề nào đó đối với sản phẩm hoặc dịch vụ được cung cấp

và điện thoại đến công ty bán hàng để than phiền nhưng phải đợi điện thoại,

rồi lại được chuyển cho hết người này đến người khác để phải nghe giải thích

đi giải thích lại tồn bộ vấn đề của mình. Chắc chắn sau sự kiện đó, vị khách

hàng sẽ rời bỏ cơng ty, khơng tiếp tục làm ăn nữa.

+ Các biện pháp phòng ngừa rủi ro: Dịch vụ khách hàng cũng chứa

nhiều yếu tố rủi ro, vì thế khi xây dựng chính sách dịch vụ khách hàng, cần

chuẩn bị sẵn một số biện pháp và điều kiện thực hiện để phòng ngừa rủi ro.

Điều này cho phép tổ chức phản ứng một cách thành công trước những sự

kiện không thể lường trước, như: thiên tai, địch họa, đình cơng, bãi cơng, …

Những yếu tố trước giao dịch có xu hướng tương đối ổn định, ít thay

đổi trong một thời gian khá dài. Do đó, khách hàng có khả năng nghiên cứu,

lựa chọn để đáp ứng nhu cầu của mình một cách tốt nhất.

 Các yếu tố trong giao dịch gồm:

+ Tình hình dự trữ hàng hoá: Lượng hàng hoá dự trữ cho thấy khả năng

sẵn sàng cung cấp sản phẩm, đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Hàng dự trữ

cần được quản lý, theo dõi chặt chẽ theo từng loại sản phẩm, cho từng khách

hàng, đối phó với từng tình huống bất trắc có thể xãy ra.

+ Thơng tin về hàng hố: Nhờ khả năng xử lý thơng tin của các thế hệ

máy tính ngày càng hiện đại với phí phí thấp, ngày càng có nhiều khách hàng

muốn tiếp cận với mọi thơng tin có liên quan tới việc thực hiện đơn hàng của



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG CỦA DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×