Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 2.2: Lãi suất cho vay của BIDV qua các năm

Bảng 2.2: Lãi suất cho vay của BIDV qua các năm

Tải bản đầy đủ - 0trang

32



Trung, dài

hạn



12-13,2%



13,2-21



10,5-15



14-18,5



16,8-22,2



Nguồn: Thông báo lãi suất cho vay của BIDV

Năm 2009, lãi suất cho vay đã được “hạ nhiệt” và duy trì từ 813,2%/năm đối với ngắn hạn. Đối với cho vay trung dài hạn, lãi suất thỏa

thuận đã được mở cho các khoản vay tiêu dùng, phục vụ đời sống, cơ chế lãi

suất cho vay không vượt quá 150% lãi suất cơ bản vẫn duy trì đối với khách

hàng doanh nghiệp và các khoản vay sản xuất kinh doanh.

Bước sang năm 2010, cơ chế lãi suất thỏa thuận đã được mở đối với

cho vay trung dài hạn, và sau đó cả cho vay ngắn hạn. Lãi suất cho vay được

gở bỏ trần và có xu hướng tăng lên, lãi suất cho vay ngắn hạn nằm trong

khoảng từ 10,5-15,5%/năm, lãi suất cho vay trung – dài hạn nằm trong

khoảng 14-18,5%/năm.

Trong những tháng đầu năm 2011, lãi suất cho vay tiếp tục duy trì ở

mức cao do NHNN thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt.

Nhìn chung, trong thời gian qua, BIDV luôn chấp hành cơ chế điều

hành lãi suất của NHNN. Đồng thời, BIDV cũng ln thực hiện chính sách lãi

suất có tính dẫn dắt thị trường theo chính sách tiền tệ của Chính phủ và

NHNN. Trong từng thời điểm, nhất là trong thời kỳ khủng hoảng, BIDV luôn

đưa ra các mức lãi suất cho vay thấp hơn mặt bằng chung khoảng 0,51%/năm, đồng thời có chính sách lãi suất ưu đãi cho những đối tượng ưu tiên

như cho vay xuất khẩu, cho vay hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ…

Tóm lại, đặc điểm nổi bật trong chính sách lãi suất của BIDV thời gian

qua là tính tuân thủ và tính dẫn dắt thị trường. Mục tiêu của chính sách lãi



33



suất của BIDV thời gian này không đề cao lợi nhuận mà mục tiêu hàng đầu là

tạo “dấu ấn thị trường” và góp phần thực thi chính sách tiền tệ của NHNN.

2.1.2. Về mơ hình tổ chức quản trị rủi ro lãi suất

Xem xét mơ hình tổ chức quản trị rủi ro lãi suất tại BIDV, có thể rút ra

một số nhận xét, đó là:

- Rủi ro lãi suất được BIDV quan niệm là một loại rủi ro thị trường và

được gộp chung với rủi ro thị trường để quản lý.

- Mơ hình tổ chức đã được cơ cấu lại theo hướng ngân hàng hiện đại.

Chức năng quản lý rủi ro được tổ chức độc lập về mơ hình, nhiệm vụ

và kênh báo cáo; thực hiện quản lý rủi ro trước, trong và sau quá trình

hoạt động kinh doanh. Tháng 8/2004, theo dự án TA1, BIDV đã thành

lập Ban quản lý rủi ro có chức năng quản lý rủi ro và công tác quản lý

chất lượng (ISO). Chức năng quản lý rủi ro gộp chung rủi ro tín dụng,

rủi ro thị trường và rủi ro tác nghiệp. Năm 2008, theo mơ hình tổ chức

mới (TA2), tiến hành thành lập Ban quản lý rủi ro tín dụng, Ban quản lý

rủi ro thị trường và tác nghiệp. Ban quản lý rủi ro thị trường và tác

nghiệp thực hiện các chức năng : quản lý rủi ro thị trường, rủi ro tác

nghiệp, ISO và phòng chống rửa tiền. Nhiệm vụ quản lý rủi ro lãi suất

được giao cho Phòng quản lý rủi ro thị trường thuộc Ban quản lý rủi ro

thị trường và tác nghiêp. (Xem phụ lục 2.1: Mơ hình tổ chức của

BIDV).

- Chưa có Hội đồng quản lý rủi ro thuộc Hội đồng quản trị có trách

nhiệm xây dựng chiến lược quản trị rủi ro và chính sách quản trị rủi ro.

Như vậy, trách nhiệm quản lý rủi ro không được xác định rõ ở cấp quản

trị cao nhất là Hội đồng quản trị.

2.1.3. Về xây dựng chính sách quản trị rủi ro lãi suất



34



- Hội đồng quản trị đã ban hành được Chính sách quản lý rủi ro thị

trường (Quyết định số 1165/QĐ-HĐQT ngày 25/11/2009). Quyết định

này đã quy định rõ khung pháp lý quản lý rủi ro thị trường, các công

cụ, phương pháp quản lý được áp dụng phù hợp với mơ hình tổ chức,

trình độ quản lý, trình độ công nghệ và quy mô hoạt động kinh doanh

hiện tại của BIDV. Theo quyết định này, công tác quản lý rủi ro được

quản lý tập trung tại Hội sở chính. Quyết định cũng đã quy định rõ trình

tự, thủ tục phê duyệt chính sách, mức chấp nhận rủi ro, các hạn mức và

giới hạn và các công cụ liên quan.

- Ngồi chính sách quản lý rủi ro thị trường đã được ban hành, BIDV

chưa có các văn bản mang tính quy trình nghiệp vụ để hướng dẫn thực

hiện quản trị rủi ro lãi suất.

2.1.4. Về vận dụng các mô hình đo lường rủi ro lãi suất

Mặc dù đã xây dựng được chính sách quản lý rủi ro thị trường (theo

quan niệm của BIDV rủi ro lãi suất được coi là một loại rủi ro thị trường và

được quản lý chung với các rủi ro thị trường khác) nhưng trên thực tế thời

gian qua việc đo lường rủi ro lãi suất chưa được BIDV thực hiện một cách

bài bản và thường xuyên. BIDV đã xây dựng được chương trình quản lý giá

trị chịu rủi ro VaR lãi suất theo phương pháp mô phỏng lịch sử từ tháng

9/2008. Tuy nhiên, chương trình do BIDV tự viết, còn đơn giản. Hơn nữa,

việc sử dụng VaR để đo lường rủi ro lãi suất là khơng chính xác vì VaR chỉ

áp dụng đối với các tài sản giao dịch trên thị trường một cách dễ dàng như

chứng khoán, ngoại hối… Điều này bắt nguồn từ việc BIDV quan niệm rủi

ro lãi suất là một loại rủi ro thị trường.

Từ năm 2008, BIDV đã sử dụng phương pháp đo lường khe hở nhạy

cảm lãi suất cho các giỏ kỳ hạn dưới 1 năm. Việc đo lường được tính tốn

thủ cơng, chưa có phần mềm chuẩn để hỗ trợ tính tốn. Tần suất đo lường 6



35



tháng/lần. Kết quả đo lường khe hở nhạy cảm lãi suất chưa được sử dụng để

phục vụ cho chiến lược cơ cấu lại bảng cân đối, nên trên thực tế việc đo

lường rủi ro còn nặng tính hình thức, chưa mang lại hiệu quả thiết thực.

2.1.5. Về các giải pháp hạn chế rủi ro lãi suất

Trong năm 2008, do sự biến động mạnh lãi suất của thị trường, BIDV

đã gặp phải rủi ro lãi suất và chịu thiệt hại khá lớn. Con số thiệt hại do rủi ro

lãi suất ước tính khoảng 1.580 tỷ đồng (xem phụ lục số 2.2). Nhận thấy được

rủi ro lãi suất tác động đến thu nhập của ngân hàng, BIDVđã thực hiện nhiều

giải pháp để hạn chế tổn thất do rủi ro lãi suất mang lại. Các biện pháp đã

thực hiện gồm:

- Chỉ đạo các chi nhánh thương thảo với khách hàng để điều chỉnh tăng

lãi suất phù hợp với thị trường. Đây là một giải pháp mang tính tình thế

và có thể coi là giải pháp “thiếu chuẩn mực” và “riêng có” ở Việt Nam.

Tuy nhiên, nó đã phát huy tác dụng và hạn chế phần nào tổn thất cho

ngân hàng.

- Chuyển từ cho vay lãi suất cố định sang lãi suất thả nổi. Trước đây,

BIDV không ràng buộc các chi nhánh về áp dụng lãi suất thả nổi. Vì

vậy, tình trạng cố định lãi suất trong các hợp đồng tín dụng khá phổ

biến. Nhưng từ nửa cuối năm 2008, BIDV đã chỉ đạo các chi nhánh áp

dụng cho vay lãi suất thả nổi, kỳ điều chỉnh lãi suất đối với trung, dài

hạn ít nhất 6 tháng/lần, ngắn hạn ít nhất 3 tháng/lần. Đây có thể coi là

một bước đột phá của BIDV trong việc áp dụng các biện pháp hạn chế

rủi ro lãi suất.

- Tiến thêm một bước nữa trong việc hạn chế rủi ro lãi suất, từ tháng 5

năm 2009, BIDV đã rút ngắn kỳ hạn điều chỉnh lãi suất xuống không

quá 3 tháng. Hơn nữa, BIDV bỏ chế độ biên độ lãi suất (tức là lãi suất



36



thả nổi bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm cộng biên độ nhất định) và áp

dụng lãi suất theo thông báo của BIDV (Lãi suất do BIDV thông báo tại

thời điểm điều chỉnh). Đây là một giải pháp mang tính áp đặt đối với

khách hàng, thực chất là chuyển rủi ro lãi suất cho khách hàng. Tuy

nhiên, giải pháp này được xem là “chấp nhận được” trong điều kiện

NHNN áp dụng cơ chế quản lý khống chế mức trần lãi suất huy động

và khó dự báo xu hướng biến động của lãi suất như hiện nay.

2.1.6. Về công tác tuyên truyền và đào tạo

BIDV đã tổ chức được 2 đợt tập huấn về quản lý rủi ro thị trường đến

lãnh đạo cấp phòng ở chi nhánh và hội sở, quan tâm đến cập nhật trình độ cho

cán bộ quản lý rủi ro thị trường tại Hội sở. Nhờ đó, trình độ nhận thức của đội

ngũ lãnh đạo và cán bộ trực tiếp làm công tác quản lý rủi ro thị trường đã

được nâng lên một bước. Tuy nhiên, nội dung đào tạo liên quan đến rủi ro lãi

suất còn khá đơn giản, được gộp chung vào rủi ro thị trường, nên nhận thức

về rủi ro lãi suất và quản trị rủi ro lãi suất còn mới mẽ và khá mơ hồ trong hầu

hết các cấp quản lý cũng như các nhân viên tại chi nhánh.

2.1.7. Đánh giá thành công và hạn chế của công tác quản trị rủi ro lãi suất

và việc vận dụng các mô hình đo lường rủi ro lãi suất tại BIDV thời

gian qua

a. Thành công

- Đã bước đầu nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản trị rủi

ro lãi suất.

- Đã tuân thủ chặt chẻ các quy định về lãi suất huy động và cho vay của

NHNN.



37



- Lãi suất cho vay, huy động được điều chỉnh kịp thời theo biến động của

thị trường. Đặc biệt đã áp dụng chính sách thả nổi lãi suất để hạn chế

tổn thất do biến động lãi suất gây ra.

- Đã bước đầu sử dụng phương pháp đo lường khe hở nhạy cảm lãi suất

để giám sát rủi ro lãi suất.

b. Hạn chế

- Mơ hình tổ chức quản trị rủi ro lãi suất đã được đổi mới một bước

nhưng còn một số bất cập. Đó là:

o Rủi ro lãi suất chưa được coi là một loại rủi ro độc lập, tách bạch

với rủi ro thị trường để nhận diện và quản lý riêng mà được quản

lý chung trong các loại rủi ro thị trường.

o Trách nhiệm quản trị rủi ro không được xác định rõ ở cấp quản

trị cao nhất là Hội đồng quản trị do thiếu Hội đồng quản lý rủi ro

trực thuộc Hội đồng quản trị.

- Công tác quản trị rủi ro lãi suất chưa được quan tâm toàn diện và đúng

mức, thể hiện ở chỗ chưa xây dựng được các quy trình, hướng dẫn cụ

thể về quản trị rủi ro lãi suất.

- Nhận thức về rủi ro lãi suất và quản trị rủi ro lãi suất chưa đầy đủ và

toàn diện, chỉ mới dừng lại ở chỗ nhận biết có rủi ro khi lãi suất thị

trường thay đổi, mà chưa đo lường, đánh giá cụ thể mức độ rủi ro có

thể gây thiệt hại cho ngân hàng. Biện pháp đo lường mà BIDV đang áp

dụng thuộc về mơ hình tái định giá nhưng việc thực hiện còn giản lược,

chưa triệt để nên còn nhiều hạn chế.

- Về phòng ngừa rủi ro lãi suất, các biện pháp chỉ mới mang tính tình thế,

thực chất là “đẩy” rủi ro lãi suất cho khách hàng, mà chưa có các giải



38



pháp tích cực để duy trì sự cân xứng về kỳ hạn giữa Tài sản và Nợ. Các

nghiệp vụ phái sinh trong phòng ngừa rủi ro lãi suất hầu như chưa được

áp dụng.

2.2.



Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quản trị rủi ro lãi

suất nói chung, việc vận dụng mơ hình tái định giá trong quản trị

rủi ro nói riêng tại BIDV



2.2.1. Các nhân tố bên ngoài

2.2.1.1. Cơ chế điều hành lãi suất của ngân hàng nhà nước

Cơ chế điều hành lãi suất của ngân hàng nhà nước ảnh hưởng trực tiếp

đến hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng thương mại. Có thể

khái quát lại diễn biến quá trình thay đổi cơ chế điều hành lãi suất của NHNN

Việt Nam trong thời gian qua với các mốc chính như sau:





Cơ chế lãi suất thực âm và cố định (trước năm 1992).







Cơ chế lãi suất thực dương và điều hành theo khung lãi suất



(6/1992 – 1995): Quy định khung lãi suất tối thiểu về tiền gửi và tối đa về tiền

vay.





Cơ chế lãi suất thực dương và trần lãi suất cho vay (1996 –



7/2000): NHNN quy định các mức lãi suất trần cho vay theo thời hạn cho vay

và khống chế mức chênh lệch giữa lãi suất cho vay với lãi suất huy động vốn

bình quân ở mức 0,35%/tháng. Từ tháng 1/1998 bỏ quy định chênh lệch giữa

lãi suất cho vay và lãi suất huy động, chỉ qui định trần lãi suất cho vay.





Cơ chế lãi suất cơ bản kèm biên độ (8/2000 – 5/2002): NHNN



thông báo 2 chỉ tiêu là lãi suất cơ bản và biên độ lãi suất trong từng thời kỳ.





Cơ chế lãi suất thỏa thuận (6/2002 – 5/2008;).



39







Cơ chế lãi suất cơ bản theo điều 476 Bộ luật dân sự 2005



(6/2008 –2/2010): Khống chế lãi suất cho vay không quá 150% lãi suất cơ

bản theo thông báo của NHNN. Lãi suất huy động được khống chế mức trần

bằng các quyết định hành chính.





Cơ chế lãi suất cho vay thỏa thuận, khống chế lãi suất huy động:



(3/2010 đến nay).

Đánh giá tiến trình điều chỉnh cơ chế quản lý lãi suất ở nước ta thời

gian qua, có thể rút ra một số nhận xét như sau:

- Cơ chế điều hành lãi suất đã thể hiện sự nỗ lực của NHNN trong việc

giảm dần các can thiệp hành chính trực tiếp, từng bước tiến tới tự do

hóa lãi suất. Cơ chế lãi suất thỏa thuận đã được thực hiện từ tháng

6/2002 thực sự tạo ra sự đổi mới căn bản trong cơ chế điều hành lãi

suất. Lãi suất phản ánh sát hơn với quan hệ cung cầu tiền tệ trên thị

trường.

- Tuy nhiên, cơ chế điều hành lãi suất thiếu nhất quán và không ổn định

đã gây không ít khó khăn cho hoạt động của các ngân hàng thương mại.

Sự quay lại khống chế trần lãi suất cho vay thông qua cơ chế lãi suất cơ

bản từ tháng 6/2008 có thể coi là một sự “thụt lùi” về chính sách. Đến

tháng 3/2010, lãi suất cho vay trung dài hạn bằng VND được thực hiện

cơ chế lãi suất thỏa thuận trở lại (sau đó là cả đối với cho vay ngắn

hạn), nhưng lãi suất huy động vẫn được NHNN khống chế bằng nhiều

hình thức khác nhau. Đặc biệt, ngày 3/3/2011, NHNN ban hành thơng

tư 02/2011/TT-NHNN chính thức quy định mức trần lãi suất huy động

bằng đồng Việt Nam không quá 14% năm đối với các ngân hàng

thương mại và 14,5% đối với các quỹ tín dụng nhân dân. Việc quy định



40



một mức trần lãi suất huy động cho thấy sự thiếu nhất quán và đồng bộ

trong chính sách quản lý lãi suất của NHNN.

- Lãi suất cho vay cuối cùng cũng đã được tự do hóa (cơ chế thỏa thuận),

nhưng lãi suất huy động luôn bị khống chế bằng nhiều hình thức khác

nhau (quy định biên độ, trần, chỉ đạo hành chính, thơng qua hiệp hội

ngân hàng…) Theo ngun tắc của thị trường, lãi suất tiền gửi luôn

phản ánh rủi ro của người nhận tiền gửi (là các ngân hàng). Ngân hàng

có rủi ro cao thì phải huy động với lãi suất cao và ngược lại. Hiện nay,

hệ thống ngân hàng Việt Nam có sự chênh lệch rất lớn giữa các ngân

hàng về năng lực tài chính cũng như khả năng quản trị rủi ro. Vì vậy,

theo nguyên tắc thị trường thì phải có sự chênh lệch trong lãi suất huy

động giữa các ngân hàng. Tuy nhiên, để giữ ổn định chung, hạn chế

chạy đua lãi suất có thể làm rối loạn thị trường, NHNN luôn khống chế

trần lãi suất huy động ở những hình thức và mức độ khác nhau.

Cơ chế điều hành lãi suất của NHNN thời gian quan đã ảnh hưởng rất

lớn đến công tác quản trị rủi ro lãi suất của BIDV, cụ thể ở những điểm chính

sau:

- Khó thực hiện dự báo biến động của lãi suất do chính sách liên tục thay

đổi, thiếu minh bạch và nhất quán. Trên thực tế, cũng như nhiều ngân

hàng khác, BIDV không thể thực hiện dự báo xu hướng lãi suất, mà hầu

như bị động chạy theo thị trường. Từ thực tế đó, giải pháp phòng ngừa

rủi ro lãi suất chủ yếu là giải pháp tình thế và trên thực tế BIDV đã áp

dụng giải pháp là chuyển rủi ro lãi suất của ngân hàng cho khách hàng.

Giải pháp mang tính căn cơ là điều chỉnh lại bảng cân đối kế tốn

khơng được BIDV quan tâm thực hiện.



41



- Với cơ chế lãi suất huy động luôn bị khống chế trần ở các hình thức và

mức độ khác nhau, BIDV thường xuyên gặp khó khăn trong việc huy

động vốn do hạn chế khả năng “phá rào”, “lách luật” so với các ngân

hàng thương mại cổ phần. Dùng công cụ lãi suất để cơ cấu lại danh

mục nợ không có tác dụng.

2.2.1.2. Sự phát triển của thị trường cơng cụ tài chính phái sinh ở Việt Nam

Sử dụng cơng cụ tài chính phái sinh để phòng ngừa rủi ro lãi suất là

một giải pháp hữu hiệu. Tuy nhiên, khả năng vận dụng chúng lại tùy thuộc

vào sự phát triển của thị trường cơng cụ tài chính phái sinh.

Hiện nay, ở nước ta thị trường cơng cụ tài chính phái sinh còn chưa

phát triển. Các cơng cụ tài chính phái sinh nghèo nàn, ít được các doanh

nghiệp hoặc các tổ chức tài chính sử dụng, thị trường chính thức chưa được

thiết lập, thị trường phi chính thức nhỏ lẻ và hoạt động khơng thường xun.

Loại cơng cụ tài chính phái sinh phổ biến hiện nay ở nước ta là phái sinh tiền

tệ. Ngồi ra, một số ít ngân hàng thương mại Việt nam đang được NHNN cho

phép thí điểm thực hiện giao dịch một số cơng cụ tài chính phái sinh khác như

hoán đổi lãi suất, quyền chọn vàng, hợp đồng kỳ hạn về hàng hóa… nhưng

hoạt động giao dịch diễn ra không nhiều, kém sôi động.

Do thị trường tài chính phái sinh còn chưa phát triển, nên khả năng sử

dụng các cơng cụ tài chính phái sinh để phòng ngừa rủi ro lãi suất rất bị hạn

chế. Trên thực tế, cũng như nhiều ngân hàng khác, BIDV rất ít sử dụng cơng

cụ này để phòng ngừa rủi ro lãi suất. Đây là một hạn chế của hoạt động quản

trị rủi ro lãi suất hiện nay tại BIDV.

2.2.1.3. Cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng

Cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng đặt ra yêu cầu về nâng cao hiệu

quả công tác quản trị rủi ro nói chung và quản trị rủi ro lãi suất nói riêng. Vì

vậy, đặc điểm của cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng sẽ có ảnh hưởng nhất

định đến đặc điểm của công tác quản trị rủi ro lãi suất của từng ngân hàng.



42



Xem xét tình hình cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng thời gian qua

ảnh hưởng đến hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của BIDV, có thể rút ra một

số nhận xét sau:

- Về cạnh tranh ngoài ngành: ngành ngân hàng Việt nam hiện đang giữ

vị thế “độc quyền tương đối” so với các ngành khác. Cạnh tranh chủ

yếu diễn ra trong nội bộ ngành ngân hàng, cạnh tranh giữa ngành ngân

hàng và các ngành khác khơng đáng kể. Với chính sách hạn chế cấp

phép mới thành lập ngân hàng, nâng quy định vốn pháp định lên 3000

tỷ từ năm 2010, đồng thời thắt chặt các quy định về mở rộng mạng lưới

của các ngân hàng thương mại trong thời gian gần đây (từ năm 2008

đến nay), ngành ngân hàng được xem là có rào cản gia nhập ngành lớn.

Cạnh tranh chủ yếu là cạnh tranh trong nội bộ ngành, còn cạnh tranh

ngồi ngành khơng mạnh mẽ như ở nhiều ngành khác. Bằng chứng là

trong những năm 2008 đến nay, mặc dù hầu hết các ngành đều gặp khó

khăn trong sản xuất - kinh doanh do khủng hoảng kinh tế, nhiều doanh

nghiệp thua lỗ, phá sản hoặc sản xuất kinh doanh cầm chừng … nhưng

hầu hết các ngân hàng đều có lãi lớn.

- Về cạnh tranh trong nội bộ ngành: trong nội bộ ngành ngân hàng, cạnh

tranh cũng mang tính đặc thù. Tính đến nay, nước ta có khoảng hơn 80

ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài và 18 cơng

ty tài chính. Tuy nhiên, quy mơ hoạt động, quy mô về vốn và tài sản,

năng lực quản trị điều hành… có sự chênh lệch rất lớn. Ngoại trừ 5

ngân hàng thương mại quốc doanh và có nguồn gốc từ quốc doanh và

một số ít ngân hàng cổ phần lớn như ACB, Sacombank, Techcombank,

còn lại đa phần đều là các ngân hàng nhỏ, mới được thành lập từ năm

1993 trở lại đây, vốn tự có thấp, năng lực quản trị điều hành còn hạn

chế, đang trong giai đoạn tập trung mở rộng quy mô mà chưa chú ý



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 2.2: Lãi suất cho vay của BIDV qua các năm

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×