Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT VÀ VẬN DỤNG CÁC MÔ HÌNH ĐO LƯỜNG RỦI RO LÃI SUẤT TẠI BIDV

THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT VÀ VẬN DỤNG CÁC MÔ HÌNH ĐO LƯỜNG RỦI RO LÃI SUẤT TẠI BIDV

Tải bản đầy đủ - 0trang

29



2.1.



Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất và vận dụng các mơ hình đo

lường rủi ro lãi suất tại BIDV thời gian qua



2.1.1. Về chính sách lãi suất của ngân hàng

Chính sách lãi suất của BIDV thay đổi theo từng thời kỳ, tùy vào tình

hình kinh tế trong và ngoài nước, đặc điểm thị trường và cơ chế điều hành lãi

suất của ngân hàng nhà nước. Trong giai đoạn 2007 – 2011, chính sách lãi

suất của BIDV có thể khái quát như sau:

2.1.1.1.Về lãi suất huy động

Nếu như trong năm 2007 lãi suất huy động Việt nam đồng (VNĐ) được

duy trì tương đối ổn định (7,8%-8,2%) đối với kỳ hạn 3 tháng, 7,8%-9% đối

với kỳ hạn 6 tháng, 8,4%-9% đối với kỳ hạn 12 tháng) thì bước sang năm

2008, lãi suất huy động của BIDV đã tăng mạnh để thu hút tiền gửi của dân

cư. Chính sách hạn chế cung tiền của NHNN là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến

tình trạng khan hiếm tiền mặt, đã đẩy các ngân hàng vào cuộc đua tăng lãi

suất nhằm duy trì thanh khoản. Lãi suất huy động của BIDV đã có lúc đạt đến

17,5%/năm cho kỳ hạn 12 tháng (trong khi có một số ngân hàng lãi suất huy

động lên đến 19,5%/năm). Nửa cuối năm 2008, khi lạm phát đã được kiểm

soát, lãi suất huy động đã được điều chỉnh giảm, phổ biến ở mức 9%-9,5%

cho các kỳ hạn.



Bảng 2.1: Biến động lãi suất huy động của BIDV qua các năm

Kỳ hạn



2007



2008



Kỳ hạn 3 tháng



7,8-8,2%



9-17%



2009



2010



6/2011



7-10,45% 10,45-11,5% 13,5-14%



30



Kỳ hạn 6 tháng



7,8-9%



9-17,5% 7,5-10,2% 10,45-11,5% 13,5-14%



Kỳ hạn 12 tháng



8,4-9%



9-17,5%



8-10,3%



10,49-11,5% 13,5-14%



Nguồn: Biểu lãi suất huy động của BIDV

Bước sang năm 2009, do áp lực về vốn để thực hiện chính sách cho vay

ưu đãi của Chính Phủ, làn sóng đua tăng lãi suất vẫn chưa có dấu hiệu dừng.

Lãi suất huy động các kỳ hạn 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng duy trì ở mức tương

ứng là 7%-9%/năm, 7,5%-9,5%/năm, 8-9,7%/năm.

Đến cuối năm 2009, NHNN ban hành văn bản số 9484/NHNN-VP ngày

2/12/2009 với nội dung chính là : “ Để tạo ổn định mặt bằng lãi suất chung,

các ngân hàng thương mại áp dụng lãi suất huy động VNĐ cao nhất dưới

10,5%/năm”. Sau quy định này, vô hình chung mốc 10,5%/năm trở thành trần

lãi suất huy động VNĐ của các ngân hàng. BIDV cũng nâng lãi suất huy động

lên mức 10,45%, gần sát với mức trần.

Bắt đầu từ tháng 4/2010, các ngân hàng thương mại trong nước đã nhìn

nhận thẳng thắn hơn về mức trần lãi suất huy động khi cho rằng hiện khơng

có quy định nào về giới hạn trần lãi suất huy động. Mốc 10,5%/năm chỉ là

một mức mà trước đó NHNN xác định để kiểm tra những trường hợp đẩy lãi

suất vượt mốc này có vấn đề thanh khoản hay khơng. Vì vậy, các ngân hàng

thương mại đã lần lượt đẩy lãi suất huy động lên. Lãi suất huy động của

BIDV cũng tăng theo lên mức 11,5%/năm ở hầu hết các kỳ hạn, tương đương

với mức lãi suất ở các ngân hàng khác.

Trong năm 2011, NHNN tiếp tục thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ

để kiềm chế lạm phát, nhiều ngân hàng gặp khó khăn về thanh khoản. Cuộc

đua lãi suất lại tiếp tục. Lãi suất huy động trên thị trường tăng cao, có ngân

hàng huy động đến mức 17%/năm. Trước tình hình đó, ngày 3/3/2011,



31



NHNN ban hành thơng tư 02/2011/TT-NHNN chính thức quy định mức trần

lãi suất huy động bằng đồng Việt Nam không quá 14% năm đối với các ngân

hàng thương mại và 14,5% đối với các quỹ tín dụng nhân dân. Lãi suất huy

động của BIDV trong 6 tháng đầu năm 2011 duy trì ở mức 13,5-14%/năm ở

hầu hết các kỳ hạn.

Nhìn chung, chính sách lãi suất huy động của BIDV trong thời gian qua

luôn chấp hành chỉ đạo của NHNN và bám sát thị trường. Đồng thời, BIDV

luôn đi đầu trong việc thực hiện chủ trương của Chính phủ và NHNN trong

việc bình ổn thị trường tiền tệ, thể hiện ở chỗ BIDV luôn đưa ra các mức lãi

suất huy động ở mức vừa phải khi thị trường “nóng” và dẫn đầu việc hạ lãi

suất khi thị trường “hạ nhiệt”.

2.1.1.2. Về lãi suất cho vay

Trong năm 2007, lãi suất cho vay tương đối ổn định, ngắn hạn duy trì

từ mức 10,5-10,8%/năm, trung dài hạn duy trì từ 12-13,2%.

Năm 2008 là năm có lãi suất biến động mạnh nhất. Bắt đầu từ tháng

5/2008, với cơ chế điều hành lãi suất cho vay theo lãi suất cơ bản (cho vay

không quá 150% lãi suất cơ bản) lãi suất cho vay tăng dần và đạt đỉnh

21%/năm vào tháng 6 sau đó giảm dần vào cuối năm. Lãi suất cho vay trung

dài hạn cao hơn cho vay ngắn hạn khoảng 1,2-1,5%/năm. Trong giai đoạn

này, do chi phí huy động vốn cao, nhiều ngân hàng đã áp dụng thu thêm nhiều

khoản phí ngồi lãi suất với mức thu từ 0,5-4%/năm, nhưng BIDV vẫn không

thực hiện thu thêm phí.

Bảng 2.2: Lãi suất cho vay của BIDV qua các năm

Loại vay

Ngắn hạn



2007



2008



2009



2010



6/2011



10,5-10,8%



10,8-21



8,0 -13,2



10,5-15,5



14,5-21



32



Trung, dài

hạn



12-13,2%



13,2-21



10,5-15



14-18,5



16,8-22,2



Nguồn: Thông báo lãi suất cho vay của BIDV

Năm 2009, lãi suất cho vay đã được “hạ nhiệt” và duy trì từ 813,2%/năm đối với ngắn hạn. Đối với cho vay trung dài hạn, lãi suất thỏa

thuận đã được mở cho các khoản vay tiêu dùng, phục vụ đời sống, cơ chế lãi

suất cho vay không vượt quá 150% lãi suất cơ bản vẫn duy trì đối với khách

hàng doanh nghiệp và các khoản vay sản xuất kinh doanh.

Bước sang năm 2010, cơ chế lãi suất thỏa thuận đã được mở đối với

cho vay trung dài hạn, và sau đó cả cho vay ngắn hạn. Lãi suất cho vay được

gở bỏ trần và có xu hướng tăng lên, lãi suất cho vay ngắn hạn nằm trong

khoảng từ 10,5-15,5%/năm, lãi suất cho vay trung – dài hạn nằm trong

khoảng 14-18,5%/năm.

Trong những tháng đầu năm 2011, lãi suất cho vay tiếp tục duy trì ở

mức cao do NHNN thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt.

Nhìn chung, trong thời gian qua, BIDV ln chấp hành cơ chế điều

hành lãi suất của NHNN. Đồng thời, BIDV cũng ln thực hiện chính sách lãi

suất có tính dẫn dắt thị trường theo chính sách tiền tệ của Chính phủ và

NHNN. Trong từng thời điểm, nhất là trong thời kỳ khủng hoảng, BIDV luôn

đưa ra các mức lãi suất cho vay thấp hơn mặt bằng chung khoảng 0,51%/năm, đồng thời có chính sách lãi suất ưu đãi cho những đối tượng ưu tiên

như cho vay xuất khẩu, cho vay hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ…

Tóm lại, đặc điểm nổi bật trong chính sách lãi suất của BIDV thời gian

qua là tính tuân thủ và tính dẫn dắt thị trường. Mục tiêu của chính sách lãi



33



suất của BIDV thời gian này không đề cao lợi nhuận mà mục tiêu hàng đầu là

tạo “dấu ấn thị trường” và góp phần thực thi chính sách tiền tệ của NHNN.

2.1.2. Về mơ hình tổ chức quản trị rủi ro lãi suất

Xem xét mơ hình tổ chức quản trị rủi ro lãi suất tại BIDV, có thể rút ra

một số nhận xét, đó là:

- Rủi ro lãi suất được BIDV quan niệm là một loại rủi ro thị trường và

được gộp chung với rủi ro thị trường để quản lý.

- Mơ hình tổ chức đã được cơ cấu lại theo hướng ngân hàng hiện đại.

Chức năng quản lý rủi ro được tổ chức độc lập về mơ hình, nhiệm vụ

và kênh báo cáo; thực hiện quản lý rủi ro trước, trong và sau quá trình

hoạt động kinh doanh. Tháng 8/2004, theo dự án TA1, BIDV đã thành

lập Ban quản lý rủi ro có chức năng quản lý rủi ro và công tác quản lý

chất lượng (ISO). Chức năng quản lý rủi ro gộp chung rủi ro tín dụng,

rủi ro thị trường và rủi ro tác nghiệp. Năm 2008, theo mơ hình tổ chức

mới (TA2), tiến hành thành lập Ban quản lý rủi ro tín dụng, Ban quản lý

rủi ro thị trường và tác nghiệp. Ban quản lý rủi ro thị trường và tác

nghiệp thực hiện các chức năng : quản lý rủi ro thị trường, rủi ro tác

nghiệp, ISO và phòng chống rửa tiền. Nhiệm vụ quản lý rủi ro lãi suất

được giao cho Phòng quản lý rủi ro thị trường thuộc Ban quản lý rủi ro

thị trường và tác nghiêp. (Xem phụ lục 2.1: Mơ hình tổ chức của

BIDV).

- Chưa có Hội đồng quản lý rủi ro thuộc Hội đồng quản trị có trách

nhiệm xây dựng chiến lược quản trị rủi ro và chính sách quản trị rủi ro.

Như vậy, trách nhiệm quản lý rủi ro không được xác định rõ ở cấp quản

trị cao nhất là Hội đồng quản trị.

2.1.3. Về xây dựng chính sách quản trị rủi ro lãi suất



34



- Hội đồng quản trị đã ban hành được Chính sách quản lý rủi ro thị

trường (Quyết định số 1165/QĐ-HĐQT ngày 25/11/2009). Quyết định

này đã quy định rõ khung pháp lý quản lý rủi ro thị trường, các công

cụ, phương pháp quản lý được áp dụng phù hợp với mơ hình tổ chức,

trình độ quản lý, trình độ cơng nghệ và quy mô hoạt động kinh doanh

hiện tại của BIDV. Theo quyết định này, công tác quản lý rủi ro được

quản lý tập trung tại Hội sở chính. Quyết định cũng đã quy định rõ trình

tự, thủ tục phê duyệt chính sách, mức chấp nhận rủi ro, các hạn mức và

giới hạn và các cơng cụ liên quan.

- Ngồi chính sách quản lý rủi ro thị trường đã được ban hành, BIDV

chưa có các văn bản mang tính quy trình nghiệp vụ để hướng dẫn thực

hiện quản trị rủi ro lãi suất.

2.1.4. Về vận dụng các mơ hình đo lường rủi ro lãi suất

Mặc dù đã xây dựng được chính sách quản lý rủi ro thị trường (theo

quan niệm của BIDV rủi ro lãi suất được coi là một loại rủi ro thị trường và

được quản lý chung với các rủi ro thị trường khác) nhưng trên thực tế thời

gian qua việc đo lường rủi ro lãi suất chưa được BIDV thực hiện một cách

bài bản và thường xuyên. BIDV đã xây dựng được chương trình quản lý giá

trị chịu rủi ro VaR lãi suất theo phương pháp mô phỏng lịch sử từ tháng

9/2008. Tuy nhiên, chương trình do BIDV tự viết, còn đơn giản. Hơn nữa,

việc sử dụng VaR để đo lường rủi ro lãi suất là khơng chính xác vì VaR chỉ

áp dụng đối với các tài sản giao dịch trên thị trường một cách dễ dàng như

chứng khoán, ngoại hối… Điều này bắt nguồn từ việc BIDV quan niệm rủi

ro lãi suất là một loại rủi ro thị trường.

Từ năm 2008, BIDV đã sử dụng phương pháp đo lường khe hở nhạy

cảm lãi suất cho các giỏ kỳ hạn dưới 1 năm. Việc đo lường được tính tốn

thủ cơng, chưa có phần mềm chuẩn để hỗ trợ tính toán. Tần suất đo lường 6



35



tháng/lần. Kết quả đo lường khe hở nhạy cảm lãi suất chưa được sử dụng để

phục vụ cho chiến lược cơ cấu lại bảng cân đối, nên trên thực tế việc đo

lường rủi ro còn nặng tính hình thức, chưa mang lại hiệu quả thiết thực.

2.1.5. Về các giải pháp hạn chế rủi ro lãi suất

Trong năm 2008, do sự biến động mạnh lãi suất của thị trường, BIDV

đã gặp phải rủi ro lãi suất và chịu thiệt hại khá lớn. Con số thiệt hại do rủi ro

lãi suất ước tính khoảng 1.580 tỷ đồng (xem phụ lục số 2.2). Nhận thấy được

rủi ro lãi suất tác động đến thu nhập của ngân hàng, BIDVđã thực hiện nhiều

giải pháp để hạn chế tổn thất do rủi ro lãi suất mang lại. Các biện pháp đã

thực hiện gồm:

- Chỉ đạo các chi nhánh thương thảo với khách hàng để điều chỉnh tăng

lãi suất phù hợp với thị trường. Đây là một giải pháp mang tính tình thế

và có thể coi là giải pháp “thiếu chuẩn mực” và “riêng có” ở Việt Nam.

Tuy nhiên, nó đã phát huy tác dụng và hạn chế phần nào tổn thất cho

ngân hàng.

- Chuyển từ cho vay lãi suất cố định sang lãi suất thả nổi. Trước đây,

BIDV không ràng buộc các chi nhánh về áp dụng lãi suất thả nổi. Vì

vậy, tình trạng cố định lãi suất trong các hợp đồng tín dụng khá phổ

biến. Nhưng từ nửa cuối năm 2008, BIDV đã chỉ đạo các chi nhánh áp

dụng cho vay lãi suất thả nổi, kỳ điều chỉnh lãi suất đối với trung, dài

hạn ít nhất 6 tháng/lần, ngắn hạn ít nhất 3 tháng/lần. Đây có thể coi là

một bước đột phá của BIDV trong việc áp dụng các biện pháp hạn chế

rủi ro lãi suất.

- Tiến thêm một bước nữa trong việc hạn chế rủi ro lãi suất, từ tháng 5

năm 2009, BIDV đã rút ngắn kỳ hạn điều chỉnh lãi suất xuống không

quá 3 tháng. Hơn nữa, BIDV bỏ chế độ biên độ lãi suất (tức là lãi suất



36



thả nổi bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm cộng biên độ nhất định) và áp

dụng lãi suất theo thông báo của BIDV (Lãi suất do BIDV thông báo tại

thời điểm điều chỉnh). Đây là một giải pháp mang tính áp đặt đối với

khách hàng, thực chất là chuyển rủi ro lãi suất cho khách hàng. Tuy

nhiên, giải pháp này được xem là “chấp nhận được” trong điều kiện

NHNN áp dụng cơ chế quản lý khống chế mức trần lãi suất huy động

và khó dự báo xu hướng biến động của lãi suất như hiện nay.

2.1.6. Về công tác tuyên truyền và đào tạo

BIDV đã tổ chức được 2 đợt tập huấn về quản lý rủi ro thị trường đến

lãnh đạo cấp phòng ở chi nhánh và hội sở, quan tâm đến cập nhật trình độ cho

cán bộ quản lý rủi ro thị trường tại Hội sở. Nhờ đó, trình độ nhận thức của đội

ngũ lãnh đạo và cán bộ trực tiếp làm công tác quản lý rủi ro thị trường đã

được nâng lên một bước. Tuy nhiên, nội dung đào tạo liên quan đến rủi ro lãi

suất còn khá đơn giản, được gộp chung vào rủi ro thị trường, nên nhận thức

về rủi ro lãi suất và quản trị rủi ro lãi suất còn mới mẽ và khá mơ hồ trong hầu

hết các cấp quản lý cũng như các nhân viên tại chi nhánh.

2.1.7. Đánh giá thành công và hạn chế của công tác quản trị rủi ro lãi suất

và việc vận dụng các mơ hình đo lường rủi ro lãi suất tại BIDV thời

gian qua

a. Thành công

- Đã bước đầu nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản trị rủi

ro lãi suất.

- Đã tuân thủ chặt chẻ các quy định về lãi suất huy động và cho vay của

NHNN.



37



- Lãi suất cho vay, huy động được điều chỉnh kịp thời theo biến động của

thị trường. Đặc biệt đã áp dụng chính sách thả nổi lãi suất để hạn chế

tổn thất do biến động lãi suất gây ra.

- Đã bước đầu sử dụng phương pháp đo lường khe hở nhạy cảm lãi suất

để giám sát rủi ro lãi suất.

b. Hạn chế

- Mơ hình tổ chức quản trị rủi ro lãi suất đã được đổi mới một bước

nhưng còn một số bất cập. Đó là:

o Rủi ro lãi suất chưa được coi là một loại rủi ro độc lập, tách bạch

với rủi ro thị trường để nhận diện và quản lý riêng mà được quản

lý chung trong các loại rủi ro thị trường.

o Trách nhiệm quản trị rủi ro không được xác định rõ ở cấp quản

trị cao nhất là Hội đồng quản trị do thiếu Hội đồng quản lý rủi ro

trực thuộc Hội đồng quản trị.

- Công tác quản trị rủi ro lãi suất chưa được quan tâm toàn diện và đúng

mức, thể hiện ở chỗ chưa xây dựng được các quy trình, hướng dẫn cụ

thể về quản trị rủi ro lãi suất.

- Nhận thức về rủi ro lãi suất và quản trị rủi ro lãi suất chưa đầy đủ và

toàn diện, chỉ mới dừng lại ở chỗ nhận biết có rủi ro khi lãi suất thị

trường thay đổi, mà chưa đo lường, đánh giá cụ thể mức độ rủi ro có

thể gây thiệt hại cho ngân hàng. Biện pháp đo lường mà BIDV đang áp

dụng thuộc về mơ hình tái định giá nhưng việc thực hiện còn giản lược,

chưa triệt để nên còn nhiều hạn chế.

- Về phòng ngừa rủi ro lãi suất, các biện pháp chỉ mới mang tính tình thế,

thực chất là “đẩy” rủi ro lãi suất cho khách hàng, mà chưa có các giải



38



pháp tích cực để duy trì sự cân xứng về kỳ hạn giữa Tài sản và Nợ. Các

nghiệp vụ phái sinh trong phòng ngừa rủi ro lãi suất hầu như chưa được

áp dụng.

2.2.



Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quản trị rủi ro lãi

suất nói chung, việc vận dụng mơ hình tái định giá trong quản trị

rủi ro nói riêng tại BIDV



2.2.1. Các nhân tố bên ngồi

2.2.1.1. Cơ chế điều hành lãi suất của ngân hàng nhà nước

Cơ chế điều hành lãi suất của ngân hàng nhà nước ảnh hưởng trực tiếp

đến hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng thương mại. Có thể

khái quát lại diễn biến quá trình thay đổi cơ chế điều hành lãi suất của NHNN

Việt Nam trong thời gian qua với các mốc chính như sau:





Cơ chế lãi suất thực âm và cố định (trước năm 1992).







Cơ chế lãi suất thực dương và điều hành theo khung lãi suất



(6/1992 – 1995): Quy định khung lãi suất tối thiểu về tiền gửi và tối đa về tiền

vay.





Cơ chế lãi suất thực dương và trần lãi suất cho vay (1996 –



7/2000): NHNN quy định các mức lãi suất trần cho vay theo thời hạn cho vay

và khống chế mức chênh lệch giữa lãi suất cho vay với lãi suất huy động vốn

bình quân ở mức 0,35%/tháng. Từ tháng 1/1998 bỏ quy định chênh lệch giữa

lãi suất cho vay và lãi suất huy động, chỉ qui định trần lãi suất cho vay.





Cơ chế lãi suất cơ bản kèm biên độ (8/2000 – 5/2002): NHNN



thông báo 2 chỉ tiêu là lãi suất cơ bản và biên độ lãi suất trong từng thời kỳ.





Cơ chế lãi suất thỏa thuận (6/2002 – 5/2008;).



39







Cơ chế lãi suất cơ bản theo điều 476 Bộ luật dân sự 2005



(6/2008 –2/2010): Khống chế lãi suất cho vay không quá 150% lãi suất cơ

bản theo thông báo của NHNN. Lãi suất huy động được khống chế mức trần

bằng các quyết định hành chính.





Cơ chế lãi suất cho vay thỏa thuận, khống chế lãi suất huy động:



(3/2010 đến nay).

Đánh giá tiến trình điều chỉnh cơ chế quản lý lãi suất ở nước ta thời

gian qua, có thể rút ra một số nhận xét như sau:

- Cơ chế điều hành lãi suất đã thể hiện sự nỗ lực của NHNN trong việc

giảm dần các can thiệp hành chính trực tiếp, từng bước tiến tới tự do

hóa lãi suất. Cơ chế lãi suất thỏa thuận đã được thực hiện từ tháng

6/2002 thực sự tạo ra sự đổi mới căn bản trong cơ chế điều hành lãi

suất. Lãi suất phản ánh sát hơn với quan hệ cung cầu tiền tệ trên thị

trường.

- Tuy nhiên, cơ chế điều hành lãi suất thiếu nhất quán và khơng ổn định

đã gây khơng ít khó khăn cho hoạt động của các ngân hàng thương mại.

Sự quay lại khống chế trần lãi suất cho vay thông qua cơ chế lãi suất cơ

bản từ tháng 6/2008 có thể coi là một sự “thụt lùi” về chính sách. Đến

tháng 3/2010, lãi suất cho vay trung dài hạn bằng VND được thực hiện

cơ chế lãi suất thỏa thuận trở lại (sau đó là cả đối với cho vay ngắn

hạn), nhưng lãi suất huy động vẫn được NHNN khống chế bằng nhiều

hình thức khác nhau. Đặc biệt, ngày 3/3/2011, NHNN ban hành thơng

tư 02/2011/TT-NHNN chính thức quy định mức trần lãi suất huy động

bằng đồng Việt Nam không quá 14% năm đối với các ngân hàng

thương mại và 14,5% đối với các quỹ tín dụng nhân dân. Việc quy định



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT VÀ VẬN DỤNG CÁC MÔ HÌNH ĐO LƯỜNG RỦI RO LÃI SUẤT TẠI BIDV

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×