Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH TÁI ĐỊNH GIÁ TRONG QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH TÁI ĐỊNH GIÁ TRONG QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ - 0trang

5



Có nhiều quan niệm về rủi ro. Theo nghĩa chung nhất, rủi ro là sự bất

định trong kết quả hay là sự biến động tiềm ẩn của kết quả.

Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng là khả năng mà một tiến trình hay

một sự kiện nào đó gây ra một kết cục khơng mong đợi đến tình hình tài chính

của ngân hàng hoặc cản trở ngân hàng thực hiện các mục tiêu đã định.

Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng khơng đồng nghĩa với rủi ro tài

chính. Rủi ro tài chính là một dạng rủi ro chủ yếu của ngân hàng. Rủi ro tài

chính là khả năng hay xác suất mà thu nhập của khoản đầu tư không được như

mong đợi.

1.1.1.2.Phân loại rủi ro trong kinh doanh ngân hàng

Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về rủi ro trong kinh doanh ngân hàng.

Theo cách tiếp cận phổ biến nhất, rủi ro trong kinh doanh ngân hàng

được chia thành các loại rủi ro chính sau:

 Rủi ro lãi suất (Interest rate risk)

 Rủi ro thị trường (Market risk)

 Rủi ro tín dụng (Credit risk)

 Rủi ro ngoại bảng (Off – balance sheet risk)

 Rủi ro công nghệ và hoạt động (Technology and operational risk)

 Rủi ro ngoại hối (Foreign exchange risk)

 Rủi ro quốc gia (Country or sovereign risk)

 Rủi ro thanh khoản (Liquidity risk)

 Rủi ro vỡ nợ (insolvency risk)



6



 Rủi ro khác (Other risk)

Ngoài cách phân loại phổ biến trên, có một số cách tiếp cận khác về rủi

ro của ngân hàng. Có thể kể ra một số cách tiếp cận khác về rủi ro của ngân

hàng như sau:

 Theo cách tiếp cận của Peter S. Rose (Mỹ), rủi ro của ngân hàng

gồm: Rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro thị

trường, rủi ro sinh lời, rủi ro vỡ nợ, rủi ro khác.

 Theo cách tiếp cận của Shelagh Hefferman (Anh), rủi ro của ngân

hàng gồm: Rủi ro tín dụng và rủi ro đối tác (Credit and Counterparty

risk), Rủi ro thanh khoản/nguồn vốn (Liquidity/Founding risk), Rủi

ro trả nợ (Settlement or Payment risk), Rủi ro thị trường và rủi ro về

giá (market or price risk), rủi ro về vốn hoặc rủi ro cấu trúc (capital

or gearing risk), rủi ro hoạt động (Operational risk), rủi ro quốc gia

và rủi ro chính trị (Sovereign and Polltical risk).

 Theo cách tiếp cận của Joseph F. Sinkey, rủi ro được chia làm rủi ro

liên quan đến bảng cân đối và rủi ro ngoài bảng cân đối. Rủi ro liên

quan đến bảng cân đối gồm: Rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro

thanh khoản, rủi ro ngoại hối. Rủi ro không liên quan đến bảng cân

đối gồm : Rủi ro điều tiết, rủi ro công nghệ, rủi ro sáp nhập, rủi ro

hoạt động, rủi ro chiến lược.

Dù tiếp cận theo cách nào thì rủi ro lãi suất vẫn được xem là một loại

rủi ro cơ bản mà các ngân hàng kinh doanh phải đối mặt.

1.1.2. Rủi ro lãi suất

1.1.2.1.Định nghĩa

Rủi ro lãi suất là khả năng ngân hàng bị giảm lợi nhuận và/hoặc giảm

giá trị ròng của ngân hàng do sự biến động của lãi suất.



7



Ngân hàng phải đối diện với rủi ro lãi suất khi lãi suất có sự thay đổi

(tăng hoặc giảm). Nhưng rủi ro lãi suất thực sự xảy ra khi lợi nhuận của ngân

hàng giảm do giảm chênh lệch đầu ra - đầu vào (NII/NIM) và/hoặc giá trị

ròng của ngân hàng giảm.

1.1.2.2.Nguyên nhân của rủi ro lãi suất

Một cách chung nhất, rủi ro lãi suất xuất phát từ chức năng biến đổi tài

sản (Asset Transformation Function) của các định chế tài chính trung gian.

Chức năng này làm cho kỳ hạn, tính thanh khoản và quy mô của các tài sản

(Asset) không phù hợp với kỳ hạn, tính thanh khoản và quy mơ của các

khoản nợ (Liabilities).

Nguyên nhân cụ thể dẫn đến rủi ro lãi suất được phân tích rõ khi nghiên

cứu các dạng rủi ro lãi suất (mục 1.1.2.3).

1.1.2.3.Các dạng rủi ro lãi suất

Rủi ro lãi suất có 3 dạng chính sau đây là: Rủi ro tái tài trợ, rủi ro tái

đầu tư, rủi ro giá trị thị trường.

i. Rủi ro tái tài trợ (Refinancing Risk)

Là rủi ro mà lợi nhuận ngân hàng giảm do chi phí tái huy động vốn cao

hơn tiền lãi của các khoản đầu tư khi kỳ hạn của tài sản đầu tư dài hơn kỳ hạn

vốn huy động trong điều kiện lãi suất thị trường tăng.

Ví dụ, ngân hàng huy động vốn 1 năm để đầu tư vào một khoản vay có

thời hạn 3 năm với lãi suất cố định. Sau 1 năm, nếu lãi suất thị trường tăng,

ngân hàng phải tăng lãi suất huy động nhưng lãi suất cho vay vẫn không đổi

nên lợi nhuận của ngân hàng giảm.

ii. Rủi ro tái đầu tư (Reinvestment Risk)

Là rủi ro mà lợi nhuận của ngân hàng giảm do thu nhập từ tài sản tái

đầu tư giảm thấp hơn chi phí tái huy động vốn do kỳ hạn nợ dài hơn kỳ hạn

tài sản đầu tư trong điều kiện lãi suất giảm.

Ví dụ, ngân hàng huy động vốn với thời hạn dài 3 năm với lãi suất cố

định nhưng đầu tư vào khoản vay có thời hạn 1 năm. Sau 1 năm, nếu lãi suất

giảm, ngân hàng phải giảm lãi suất cho vay đối với khoản vay mới nhưng lãi

suất huy động vẫn không đổi, nên lợi nhuận của ngân hàng giảm.



8



iii. Rủi ro giá trị thị trường (Market Value Risk)

Rủi ro mà giá trị ròng của ngân hàng (giá trị thị trường của vốn chủ sở

hữu) giảm do biến động bất lợi trong giá trị thị trường của tài sản và nợ thuộc

một trong hai trường hợp sau:

- Giá trị thị trường của tài sản sụt giảm nhanh hơn giá trị thị trường của

nợ khi kỳ hạn của tài sản dài hơn kỳ hạn của nợ trong điều kiện lãi suất

thị trường tăng. Điều này được giải thích như sau: Khi lãi suất thị

trường tăng, giá trị thị trường của các khoản mục tài sản và nợ của ngân

hàng giảm. Nhưng do kỳ hạn của tài sản (kỳ hạn bình quân) dài hơn kỳ

hạn của nợ, nên giá trị thị trường của tài sản giảm nhanh hơn giá trị thị

trường của nợ, làm cho giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu bị giảm

(Vì giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu bằng (=) giá trị thị trường của

tài sản trừ đi (-) giá trị thị trường của nợ).

- Giá trị thị trường của nợ tăng nhanh hơn giá trị thị trường của tài sản

khi kỳ hạn của nợ dài hơn kỳ hạn của tài sản trong điều kiện lãi suất thị

trường giảm. Điều này được giải thích tương tự nhưng ngược lại với

trường hợp trên. Khi lãi suất giảm, giá trị thị trường của tài sản và nợ

đều tăng lên. Do kỳ hạn (bình quân) của nợ dài hơn kỳ hạn của tài sản,

nên giá trị thị trường của nợ tăng mạnh hơn giá trị thị trường của tài

sản, làm cho giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu giảm.

Rủi ro tái tài trợ và rủi ro tái đầu tư tác động đến thu nhập lãi ròng của

ngân hàng (gọi chung là rủi ro tái định giá), trong khi đó rủi ro giá trị thị

trường tác động đến giá trị ròng của ngân hàng (gọi là rủi ro về giá).

1.1.2.4. Tác động của rủi ro lãi suất

Rủi ro lãi suất tác động đến lợi nhuận của ngân hàng và giá trị kinh tế

của ngân hàng. Cụ thể:

- Xét trên khía cạnh lợi nhuận



9



Thu nhập ròng từ lãi chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lợi nhuận của ngân

hàng. Khi lãi suất thị trường thay đổi, thu nhập từ lãi của ngân hàng bị biến

động và chi phí của các khoản mục nợ cũng biến động. Sự biến động này

khơng bằng nhau làm cho thu nhập ròng từ lãi của ngân hàng bị thay đổi kéo

theo sự thay đổi của lợi nhuận của ngân hàng. Xét trên khía cạnh này chỉ cho

thấy tác động ngắn hạn của lãi suất và không cho thấy được tác động đến tình

hình chung của ngân hàng.

- Xét trên giá trị kinh tế

Giá trị kinh tế của một tài sản là hiện giá của dòng tiền mong đợi trong

tương lai. Biến động của lãi suất ảnh hưởng đến giá trị thị trường của tài sản

và nợ và các khoản mục ngoại bảng của ngân hàng.

Giá trị kinh tế của ngân hàng (hay còn gọi là giá trị ròng của ngân

hàng) là hiện giá của dòng tiền ròng trong tương lai, bằng dòng tiền ròng

tương của tài sản trừ (-) đi dòng tiền ròng trong tương lai của nợ và cộng (+)

với dòng tiền ròng tương lai của các giao dịch ngoại bảng, làm thay đổi giá trị

vốn chủ sở hữu của ngân hàng. Theo nghĩa này, khía cạnh kinh tế phản ánh

quan điểm về độ nhạy cảm của giá trị ròng của ngân hàng trước biến động lãi

suất, do đó nó cho ta thấy tác động lâu dài của biến động lãi suất đối với hoạt

động ngân hàng.

1.1.3. Các cách tiếp cận về quản trị rủi ro lãi suất

1.1.3.1.Cách tiếp cận theo các chức năng quản trị

Theo quản trị học, quản trị là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo

và kiểm soát những hoạt động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng

tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra.

(James Stoner và Stephen Robbins).

Như vậy, các chức năng của quản trị bao gồm các hoạt động chính là:

hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát.

Theo cách tiếp cận các chức năng của quản trị, quản trị rủi ro lãi suất là

một tiến trình các cơng việc cần thực hiện để đạt được mục tiêu kiểm soát và



10



hạn chế tác động của rủi ro lãi suất, bao gồm các hoạt động chính sau:

- Hoạch định việc quản trị rủi ro lãi suất: gồm các nội dung

o Xây dựng mục tiêu của quản trị rủi ro lãi suất.

o Xây dựng các chiến lược quản trị rủi ro lãi suất;

o Lập các kế hoạch để thực hiện quản trị rủi ro lãi suất.

Để hoạch định hiệu quả, cần làm tốt công tác dự báo (môi trường kinh

doanh, về thị trường, về xu hướng biến động của lãi suất, tỷ giá,…). Các kế

hoạch phải được lập một cách thận trọng và phù hợp với mục tiêu, kế hoạch

tổng thể của ngân hàng, phù hợp với đặc điểm hoạt động và tình hình diễn

biến của thị trường…

- Tổ chức việc quản trị rủi ro lãi suất: Gồm các nội dung chính sau:

o Xác lập mơ hình tổ chức quản trị rủi ro lãi suất.

o Quy định chức năng nhiệm vụ của các phòng/ban liên quan đến

công tác quản trị rủi ro lãi suất…

o Bố trí nhân sự làm cơng tác quản trị rủi ro lãi suất

o Xây dựng chính sách, quy trình quản trị rủi ro lãi suất;

- Lãnh đạo việc quản trị rủi ro lãi suất: là quá trình nhà quản trị ngân

hàng tác động đến các nhân viên hoặc các phòng ban liên quan trong

quá trình thực hiện các kế hoạch hoặc nhiệm vụ quản trị rủi ro lãi suất

nhằm đạt được kết quả cao nhất. Những nội dung chính gồm:

o Thiết lập/xây dựng môi trường làm việc;

o Huấn luyện, đào tạo;

o Giao việc;

o Động viên, khuyến khích;

o Tiếp nhận thơng tin phản hồi;

o Xử lý tình huống;

- Kiểm sốt q trình quản trị rủi ro lãi suất: Chức năng kiểm soát đòi

hỏi nhà quản trị thực hiện các nhiệm vụ chính sau:

o Lập và đánh giá các báo cáo trạng thái rủi ro;

o Giám sát tuân thủ chính sách quản lý rủi ro, trình tự thủ tục, hạn

mức và giới hạn kiểm sốt giao dịch;



11



o Báo cáo giám sát, phân tích, đánh giá các trường hợp vượt hạn mức;

o Minh bạch hóa cơng tác quản trị rủi ro lãi suất;

o Áp dụng các thông lệ tốt nhất trong quản trị rủi ro lãi suất;

1.1.3.2.Cách tiếp cận theo quá trình quản trị rủi ro tổng thể của một tổ chức

Theo cách tiếp cận này, rủi ro lãi suất được xem xét trong tổng thể rủi

ro của ngân hàng và được quản trị chung cùng các loại rủi ro khác.

Theo cách tiếp cận này, quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận một cách

khoa học, tồn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, đo lường, kiểm sốt và

tối thiểu hóa những tác động bất lợi của rủi ro.

Quá trình quản trị rủi ro gồm các bước (công đoạn): nhận diện, đánh

giá, kiểm soát, tài trợ rủi ro.

- Nhận diện rủi ro (Risk Identification): là việc dựa trên những phương

pháp đã được tổng kết để xem xét những rủi ro mà ngân hàng phải đối

mặt. Có nhiều phương pháp nhận diện rủi ro: nhận diện rủi ro trên cơ

sở mục tiêu, nhận diện rủi ro theo phương pháp kịch bản, nhận diện rủi

ro trên cơ sở phân loại theo nguồn rủi ro, liệt kê các rủi ro có thể nhận

biết….

- Đánh giá rủi ro (Risk Assessment): là quá trình xác định mức độ

nghiêm trọng của tổn thất và khả năng xuất hiện của từng loại rủi ro (đã

được nhận diện), trên cơ sở đó xếp hạng các rủi ro theo thứ tự ưu tiên

mà các nguồn lực phải được dành để kiểm soát.

- Kiểm soát rủi ro: là những biện pháp nhằm tối thiểu hóa rủi ro trước

khi rủi ro xảy ra. Kinh doanh nói chung và kinh doanh ngân hàng nói

riêng luôn là sự đánh đổi giữa khả năng sinh lời và rủi ro. Khả năng

sinh lời càng cao thì rủi ro phải đối mặt càng lớn. Vì vậy, tùy theo khả

năng chấp nhận rủi ro, nguồn lực, chi phí… mà ngân hàng có thể lựa

chọn một trong 4 chiến lược/kỹ thuật sau đây để kiểm soát rủi ro đối

với từng rủi ro cụ thể như sau:

o Né tránh/từ bỏ: đối với các rủi ro mà xác suất xảy ra cao và/hoặc

tổn thất lớn, ngân hàng thường áp dụng chiến lược né tránh hoặc từ



12



bỏ, có nghĩa là loại bỏ nguyên nhân gây ra rủi ro, điều đó đồng

nghĩa với việc từ bỏ cơ hội tìm kiếm khả năng sinh lời.

o Giảm thiểu: tức là áp dụng các biện pháp để giảm thiểu rủi ro trên

cơ sở chấp nhận rủi ro ở một mức nhất định.

o Ngăn ngừa: tức là áp dụng các kỹ thuật để ngăn ngừa khả năng xảy

ra rủi ro. Chiến thuật này cũng có giới hạn, chỉ có thể ngăn ngừa

được rủi ro ở mức nhất định, khơng thể ngăn ngừa hồn tồn rủi ro,

vì như vậy cũng có nghĩa sẽ loại trừ khả năng tìm kiếm khả năng

sinh lời.

o Chuyển giao: Là dùng các kỹ thuật để khi rủi ro xảy ra thì tổn thất

được chuyển giao cho tổ chức khác.

Đối với rủi ro lãi suất, thường các ngân hàng áp dụng tổng hợp chiến

lược giảm thiểu và ngăn ngừa.

- Tài trợ rủi ro: Là những biện pháp nhằm giảm thiểu tổn thất khi rủi ro

đã xảy ra. Những biện pháp thường sử dụng là:

o Tự khắc phục rủi ro: tổ chức sử dụng nguồn lực của mình tự khắc

phục rủi ro.

o Chuyển giao rủi ro: Trong trường hợp tốn nhiều thời gian khắc

phục rủi ro, tổ chức có thể chuyển giao rủi ro cho tổ chức khác với

một chi phí nhất định. Điển hình cho biện pháp này là bán nợ. Ngân

hàng chuyển giao việc xử lý nợ xấu cho tổ chức khác, chấp nhận

giảm giá khoản nợ như là một khoản chi phí để dành thời gian và

nguồn lực đầu tư vào việc khác.

o Trung hòa rủi ro: Tức là khai thác thêm khả năng sinh lời trên tình

trạng rủi ro để làm giảm bớt rủi ro cho tổ chức.

Theo cách tiếp cận này, các rủi ro được nhận diện, đánh giá, kiểm soát

và tài trợ một cách khoa học và tồn diện, có hệ thống. Tuy nhiên, cách tiếp

cận này có nhiều trở ngại như: thiếu thông tin thống kê để xác định khả năng

xuất hiện của rủi ro, khó đánh giá tổn thất của các tài sản vơ hình…



13



1.1.3.3.Cách tiếp cận theo mơ hình đo lường rủi ro cụ thể

Theo cách tiếp cận này, rủi ro lãi suất được đo lường dựa vào các mơ

hình từ đó lựa chọn các chiến lược để kiểm soát rủi ro. Đây là cách tiếp cận

của đề tài.

Đo lường rủi ro (Risk measures) hay còn gọi là lượng hóa rủi ro là

phương pháp nhằm xác định những nhân tố (biến số) ảnh hưởng đến một loại

rủi ro cụ thể, đánh giá mức độ tổn thất có thể có theo từng kịch bản dự báo,

tìm kiếm, lựa chọn các chiến lược kiểm soát rủi ro hiệu quả, cũng tức là các

chiến lược kinh doanh hiệu quả nhằm tối ưu hóa sự đánh đổi lợi nhuận – rủi

ro.

Cách tiếp cận “đo lường rủi ro” tập trung vào các rủi ro bảng cân đối

(Balance sheet risk) tức là các rủi ro ảnh hưởng trực tiếp đến số liệu trên bảng

cân đối kế toán của ngân hàng, bao gồm : rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi

ro thanh khoản, rủi ro ngoại hối. Các loại rủi ro này, khi xảy ra sẽ trực tiếp

làm thay đổi số liệu trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng. Đo lường rủi ro

là xác định mức độ tổn thất khi rủi ro xảy ra theo từng kịch bản dự báo, từ đó

tìm kiếm các giải pháp để kiểm sốt và giảm thiểu rủi ro.

Rủi ro lãi suất tác động đến hoạt động của ngân hàng dưới 2 khía cạnh :

thu nhập lãi ròng và giá trị ròng của ngân hàng. Vì vậy, các mơ hình cũng

hướng đến đo lường hai khía cạnh tác động đó của rủi ro lãi suất. Hiện nay, có

ba mơ hình được sử dụng để đo lường rủi ro lãi suất. Mơ hình tái định giá

được sử dụng để đo lường tác động của rủi ro lãi suất đến thu nhập lãi ròng.

Mơ hình kỳ hạn đến hạn và mơ hình thời lượng được dùng để đo lường rủi ro

lãi suất dưới khía cạnh giá trị ròng của ngân hàng.

Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu vận dụng mơ hình tái định giá trong

quản trị rủi ro lãi suất, nên đề tài không đi sâu nghiên cứu mơ hình kỳ hạn đến



14



hạn và mơ hình thời lượng mà chỉ giới thiệu khái quát hai mô hình này ở phần

phụ lục (phụ lục số 1.1 và Phụ lục số 1.2).

1.2.



Vận dụng mơ hình tái định giá trong quản trị rủi ro lãi suất



1.2.1. Nội dung lý thuyết về mơ hình tái định giá

Một mục tiêu quan trọng của quản trị rủi ro lãi suất là hạn chế tới mức

tối đa mọi ảnh hưởng xấu của biến động lãi suất đến thu nhập của ngân hàng.

Dù lãi suất thay đổi theo hướng nào, các ngân hàng luôn mong muốn đạt được

thu nhập dự kiến ở mức tương đối ổn định. Mơ hình tái định giá giúp các nhà

quản lý ngân hàng thực hiện được mục tiêu này.

Mô hình tái định giá tập trung vào những tác động của sự biến động lãi

suất đến thu nhập lãi suất ròng của ngân hàng (NII – Net Interest Income).

Vận dụng mơ hình này, các nhà quản lý ngân hàng phải tiến hành xác định

các khoản mục tài sản và nợ nhạy cảm với lãi suất (tức là phải định giá lại)

trong một thời kỳ tương lai, tiếp đến xác định khe hở nhạy cảm lãi suất, đo

lường tổn thất, từ đó xây dựng chiến lược để kiểm sốt, hạn chế, phòng ngừa

rủi ro có thể xảy ra.

Các khoản mục tài sản và nợ được coi là nhạy cảm với lãi suất là những

tài sản, nợ được định lại lãi suất theo hoặc gần bằng với lãi suất thị trường

trong kỳ kế hoạch (gọi là kỳ hạn định giá lại). Kỳ hạn định giá lại thường là:

đến 1 ngày, 1 tuần, 1 tháng, trên 1 tháng đến 3 tháng, trên 3 tháng đến 6

tháng, trên 6 tháng đến 1 năm, trên 1 năm đến 5 năm, trên 5 năm.

- Tài sản nhạy cảm lãi suất gồm:

o Khoản cho vay (thường là ngắn hạn) sắp đáo hạn hoặc gia hạn

o Chứng khoán đầu tư đáo hạn

o Các khoản cho vay và đầu tư chứng khốn có lãi suất thả nổi.



15



- Nợ nhạy cảm lãi suất gồm:

o Vay từ thị trường tiền tệ (vay trên thị trường liên ngân hàng, vay

theo hợp đồng mua lại RPs)

o Tiền gửi tiết kiệm (thường là ngắn hạn) sắp đáo hạn

o Tiền gửi trên thị trường tiền tệ (với lãi suất có thể điều chỉnh)

o Tiền gửi và các khoản vay (bao gồm phát hành giấy tờ có giá) với

lãi suất thả nổi

o Giấy tờ có giá (thường là ngắn hạn) sắp đáo hạn.

- Những tài sản không thể tái định giá gồm:

o Tiền mặt/tiền gửi tại ngân hàng trung ương

o Cho vay dài hạn với lãi suất cố định

o Chứng khoán đầu tư dài hạn với lãi suất cố định

o Tài sản cố định và các tài sản không sinh lời .

- Những khoản mục nợ không thể tái định giá gồm:

o Tiền gửi các loại và các khoản vay (bao gồm giấy tờ có giá phát

hành) có lãi suất cố định.

o Vốn chủ sở hữu.

Khe hở nhạy cảm lãi suất là chênh lệch giữa giá trị tài sản nhạy cảm lãi

suất và giá trị nợ nhạy cảm lãi suất.

IS GAP = RSA – RSL

Trong đó:

 IS GAP: Khe hở nhạy cảm lãi suất



(1.1)



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH TÁI ĐỊNH GIÁ TRONG QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×