Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Tín dụng Ngân hàng và Rủi ro tín dụng Ngân hàng

1 Tín dụng Ngân hàng và Rủi ro tín dụng Ngân hàng

Tải bản đầy đủ - 0trang

4



- Giá trị của tín dụng khơng những được bảo tồn mà còn được nâng lên nhờ

lợi tức tín dụng. Người cho vay nhận giá trị sử dụng là lãi, hoạt động tín dụng tiềm

ẩn rủi ro rất lớn nên trong quan hệ tín dụng phải có lòng tin.

1.1.2 Rủi ro tín dụng Ngân hàng

Theo Hennie Van Greaning – Sonja B.Rajovic Bratonovic (the World Bank):

Rủi ro tín dụng được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền

lãi hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng. Đây

là thuộc tính vốn có của hoạt động ngân hàng. Rủi ro tín dụng tức là việc hồn trả bị

trì hỗn, hoặc tồi tệ hơn là khơng hồn trả được toàn bộ vốn gốc và lãi. Điều này

gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ, gây ảnh hưởng đến khả năng thanh

toán của ngân hàng.

Theo Timothy W.Koch: Một khi ngân hàng nắm giữ tài sản sinh lợi, rủi ro xảy ra

khi khách hàng sai hẹn – có nghĩa là khách hàng khơng thanh tốn vốn gốc và lãi theo

thỏa thuận. Rủi ro ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của

vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn (Bank

Management, University of South Carolina, The Dryden Press, 1995, page 107).

Theo Anthony Saunder và Marcia Millon Cornett: Rủi ro tín dụng nảy sinh do

một khả năng nào đó làm dòng tiền dự tính từ các khoản tài chính phải đòi được

nắm giữ bởi các tổ chức tài chính như các khoản cho vay sẽ không được trả đầy đủ.

Hầu như tất cả các tổ chức trung gian tài chính đều phải đối mặt với rủi ro này. Nếu

khoản nợ gốc được trả đầy đủ khi đến hạn và các khoản thanh toán lãi được thực

hiện vào những ngày đã thỏa thuận trước, các tổ chức tài chính sẽ ln ln nhận lại

được khoản gốc cho vay cộng thêm một khoản tiền lãi. Điều đó có nghĩa là họ

khơng phải đối mặt với rủi ro tín dụng. (Financial institution management, A risk

management approach, McGraw Hill international editor, 2006)

Theo ủy ban Basel thì “Rủi ro tín dụng là khả năng mà khách hàng vay hoặc

bên đối tác khơng thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã

cam kết. Rủi ro thất thoát đối với một ngân hàng là sự vỡ nợ của người giao ước

trong hợp đồng, trong đó sự vỡ nợ được xác định là bất kỳ sự vi phạm nghiêm trọng

nào đối với nghĩa vụ hợp đồng khi hoàn trả nợ và lãi”.



5



Còn theo quyết định số 493/2005/QĐ – NHNN ngày 22/04/2005 của Thống

đốc Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam thì “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân

hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng

của tổ chức tín dụng do khách hàng khơng thực hiện hoặc khơng có khả năng thực

hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết” [5].

Các định nghĩa khá đa dạng nhưng tựu trung lại chúng ta có thể rút ra các nội

dung cơ bản của rủi ro tín dụng như sau:

- Rủi ro tín dụng khi người vay sai hẹn (defaut) trong thực hiện nghĩa vụ trả

nợtheo hợp đồng, bao gồm vốn và/ hoặc lãi. Sự sai hẹn có thể là trễ hạn (delayedpayment) hoặc khơng thanh tốn (non-payment).

- Rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến tổn thất tài chính, tức là giảm thu nhập ròng và

giảm giá trị thị trường của vốn. Trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến

thua lỗ, hoặc ở mức độ cao hơn có thể dẫn đến phá sản.

- Đối với các nước đang phát triển (như ở Việt Nam), các ngân hàng thiếu đa

dạng trong kinh doanh, các dịch vụ tài chính, các sản phẩm dịch vụ còn nghèo nàn,

vì vậy tín dụng được coi là dịch vụ sinh lời chủ yếu và thậm chí gần như là duy

nhất, đặc biệt đối với các ngân hàng nhỏ. Vì vậy rủi ro tín dụng cao hay thấp sẽ

quyết định hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.

- Mặt khác, rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng của ngân hàng là hai đại lượng đồng

biến với nhau trong một phạm vi nhất định (lợi nhuận kỳ vọng càng cao, thì rủi ro

tiềm ẩn càng lớn).

- Rủi ro là một yếu tố khách quan cho nên người ta không thể nào loại trừ

hồn tồn được mà chỉ có thể hạn chế sự xuất hiện của chúng cũng như tác hại do

chúng gây ra.

Tuy nhiên một khoản vay dù chưa quá hạn nhưng vẫn luôn tiềm ẩn nguy cơ

xảy ra tổn thất, một ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn thấp nhưng nguy cơ rủi ro tín

dụng sẽ rất cao nếu danh mục đầu tư tín dụng tập trung vào một nhóm khách hàng,

ngành hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Cách hiểu này sẽ giúp cho hoạt động quản trị rủi



6



ro tín dụng được chủ động trong phòng ngừa, trích lập dự phòng, đảm bảo chống đỡ

và bù đắp tổn thất khi rủi ro xảy ra.

* Phân loại rủi ro tín dụng

Có nhiều cách phân loại rủi ro tín dụng khác nhau tùy theo mục đích, yêu cầu

nghiên cứu. Tùy theo tiêu chí phân loại mà người ta chia rủi ro tín dụng thành các

loại khác nhau.

- Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia

thành các loại sau đây:



Rủi ro

tín dụng



Rủi ro danh mục



Rủi ro

nội tại



Rủi ro

tập

trung



Rủi ro giao dịch



Rủi ro

lựa

chọn



Rủi ro

đảm

bảo



Rủi ro

nghiệp

vụ



Rủi ro danh mục là rủi ro do việc quản lý danh mục cho vay của ngân hàng

không hiệu quả, không phù hợp với định hướng của nền kinh tế hoặc định hướng

phát triển của ngân hàng. Rủi ro danh mục bao gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.

+ Rủi ro nội tại: là rủi ro xuất phát từ các yếu tố mà bản thân CBTD làm tốt

công việc của mình cũng khơng thể tránh khỏi. Nó mang tính riêng biệt của mỗi chủ

thể đi vay hoặc nền kinh tế.

+ Rủi ro tập trung: là rủi ro mà ngân hàng đã dồn dư nợ cho vay vào một số

khách hàng, một số thành phần kinh tế, ngành kinh tế hoặc một khu vực địa lý.

Rủi ro giao dịch là rủi ro phát sinh trong quá trình xem xét quyết định cho vay

và giải ngân một khoản vay. Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm

bảo và rủi ro nghiệp vụ.

+ Rủi ro lựa chọn: là rủi ro liên quan đến thẩm định và phân tích tín dụng.



7



+ Rủi ro đảm bảo: là rủi ro xuất phát từ các tiêu chuẩn đảm bảo, như các điều

khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo và mức an tồn của nó.

+ Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến quản trị hoạt động cho vay như xây

dựng và thực hiện chính sách tín dụng để định hướng cho việc thực hiện cho vay và

kiểm soát danh mục cho vay, tái xét và giám sát danh mục cho vay, bao gồm cả việc

sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề.

- Nếu phân loại theo tính khách quan, chủ quan của ngun nhân gây ra rủi ro

thì rủi ro tín dụng được phân ra thành rủi ro khách quan và rủi ro chủ quan. Rủi ro

khách quan là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như thiên tai, địch họa, người

vay bị chết, mất tích và các biến động ngồi dự kiến khác làm thất thốt vốn vay

trong khi người vay đã thực hiện nghiêm túc chế độ chính sách. Rủi ro chủ quan do

nguyên nhân thuộc về chủ quan của người vay và người cho vay vì vơ tình hay cố ý

làm thất thốt vốn vay hay vì những lý do chủ quan khác.

Ngồi ra còn nhiều hình thức phân loại khác như phân loại căn cứ theo cơ

cấucác loại hình rủi ro, phân loại theo nguồn gốc hình thành, theo đối tượng sử

dụng vốn vay…



*Biểu hiện rủi ro tín dụng

RRTD ẩn chứa trong những khoản cho vay có vấn đề và biểu hiện dưới nhiều

hình thức khác nhau. Dưới đây là một số dấu hiệu cơ bản giúp nhận biết, phán đốn

và sớm có những biện pháp kịp thời nhằm ngăn chặn RRTD xảy ra:

- Nhóm dấu hiệu phát sinh từ phía khách hàng: nhóm dấu hiệu liên quan

đến mối quan hệ với ngân hàng. Có thể phát hiện rủi ro thông qua các hành vi ứng

xử của khách hàng như: Việc trì hỗn hoặc gây khó khăn đối với ngân hàng trong

quá trình kiểm tra theo định kỳ hoặc đột xuất tình hình sử dụng vốn vay, tình hình

tài chính, HĐSXKD của khách hàng mà khơng có sự giải thích minh bạch, thuyết

phục; khơng thực hiện đầy đủ các quy định, vi phạm pháp luật trong q trình tín

dụng; chậm gởi hoặc trì hỗn gởi các báo cáo tài chính theo u cầu mà khơng có

sự giải thích minh bạch, thuyết phục; khơng có các báo cáo hay dự toán về lưu

chuyển tiền tệ; mức độ vay thường xuyên gia tăng, yêu cầu các khoản vay vượt quá



8



nhu cầu dự kiến; TSĐB không đủ tiêu chuẩn, giá trị tài sản bị giảm sút so với định

giá khi cho vay; tìm kiếm sự tài trợ nguồn vốn lưu động từ nhiều nguồn khác, đặc

biệt từ đối thủ cạnh tranh của ngân hàng; sử dụng nhiều các nguồn tài trợ ngắn hạn

cho các hoạt động đầu tư dài hạn; đề nghị gia hạn, điều chỉnh kỳ hạn nợ nhiều lần

không rõ lý do hoặc thiếu các căn cứ thuyết phục về việc gia hạn hay điều chỉnh ký

hạn nợ; sự sụt giảm bất thường số dư tài khoản tiền gởi mở tại ngân hàng, xuất hiện

những thay đổi bất thường ngồi dự kiến và khơng giải thích được trong tốc độ và

tổng mức lưu chuyển tiền gởi thanh toán của ngân hàng; chậm thanh toán các khoản

lãi đến hạn, thanh tốn các khoản nợ gốc khơng đầy đủ, đúng hạn; xuất hiện nợ quá

hạn, nợ xấu do khách hàng khơng có khả năng hồn trả, hoặc khách hàng khơng

muốn trả nợ hoặc do việc tiêu thụ hàng hóa, gia tăng bất thường hàng tồn kho, các

khoản bán chịu và các khoản nợ, giảm bất thường giá bán hàng hóa, thu hồi cơng nợ

chậm hơn dự tính.[8]

- Nhóm dấu hiệu liên quan đến phương pháp quản lý, tình hình tài chính

và HĐSXKD của khách hàng: Nhóm dấu hiệu này có tác động trực tiếp tới chất

lượng các khoản tín dụng, nhưng tốc độ chậm hơn. Các dấu hiệu này xuất phát từ

chính HĐSXKD của khách hàng và khơng dễ nhận diện nếu thiếu sự quản lý chặt

chẽ, sâu sát của NHTM. Các dấu hiệu cụ thể: có chênh lệch lớn giữa doanh thu hay

dòng tiền thực tế so với mức dự kiến khi khách hàng đề nghị cấp tín dụng; những

thay đổi bất thường trong cơ cấu vốn, tỷ lệ thanh khoản hay mức độ hoạt động của

khách hàng; xuất hiện càng nhiều chi phí bất hợp lý như: gia tăng đột biến trong chi

phí quảng cáo, tiếp khách, tập trung quá mức để gây ấn tượng với các thiết bị văn

phòng hiện đại, phương tiện đi lại đắt tiền; thay đổi thường xuyên ban điều hành,

xuất hiện bất đồng và mâu thuẫn trong quản trị điều hành, tranh chấp trong q

trình quản lý; những thay đổi từ chính sách Nhà nước, đặc biệt là các tác động của

các chính sách thuế xuất nhập khẩu, thêm đối thủ cạnh tranh tác động bất lợi đến

chiến lược và kế hoạch SXKD của khách hàng; kết quả kinh doanh lỗ; khách hàng

gặp rủi ro khách quan (bão lụt, hỏa hoạn, tai nạn, bệnh dịch xảy ra, bạn hàng của



9



khách hàng gặp rủi ro hoặc bị phá sản, bị truy tố,…); tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu (hệ số

đòn bẩy) tăng.[8]

- Nhóm dấu hiệu xuất phát từ chính ngân hàng: Có thể nhìn nhận những

dấu hiệu rủi ro từ chính NHTM, bao gồm: Sự đánh giá và phân loại khơng chính

xác về mức độ rủi ro của khách hàng; cấp tín dụng dựa trên các cam kết khơng chắc

chắn và thiếu tính bảo đảm; tốc độ tăng trưởng tín dụng quá nhanh, vượt quá khả

năng và năng lực kiểm soát cũng như nguồn vốn của ngân hàng; cho vay dựa trên

sự kiện bất thường có thể xảy ra, chẳng hạn như sát nhập, thay đổi địa vị pháp lý từ

chi nhánh lên cơng ty con hạch tốn độc lập; chính sách tín dụng quá cứng nhắc

hoặc quá lỏng lẻo để kẻ hở cho khách hàng lợi dụng; soạn thảo các điều kiện ràng

buộc trong hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp mập mờ khơng rõ ràng; cung cấp

tín dụng với khối lượng lớn cho khách hàng không thuộc phân đoạn thị trường tối

ưu của ngân hàng, tỷ lệ tín dụng cao cho một ít khách hàng, khách hàng có trụ sở

ngồi lãnh địa hoạt động của ngân hàng; hồ sơ tín dụng không đầy đủ, thiếu sự tuân

thủ hay tuân thủ không đầy đủ các quy định hiện hành về phê duyệt tín dụng; có xu

hướng cạnh tranh thái q; chưa nhạy cảm với sự thay đổi các điều kiện môi trường

kinh tế; thiếu kế hoạch rõ ràng để thanh lý từng khoản tín dụng.[8]

1.1.3 Nguyên nhân rủi ro tín dụng

RRTD xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có một số nhóm ngun nhân

chính sau đây:

- Ngun nhân từ phía môi trường kinh doanh

Thứ nhất, môi trường kinh tế. Môi trường kinh tế tác động mạnh đến HĐKD

của các NHTM. Khi nền kinh tế đang tăng trưởng ổn định thì các doanh nghiệp làm

ăn có hiệu quả và sẽ có nhiều khả năng trả nợ NHTM. Ngược lại, khi nền kinh tế rơi

vào tình trạng suy thối, mất ổn định khiến các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn

trong hoạt động, sản xuất bị đình trệ, sức mua bị giảm sút, hàng hóa bị ứ đọng. Điều

này tất yếu ảnh hưởng đến khả năng trả nợ các khoản vay của NHTM.

Các chính sách kinh tế vĩ mơ của Chính phủ cũng ảnh hưởng không nhỏ đến

hoạt động của các NHTM. Chẳng hạn: Chính phủ theo đuổi mục tiêu tăng trưởng



10



kinh tế cao, điều này sẽ tiềm ẩn nguy cơ lạm phát leo thang, khi lạm phát tăng cao

sẽ làm tăng chi phí đầu vào trong kinh doanh của các khách hàng, gây khó khăn

trong khâu tiêu thụ sản phẩm. Hậu quả là năng lực trả nợ của các khách hàng đối

với NHTM bị suy giảm; hoặc Chính phủ thay đổi các chính sách tài chính, tiền tệ sẽ

ảnh hưởng trực tiếp tới HĐKD của NHTM.

Thứ hai, nguyên nhân bất khả kháng (thiên tai, những thay đổi nhu cầu của

người tiêu dùng hoặc về kỹ thuật công nghệ của một ngành nào đó) có thể làm phá

sản cả một hãng kinh doanh và đặt người đi vay từng làm ăn có hiệu quả vào thua

lỗ, mất khả năng trả nợ. Điều này đặt các NHTM phải đối mặt với rủi ro mất vốn.

Thứ ba, nguyên nhân thông tin bất cân xứng. NHTM thực hiện các nghiệp vụ

tài sản Nợ, tài sản Có, chuyển vốn từ người gởi tiền sang người vay tiền – tồn bộ

các giao dịch này sẽ sn sẻ nếu các bên tham gia đều có những thơng tin và hiểu

biết đầy đủ về nhau. Song thực tế là một bên thường khơng biết hết những gì cần

biết về phía bên kia và sự không cân bằng về thông tin mà mỗi bên có được như vậy

được gọi là “thơng tin không cân xứng”. Việc thiếu thông tin trong các giao dịch sẽ

đưa đến “sự lựa chọn đối nghịch” và rủi ro đạo đức. Thông tin không cân xứng trên

thị trường tài chính khiến các NHTM phải đối mặt với nguy cơ rủi ro cao.

- Nguyên nhân từ phía khách hàng vay vốn

Đây là một trong những nguyên nhân chính gây ra RRTD cho ngân hàng.

Khách hàng có thể đem lại rủi ro cho các NHTM khi:

Doanh nghiệp có năng lực tài chính thấp kém, tỷ lệ vốn tự có thấp, năng lực đi

vay của doanh nghiệp yếu kém, hiệu quả sản xuất kinh doanh không cao do doanh

nghiệp chưa theo kịp các biến động của thị trường. Vốn tự có tham gia SXKD thấp

so với nhu cầu về vốn kinh doanh. Trong tình huống này, buộc khách hàng phải đi

huy động vốn. Nếu NHTM đáp ứng phần vốn còn thiếu hụt này của khách hàng thì

nguy cơ tiềm ẩn rủi ro đối với ngân hàng sẽ tăng cao.

Công nghệ sản xuất không đủ khả năng tạo ra sản phẩm có tính cạnh tranh

cao, điều này sẽ khiến HĐKD của khách hàng gặp nhiều khó khăn. Một khi khách



11



hàng gặp khó khăn trong kinh doanh thì sẽ khiến các NHTM đối mặt với rủi ro

trong cho vay.

Trình độ quản lý của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, doanh nghiệp quản lý

vốn không hợp lý, dẫn đến thiếu thanh khoản, hay rủi ro từ thị trường cung cấp vật

tư, nguyên liệu, thị trường tiêu thụ. Năng lực quản trị điều hành của bộ máy lãnh

đạo các doanh nghiệp bị hạn chế, thiếu thông tin thị trường, thiếu thông tin về các

đối tác, về bạn hàng làm ảnh hưởng đến kế hoạch SXKD. Một khi điều này xảy ra

sẽ khiến các NHTM đối mặt với nguy cơ rủi ro cao khi cho vay các khách hàng này.

Sự thiếu thông tin về khách hàng vay và thông tin về môi trường kinh tế mà

khách hàng đó hoạt động là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến RRTD. Sự thay đổi trong

ý muốn trả nợ của khách hàng phải xuất phát từ môi trường kinh doanh chưa ổn

định, pháp luật còn nhiều kẻ hở, một số khách hàng cố ý sử dụng vốn vay sai mục

đích, cố ý lừa đảo ngân hàng.

Thiện chí trả nợ vay ngân hàng của các khách hàng vay vốn. Một khi khách

hàng thiếu thiện chí trả nợ các khoản đã vay thì các NHTM sẽ gặp rất nhiều khó

khăn trong thu hồi nợ vay. Khách hàng khơng duy trì được đầy đủ tất cả các điều

kiện quy định trong suốt quá trình sử dụng vốn vay, ý muốn trả nợ của khách hàng

khơng được duy trì trong suốt thời gian vay. Đây chính là rủi ro xuất phát từ đạo

đức của người đi vay.

Các nguyên nhân này ngân hàng có thể xác định được thơng qua q trình

thẩm định, tìm kiếm, nắm vững tình hình HĐSXKD của khách hàng cả nước, trong

và sau khi cho vay, tìm hiểu mục đích sử dụng tiền vay và hiệu quả của phương án

SXKD.

- Nguyên nhân từ bản thân các ngân hàng

RRTD có thể xuất phát từ chính bản thân các NHTM, do trình độ quản lý yếu

kém của ngân hàng. Cụ thể:

 Do trình độ chun mơn, kiến thức kinh doanh của nhân viên ngân hàng còn

nhiều hạn chế: bố trí cán bộ thiếu đạo đức và trình độ chun mơn nghiệp vụ.

 Tư cách đạo đức, trách nhiệm nghề nghiệp của CBTD còn nhiều yếu kém,

thiếu sự quan tâm kiểm tra giám sát của các cấp lãnh đạo.



12



 Do ngân hàng không dự đoán được sự biến động của nền kinh tế dẫn đến

việc cung cấp tín dụng cho những ngành suy thoái, kém phẩm chất trong tương lai.

Thiếu kỹ năng nắm bắt, phân tích thơng tin thị trường, thiếu khả năng dự báo chiều

hướng biến động của thị trường, nhất là thị trường kinh doanh của các khách hàng

chiến lược.

 Do ngân hàng cho vay và đầu tư quá liều lĩnh hay là do tập trung vốn quá nhiều

để cho vay vào một số doanh nghiệp hoặc một số ngành kinh tế có nhiều rủi ro.

 Do thiếu am hiểu về thị trường, thiếu thơng tin hoặc là việc phân tích khách

hàng chưa hoàn thiện, thận trọng. Vẫn cho những khách hàng có năng lực tài chính

yếu kém vay vốn. HĐKD của ngân hàng còn nhiều điểm hạn chế, hiệu quả thấp.

 Khơng chấp hành nghiêm túc ngun tắc tín dụng.

 Chính sách và quy trình cho vay chưa chặt chẽ, quy trình tín dụng còn lỏng

lẻo, nhiều sơ hở, cơng tác quản trị rủi ro chưa hữu hiệu, chưa chú trọng phân tích

khách hàng, xếp loại RRTD để tính tốn điều kiện cho vay và khả năng trả nợ.

 Kỹ thuật cấp tín dụng chưa hiện đại, chưa đa dạng, việc xác định hạn mức tín

dụng cho khách hàng còn quá đơn giản, thời hạn chưa phù hợp, chủ yếu là cấp tín

dụng trực tiếp, sản phẩm tín dụng chưa phong phú. Ngân hàng chưa quan tâm đúng

mức đến công tác huy động vốn để cải thiện chất lượng cho vay. Các nguồn vốn đầu

vào có lãi suất cao là gánh nặng cho các doanh nghiệp, làm giảm khả năng trả nợ

của khách hàng.

 Ngân hàng chưa quan tâm đúng mức đến điều kiện tiên quyết khi cho vay là

dự án kinh doanh phải có lãi, vấn đề xử lý nợ chưa tốt.

Rủi ro từ tài sản thế chấp: đánh giá giá trị tài sản thế chấp khơng chính xác,

cao hơn giá trị thực của tài sản hay không dự đoán được giá trị tương lai của tài sản

hay nhận thế chấp bằng những tài sản khó phát mãi.

1.1.4 Những hậu quả từ rủi ro tín dụng

RRTD ln đem đến những hậu quả rất khó lường cho nền kinh tế cũng như

chính bản thân các NHTM.



13







Đối với nền kinh tế



Hoạt động ngân hàng liên quan đến hoạt động doanh nghiệp, các ngành và các

cá nhân. Vì vậy, khi một ngân hàng gặp phải RRTD hay bị phá sản thì người gởi

tiền ở các ngân hàng khác hoang mang lo sợ và kéo nhau ồ ạt đến rút tiền ở các

ngân hàng khác, làm cho toàn bộ hệ thống ngân hàng gặp khó khăn. Ngân hàng phá

sản sẽ ảnh hưởng đến tình hình HĐSXKD của doanh nghiệp, khơng có tiền trả

lương dẫn đến đời sống cơng nhân gặp khó khăn.

Hơn nữa, sự hoảng loạn của các ngân hàng ảnh hưởng rất lớn đến tồn bộ nền

kinh tế. Nó làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp

tăng, xã hội mất ổn định. Ngoài ra, RRTD cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới

vì ngày nay nền kinh tế mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào nền kinh tế khu vực và thế

giới. Kinh nghiệm cho ta thấy cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á (1997) và mới

đây là cuộc khủng hoảng tài chính Nam Mỹ (2001-2002) đã làm rung chuyển toàn

cầu. Mặt khác, mối liên hệ về tiền tệ, đầu tư giữa các nước phát triển rất nhanh nên

RRTD tại một nước ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế tế các nước có liên quan.





Đối với ngân hàng



- Làm giảm uy tín của NHTM. RRTD ở mức độ cao phản ánh năng lực HĐKD

của NHTM khơng tốt, làm suy giảm uy tín của ngân hàng trên thị trường huy động

vốn do suy giảm lòng tin của cơng chúng gởi tiền, suy giảm tín nhiệm trên thị

trường tiền tệ quốc tế, gây khó khăn trong việc quan hệ vay vốn nước ngoài, thiết

lập quan hệ đại lý với nước đó, hạn chế năng lực cạnh tranh.

- Làm suy giảm năng lực thanh toán của NHTM. RRTD xảy ra làm cho

NHTM không thu hồi được gốc và lãi số vốn đã cho vay theo kế hoạch đã định.

Trong khi đó, ngân hàng vẫn phải thanh tốn các nghĩa vụ tài chính đến hạn. Đó là

nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản.

- Làm giảm lợi nhuận trong hoạt động NHTM. Khi RRTD xảy ra, NHTM

không thu hồi được nợ vay như dự kiến ban đầu, làm chậm tốc độ quay vòng vốn,

mất cơ hội kinh doanh, chi phí tăng cao ngồi dự kiến, thậm chí thua lỗ; thu nhập

giảm sút, giảm phần nộp ngân sách, hạn chế tích lũy để hiện đại hóa cơng nghệ và



14



đầu tư đào tạo nhân viên. Ngân hàng bị mất vốn, phải khoanh nợ, giãn nợ, thậm chí

phải xóa nợ. Các ngân hàng phải trích lập phòng ngừa rủi ro nên làm giảm thu nhập

của ngân hàng.

- Làm tăng nguy cơ phá sản ngân hàng. RRTD gây thoát vốn, các NHTM có

thể rơi vào tình trạng mất khả năng thanh tốn, dẫn tới phá sản.

Tóm lại, RRTD của ngân hàng xảy ra ở nhiều mức độ khác nhau: nhẹ nhất

là ngân hàng bị giảm lợi nhuận, nặng nhất là ngân hàng không thu được vốn và

lãi, nợ thất thu với tỉ lệ cao dẫn đến ngân hàng bị lỗ và mất vốn. Nếu tình trạng

này kéo dài, ngân hàng có thể bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh

tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng. Chính vì vậy, đòi hỏi các nhà quản

trị ngân hàng phải hết sức thận trọng và có những biện pháp thích hợp nhằm

giảm thiểu RRTD

1.2 Phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng trong ngân hàng:

‘Phòng ngừa: là Phòng khơng cho những điều bất lợi, tại hại xảy ra’ (theo từ

điển Tiếng Việt Việt Nam). Tương tự phòng ngừa rủi ro tín dụng là quản lý mọi hoạt

động tín dụng khơng cho rủi ro xảy ra.

‘Hạn chế: là giữ lại, ngăn lại trong một giới hạn nhất định, không để cho vượt

qua’ (theo từ điển Tiếng Việt Việt Nam). Tương tự Hạn chế RRTD là những biện

pháp, cách thức tổ chức nhằm ngăn ngừa rủi ro tín dụng trong một mức giới hạn

nhất định, khơng cho nó xảy ra hoặc nếu có xảy ra thì cũng ở mức giới hạn cho

phép.

Như vậy phòng ngừa và hạn chế rủi ro là những biện pháp, cách thức, tổ chức

quản lý mọi hoạt động tín dụng để khơng cho rủi ro xảy ra hoặc nếu có xảy ra thì

cũng ở một mức chấp giới hạn cho phép.

1.2.1. Sự cần thiết của phòng ngừa và hạn chế RRTD trong hoạt động kinh

doanh ngân hàng

Rủi ro là yếu tố gắn liền với mọi hoạt động đầu tư nói chung, trong đó có hoạt

động cho vay của các ngân hàng. Trong nỗ lực nhằm thu được lợi nhuận, các ngân



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Tín dụng Ngân hàng và Rủi ro tín dụng Ngân hàng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×