Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Đẩy mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng của NHTM

2 Đẩy mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng của NHTM

Tải bản đầy đủ - 0trang

14



Kiểm sốt rủi ro trong khi thực hiện CVTD thơng qua các biện pháp hạn

chế rủi ro, kiểm soát nợ xấu trong CVTD.

1.2.2 Cơ sở đẩy mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng

- Do nhu cầu tiêu dùng của dân cư tăng nhanh

Việt Nam là một nước có nền kinh tế đang phát triển, với tốc độ tăng

trưởng GDP khá cao trong những năm gần đây. Hơn nữa, với dân số hơn 80

triệu người và phần đông là giới trẻ, năng động, thu nhập không ngừng được

cải thiện, nên nhu cầu tiêu dùng của họ ngày một tăng cao. Đây là một thị

trường đầy tiềm năng cho hoạt động CVTD.

- Do rủi ro của hoạt động cho vay tiêu dùng đã được hạn chế

Có thể nói CVTD là hình thức cho vay có mức độ rủi ro cao nhất trong

các hình thức cho vay của ngân hàng. Nhưng ngày nay, thu nhập của người

dân ngày càng tăng, đồng thời các ngân hàng đều áp dụng các công nghệ hiện

đại trong việc quản lý các khoản vay, trình độ của nhân viên ngày một nâng

cao, hành lang pháp lý dần được hồn thiện, từ đó góp phần hạn chế rủi ro của

các khoản CVTD.

- Do sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các ngân hàng

Trước sự cạnh tranh gay gắt của các NHTM cũng như các tổ chức tài

chính trong và ngoài nước, để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển, các ngân

hàng cần đa dạng hoá các danh mục đầu tư, phân tán rủi ro, duy trì hoạt động

bền vững cho ngân hàng. Đẩy mạnh CVTD là một phương án được xem xét.

Xuất phát từ những lý do trên, có thể thấy được rằng đẩy mạnh hoạt

động CVTD là một yêu cầu khách quan của nền kinh tế.



1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá đẩy mạnh CVTD tại NHTM

1.2.3.1 Các chỉ tiêu gia tăng quy mô



15



Đây là các chỉ tiêu phản ánh sự phát triển của CVTD theo chiều rộng, thể

hiện qua:

- Chỉ tiêu phản ánh dư nợ CVTD

Là chỉ tiêu phản ánh khối lượng tín dụng ngân hàng cấp cho nền kinh tế

nhằm mục đích tiêu dùng tại một thời điểm.

Dư nợ CVTD

năm t



=



Dư nợ CVTCD

năm (t-1)



Giá trị tăng trưởng



=



dư nợ CVTD



+



Doanh số CVTD _ Doanh số thu nợ

năm t



Tổng dư nợ

CVTD năm(t)



CVTD năm t

_



Tổng dư nợ

CVTD năm (t-1)



Gía trị tăng trưởng dư nợ CVTD > 0 chứng tỏ số tiền khách hàng nợ

ngân hàng hàng năm tăng lên, tức là hoạt động CVTD được đẩy mạnh.

Tỷ lệ tăng trưởng

dư nợ CVTD



=



Giá trị tăng trưởng dư nợ tuyệt đối x 100%

Tổng dư nợ cho vay tiêu dùng năm (t-1)



Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ tăng trưởng dư nợ trong CVTD năm (t) so

với năm (t-1). Tăng trưởng dư nợ CVTD là chỉ tiêu cốt lõi để đánh giá quá

trình mở rộng CVTD.

Mức độ tăng trưởng dư nợ được đánh giá qua mức tăng dư nợ CVTD

qua các thời kỳ so sánh và tốc độ tăng dư nợ CVTD qua các thời kỳ.

-. Chỉ tiêu phản ánh số lượng khách hàng vay tiêu dùng của ngân hàng

Mức độ tăng trưởng số lượng khách hàng vay tiêu dùng cũng được đánh

giá qua hai chỉ tiêu: mức tăng tuyệt đối và tốc độ tăng. Cả hai chỉ tiêu đều

nhằm phản ảnh sự mở rộng số lượng khách hàng mà ngân hàng đã CVTD qua

các thời kỳ.

Sự tăng, giảm số

lượng khách hàng



=



Số lượng khách hàng _ Số lượng khách hàng

năm (t)

năm (t-1)



-. Chỉ tiêu phản ánh dư nợ bình quân cho vay tiêu dùng trên một khách

hàng vay



16



Dư nợ bình quân CVTD trên một khách hàng được xác định bằng tổng

dư nợ CVTD ở một thời điểm chia cho số khách hàng vay tiêu dùng có ở thời

điểm đó. Chỉ tiêu này vừa phản ảnh sự tăng trưởng trong nhu cầu vay tiêu

dùng của các khách hàng vừa phản ảnh những nỗ lực của ngân hàng trong

việc tiếp cận khách hàng để đáp ứng những nhu cầu đó.

- Mức độ đa dạng hóa sản phẩm, đối tượng CVTD

Đây là chỉ tiêu liên quan đến khả năng đáp ứng sản phẩm và thỏa mãn

nhu cầu của khách hàng. Ngân hàng chỉ có thể đẩy mạnh CVTD khi cung cấp

cho thị trường một số lượng phong phú các sản phẩm CVTD cũng như đa

dạng những khách hàng có nhu cầu vay tiêu dùng.

- Mức độ tăng trưởng của thị phần CVTD của ngân hàng trên thị trường

mục tiêu

Thị phần CVTD là tỷ trọng dư nợ CVTD của ngân hàng so với tổng dư

nợ CVTD của tất cả các ngân hàng trên thị trường mục tiêu. Chỉ tiêu tăng

trưởng thị phần cho thấy năng lực cạnh tranh của ngân hàng trong lĩnh vực

CVTD.

1.2.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng CVTD

Đảm bảo chất lượng tín dụng nói chung và CVDT nói riêng là vấn đề

phức tạp. Chỉ tiêu này là một chỉ tiêu tổng hợp, không thể phản ánh thông qua

một tiêu thức cụ thể mà phải đánh giá nó qua quan điểm chủ quan của khách

hàng, những tín hiệu mà cán bộ tín dụng nhận biết được qua q trình giao

dịch: sự tin cậy, cảm tình, thơng cảm của khách hàng trong hoạt động này. Có

thể đánh giá qua các chỉ tiêu:

- Độ an tồn, chính xác trong q trình thực hiện nghiệp vụ CVTD, thủ

tục giao dịch khi khách hàng đến vay nhằm mục đích tiêu dùng.

- Tốc độ xử lý các giao dịch là nhanh hay chậm : Thủ tục thẩm định về

mục đích sử dụng vốn vay, tài chính và tài sản đảm bảo tiền vay.



17



- Hiệu quả của hoạt động CVTD phản ánh thông qua lợi nhuận CVTD và

tỷ trọng thu lãi từ CVTD trên tổng thu lãi từ hoạt động cho vay. Tiêu chí này

cho biết hoạt động CVTD đem lại lợi nhuận bao nhiêu và đóng góp bao nhiêu

vào tổng thu lãi từ hoạt động cho vay. Ngồi ra, tiêu chí này giúp ngân hàng

trong việc xây dựng định hướng phát triển hoạt động CVTD.

1.2.3.3 Kiểm sốt rủi ro trong q trình đẩy mạnh hoạt động CVTD

Nếu như trước đây các NHTM có dư nợ CVTD chiếm một tỷ lệ khá

khiêm tốn trong tổng dư nợ cho vay của mình, thì ngày nay hầu hết NHTM

đều coi CVTD là một lĩnh vực quan trọng, là yếu tố cạnh tranh của ngân hàng

so với các tổ chức tài chính phi ngân hàng khác.

Hoạt động CVTD là một hoạt động đem lại nguồn lợi nhuận cao cho

ngân hàng nhưng đồng thời cũng là một hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro.

Chính vì vậy, muốn đẩy mạnh hoạt động CVTD một cách có hiệu quả thì phải

kiểm sốt tốt rủi ro trong hoạt động này, trong đó quản lý nợ xấu là một vấn

đề cực kỳ quan trọng. Việc quản lý tốt nợ xấu nhằm giúp ngân hàng đạt được

các mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững;

Tỷ lệ nợ xấu

CVTD



=



Nợ xấu CVTD

Tổng dư nợ CVTD



Ngoài ra, đã tham gia vào lĩnh vực CVTD, ngân hàng nào cũng có biện

pháp hạn chế rủi ro, cụ thể như: có bộ phận giám sát, kiểm sốt, hậu kiểm để

loại ra những hồ sơ nghi ngờ; tổ chức các bộ phận đi xử lý công nợ dây dưa;

ràng buộc một số điều kiện như người vay phải có việc làm và thu nhập ổn

định, vay theo nhóm; đơn vị nơi cá nhân làm việc cam kết giúp ngân hàng thu

nợ thông qua việc chi trả tiền lương; kết hợp với ban lãnh đạo, cơng đồn các

doanh nghiệp để có thông tin qua lại về hoạt động của người vay, qua đó quản

lý chặt chẽ tình hình thanh tốn nợ của khách hàng.



18



Nếu nhìn cái gì cũng thấy rủi ro thì ngân hàng khó mà hoạt động. Bất kì

sản phẩm tín dụng nào cũng có rủi ro, CVTD có mức độ rủi ro còn cao hơn.

Vấn đề là ngân hàng phải chấp nhận rủi ro ở một mức độ nào đó. Và do vậy

lãi suất cho vay tiêu dùng ln cao hơn lãi suất cho vay sản suất kinh doanh

thông thường. Tùy từng đối tượng mà có hạn mức cụ thể, đối tượng nào ngân

hàng kiểm soát được sẽ cho vay nhiều hơn và ngược lại.

1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến đẩy mạnh cho vay tiêu dùng

Việc đẩy mạnh hoạt động CVTD của ngân hàng thương mại chịu ảnh

hưởng của nhiều nhân tố bao gồm các nhân tố khách quan như môi trường

hoạt động của ngân hàng, các yếu tố thuộc về khách hàng và các nhân tố chủ

quan thuộc về bản thân ngân hàng.

1.2.4.1 Nhóm nhân tố thuộc về bản thân ngân hàng

Đây là các nhân tố tác động trực tiếp tới việc đẩy mạnh CVTD của

ngân hàng. Việc cấp tín dụng cho hoạt động tiêu dùng phụ thuộc rất lớn vào

chính sách tín dụng, năng lực tài chính của ngân hàng cũng như trình độ của

các cán bộ ngân hàng.

- Năng lực tài chính của ngân hàng: được xác định dựa trên một số yếu

tố như số lượng vốn chủ sở hữu, tỷ lệ phần trăm lợi nhuận năm sau so với

năm trước, tỷ trọng nợ quá hạn trong tổng dư nợ, số lượng tài sản thanh

khoản. Nếu ngân hàng có vốn chủ sở hữu lớn, tỷ lệ phần trăm lợi nhuận lớn,

nợ quá hạn thấp và có số lượng tài sản thanh khoản lớn, khả năng huy động

vốn lớn trong thời gian ngắn thì có thể coi là có sức mạnh tài chính. Khi ngân

hàng có sức mạnh tài chính lớn thì sẽ có khả năng cung cấp nhiều sản phẩm

đa dạng và các món vay có giá trị lớn.

- Chính sách tín dụng của ngân hàng: là hệ thống các chủ trương, định

hướng, quy định chi phối hoạt động tín dụng do hội đồng quản trị đưa ra

nhằm sử dụng hiệu quả nguồn vốn để tài trợ cho các doanh nghiệp, hộ gia



19



đình và cá nhân. Tồn bộ các vấn đề có liên quan đến cấp tín dụng nói chung

đều được xem xét và đưa ra trong chính sách tín dụng như các đối tượng có

thể vay vốn, phương thức quản lý các hoạt động tín dụng, các loại sản phẩm

tín dụng do ngân hàng cung cấp, nguồn vốn dùng để tài trợ, phương thức

quản lý danh mục cho vay, thời hạn và điều kiện áp dụng cho các sản phẩm

tín dụng khác nhau. Chính sách tín dụng phụ thuộc vào quy mơ ngân hàng và

chiến lược phát triển ngân hàng trong từng giai đoạn. Nếu như các ngân hàng

lớn là các ngân hàng bán bn, chủ yếu cung cấp các khoản tín dụng giá trị

lớn cho các doanh nghiệp thì các ngân hàng nhỏ lại tập trung vào nghiệp vụ

tín dụng bán lẻ dưới dạng các khoản cho vay cá nhân, cho vay trả góp... Các

ngân hàng thường xác định vị trí cũng như ưu thế của mình trên thị trường và

chiến lược phát triển trong tương lai để từ đó đưa ra một chính sách tín dụng

phù hợp nhằm khai thác tối đa các nguồn lực sẵn có. Và chỉ khi một ngân

hàng thương mại xác định mở rộng cho vay tiêu dùng thì ngân hàng mới dồn

nỗ lực và khả năng để tập trung phát triển lĩnh vực này. Chính vì vậy, nếu như

có những hình thức CVTD khơng nằm trong chính sách cho vay của NHTM

thì chắc chắn các cá nhân và hộ gia đình chẳng thể mong đợi vay được những

khoản tiền từ ngân hàng để tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của mình. Chẳng hạn

như một ngân hàng khơng thực hiện cho vay theo thẻ tín dụng thì khách hàng

dù có đủ điều kiện cũng khơng được cấp tín dụng. Mặt khác, khi một ngân

hàng đã sẵn có các hình thức cho vay tiêu dùng đa dạng với chất lượng tốt thì

việc mở rộng cũng dễ dàng và thuận lợi hơn là các ngân hàng mới chỉ có các

sản phẩm đơn giản. Do tính chất của cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày

càng gay gắt, các ngân hàng luôn phải không ngừng nâng cao chất lượng sản

phẩm và thực hiện đa dạng hoá sản phẩm nhằm củng cố và mở rộng thị phần,

duy trì khả năng cạnh tranh.



20



- Trình độ của cán bộ tín dụng: Trong bất cứ lĩnh vực nào, nhân tố con

người cũng luôn giữ vai trò quan trọng bậc nhất, đặc biệt là trong lĩnh vực

cung cấp các sản phẩm dịch vụ như ngân hàng. Đội ngũ cán bộ tín dụng cùng

với phẩm chất đạo đức và trình độ chun mơn của họ chính là yếu tố ảnh

hưởng trực tiếp nhất tới hoạt động CVTD. Họ là người trực tiếp tiếp xúc với

khách hàng, thẩm định các hồ sơ, đưa ra các quyết định về cấp tín dụng, thu

nợ và xử lý khi có các vấn đề nảy sinh, do đó họ là người thực thi các chính

sách tín dụng một cách tích cực nhất. Nếu ngân hàng xây dựng được một đội

ngũ cán bộ tín dụng giỏi về chun mơn nghiệp vụ, có phẩm chất đạo đức tốt

thì sẽ nâng cao chất lượng và thuận lợi trong việc mở rộng các khoản cho vay

tiêu dùng. Ngồi ra, các cán bộ tín dụng cũng góp phần tạo dựng hình ảnh của

ngân hàng, góp phần tăng tính cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ ngân hàng.

1.2.4.2 Nhóm các nhân tố thuộc về mơi trường hoạt động của ngân hàng

Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh tiền tệ có vai trò khá quan trọng

trong nền kinh tế, hoạt động của ngân hàng rất nhạy cảm với các sự kiện kinh

tế, chính sách kinh tế, tiền tệ, chính trị, xã hội, luật pháp, tiến bộ khoa học

cơng nghệ...

- Môi trường kinh tế: được đánh giá là khá quan trọng. Trong thời kỳ

kinh tế tăng trưởng và ổn định, hoạt động tiêu dùng có xu hướng tăng lên bởi

vì thu nhập và mức sống của người dân được cải thiện, do đó sẽ khuyến khích

hoạt động CVTD của ngân hàng. Ngược lại, trong thời kỳ suy thoái, hoạt

động sản xuất bị thu hẹp, thu nhập giảm sút dẫn đến hạn chế khả năng mở

rộng CVTD của ngân hàng. Bên cạnh đó, nếu ngân hàng hoạt động trong nền

kinh tế có trình độ phát triển cao và tiên tiến thì hoạt động CVTD cũng đa

dạng và phát triển hơn ở các nước đang phát triển. Môi trường kinh tế thể hiện

thông qua những biến số kinh tế như thu nhập quốc dân (GDP), tốc độ tăng



21



trưởng thu nhập quốc dân, mức thu nhập bình quân đầu người và tốc độ tăng,

giảm tỷ lệ thất nghiệp...

- Môi trường luật pháp: NHTM là trung gian tài chính tập trung một khối

lượng vốn và tài sản rất lớn trong nền kinh tế, do đó mà hoạt động ngân hàng

phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ của luật pháp cũng như các cơ quan chức

năng. Điều này khơng chỉ đảm bảo an tồn cho ngân hàng mà còn cho các

khách hàng thực hiện giao dịch cũng như sự ổn định cho toàn bộ nền kinh tế.

Mỗi một quốc gia khác nhau có những quy định khác nhau về tổ chức hoạt

động của ngân hàng cũng như hoạt động CVTD. Nếu các quy định đó đầy đủ,

chặt chẽ, hợp lý, khơng rườm rà chồng chéo sẽ tạo điều kiện cho hoạt động

ngân hàng nói chung và CVTD nói riêng phát triển và sơi động. Mặt khác, khi

những quy chế, pháp luật về cho vay nói chung, CVTD nói riêng có sự nới

lỏng cũng như những quy định có tác động làm giá cả hàng hoá tiêu dùng

giảm xuống (chẳng hạn như là quy định về giảm thuế nhập khẩu đối với ôtô,

xe máy, hàng điện tử) thì sẽ tạo điều kiện mở rộng CVTD.

- Sự phát triển của khoa học công nghệ: Ta không thể phủ nhận vai trò

của khoa học cơng nghệ đối với sự phát triển của hệ thống ngân hàng. Trong

hoạt động tín dụng, các tiến bộ khoa học cơng nghệ đặc biệt là máy tính đã

giúp ngân hàng giảm bớt thời gian giao dịch với khách hàng và tăng sự chính

xác trong phân tích, thẩm định tín dụng, do đó hạn chế rủi ro. Các ngân hàng

ngày nay đều đã xây dựng được cho mình một cơ sở dữ liệu phong phú về các

thông tin khách hàng cùng những phương thức quản lý tiên tiến, hiệu quả.

Nhờ vậy mà ngân hàng có thể mở rộng cho vay và đưa ra các sản phẩm mới,

ứng dụng các thành tựu đó như là sản phẩm thẻ tín dụng.

- Mơi trường văn hố- xã hội: Những yếu tố thuộc về văn hoá- xã hội

như thói quen sử dụng các sản phẩm ngân hàng, tỷ lệ tiết kiệm, trình độ dân

trí, thị hiếu ... ảnh hưởng rất lớn đến việc ra quyết định lựa chọn hình thức



22



CVTD. Chẳng hạn như ở Mỹ: xã hội được cho là xã hội tiêu dùng với tỷ lệ

tiết kiệm trên tổng thu nhập chỉ khoảng 10% và thói quen mua sắm sẽ là một

thị trường rất lớn để mở rộng CVTD. Các quan niệm về ngân hàng quen

thuộc hay xa lạ, an tồn hay khơng an tồn, thói quen thanh toán tiền mặt

trong dân chúng cũng là yếu tố có tác động rất lớn do nó hạn chế việc tiếp cận

các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho người dân.

1.2.4.3 Nhóm các nhân tố thuộc về khách hàng

Khách hàng là người cuối cùng đưa ra lựa chọn và ra các quyết định tiêu

dùng cũng như hình thức tài trợ nên các yếu tố thuộc về bản thân khách hàng

có tác động rất lớn đến khả năng mở rộng CVTD của ngân hàng.

- Khả năng đáp ứng các điều kiện khi vay của khách hàng: Việc phát

hiện ra các nhu cầu được tài trợ thôi chưa đủ mà quan trọng hơn là ngân hàng

phải phát hiện ra các nhu cầu có khả năng thanh tốn, bởi chỉ có đáp ứng

những nhu cầu có khả năng thanh tốn mới mang lại thu nhập cho ngân hàng.

Nhu cầu có khả năng thanh tốn trong hoạt động CVTD có thể được hiểu là

các nhu cầu được tài trợ của khách hàng mà việc trả nợ trong tương lai được

đảm bảo chắc chắn. Có nghĩa là khách hàng đáp ứng được các điều kiện quy

định của ngân hàng về tài sản bảo đảm cũng như các giấy tờ chứng minh

quyền sở hữu và sử dụng hợp pháp, về tư cách đạo đức (nhân thân, các quan

hệ vay mượn khác), quy mô thu nhập thường xuyên của khách hàng...

- Nhu cầu vốn của khách hàng: là yếu tố quyết định các hình thức CVTD

của ngân hàng. Nhu cầu vốn của khách hàng là nền tảng căn cứ để xây dựng

chiến lược phát triển sản phẩm cho vay tiêu dùng của ngân hàng. Khách hàng

vay tiêu dùng của ngân hàng là các cá nhân và hộ gia đình có nhu cầu rất đa

dạng, từ các nhu cầu thiết yếu đến các nhu cầu cao cấp. Đời sống con người

ngày càng được nâng cao thì các nhu cầu về hàng hoá và dịch vụ cao cấp càng

lớn. Tuy nhiên tuỳ từng giai đoạn phát triển sẽ xuất hiện những nhu cầu nổi



23



bật cần được tài trợ. Vấn đề là phải phát hiện được những nhu cầu đó nhanh

nhất để đáp ứng kịp thời vì những người đi đầu sẽ có ưu thế trong việc thu hút

khách hàng. Những khách hàng có nghề nghiệp khác nhau, tình trạng gia đình

và hơn nhân, độ tuổi khác nhau có những nhu cầu được tài trợ khác nhau. Đối

với nhóm khách hàng thuộc lứa tuổi trung niên, có gia đình và con cái, có thu

nhập ổn định thường có nhu cầu mua sắm trang thiết bị lâu bền, đi nghỉ và

cho cái đi du học do đó ưa thích các sản phẩm tín dụng trả góp hay những

thanh niên độ tuổi 25-35 năng động ưa thích các sản phẩm thẻ tín dụng…



Kết luận chương 1



24



Luận văn đã hệ thống hóa các vấn đề cơ bản về cho vay tiêu dùng và đẩy

mạnh cho vay tiêu dùng tại NHTM. Cụ thể:

- Nêu lên khái niệm, đặc điểm, phân loại, quy trình và lợi ích của cho vay

tiêu dùng.

- Đưa ra quan niệm về đẩy mạnh cho vay tiêu dùng, cơ sở để thực hiện,

các chỉ tiêu dùng để đánh giá cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến đẩy mạnh

cho vay tiêu dùng

Trong xu thế hội nhập và mở cửa của nền kinh tế cùng với sự phát triển

của xã hội về mọi mặt thì cho vay tiêu dùng là một xu thế tất yếu trong hoạt

động của NHTM. Đây sẽ là một lĩnh vực thu được nhiều lợi nhuận cho

NHTM, điều này đã được kiểm chứng tại các nước phát triển. Vì vậy, việc

nghiên cứu một cách có hệ thống các lý luận về cho vay tiêu dùng và đẩy

mạnh cho vay tiêu dùng tại NHTM là điều cần thiết để hình thành những giải

pháp giúp đẩy mạnh cho vay tiêu dùng, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh

doanh của ngân hàng.



Chương 2



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Đẩy mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng của NHTM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×