Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Việc quản lý khách hàng, kiểm tra, giám sát khoản vay hết sức lỏng lẻo, thực hiện việc kiểm soát sau giải ngân chưa được thường xuyên, còn mang tính hình thức nên kết quả kiểm tra chưa đủ cơ sở để khẳng định khách hàng đã sử dụng vốn vay đúng mục đích, th

Việc quản lý khách hàng, kiểm tra, giám sát khoản vay hết sức lỏng lẻo, thực hiện việc kiểm soát sau giải ngân chưa được thường xuyên, còn mang tính hình thức nên kết quả kiểm tra chưa đủ cơ sở để khẳng định khách hàng đã sử dụng vốn vay đúng mục đích, th

Tải bản đầy đủ - 0trang

39



2.3.3 Về tài sản đảm bảo

Đối với TSĐB hình thành trong tương lai (kể cả hình thành từ vốn vay), cán

bộ chưa bám sát quá trình hình thành tài sản để nhận từ khách hàng các hợp đồng

kinh tế, các chứng từ phát sinh trong quá trình hình thành tài sản như: hóa đơn, biên

bản thanh lý, biên bản nghiệm thu cơng trình và đưa vào sử dụng...Thậm chí, một số

tài sản khi đã được hình thành xong vẫn chưa cung cấp đủ các giấy tờ pháp lý về

quyền sở hữu tài sản để đưa tài sản vào thế chấp chính thức theo đúng quy định.

Ngồi ra, do cán bộ khơng theo dõi sâu sát tình hình hồn tất thủ tục pháp lý tài sản

hình thành từ vốn vay ngay nên ngay sau khi tài sản hoàn thành xong khách hàng đã

lợi dụng đem chính tài sản hình thành vốn vay của ngân hàng để thế chấp vay vốn

tại ngân hàng khác đã gây rủi ro cho ngân hàng trong việc cho vay đối với dự án có

tài sản hình thành từ vốn vay. Bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại nhiều sai sót do chủ yêu

cán bộ:

- Cho vay nhưng không quản lý, thế chấp nguồn thu, khi khách hàng khơng trả

được nợ phải phát mại TSĐB gặp khó khăn, ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ.

Việc theo dõi mua bảo hiểm cháy nổ cho các TSĐB chưa kịp thời, có TSĐB đã hết

hạn bảo hiểm nhưng chưa đôn đốc nhắc nhở khách hàng mua, nếu xảy ra sự cố đối

với những TSĐB chưa mua bảo hiểm thì khả năng thu nợ là khó khăn.

- Nhận TSĐB là hàng hóa mua đúng với quy trình nhận bảo đảm hàng hóa của

NH TMCP Ngoại thương Việt Nam, TSĐB chưa phù hợp quy định. Chưa định giá

lại theo đúng quy định; giám sát, kiểm tra chưa chặt chẽ để bảo vệ kho hàng cầm cố

xuất kho không theo quy định của ngân hàng; đề xuất TSĐB trong khi khách hàng

đang còn dư nợ.

2.3.4 Về chất lượng cán bộ

Một vài cán bộ tín dụng chưa thực hiện đúng qui trình nghiệp vụ, còn để xảy

ra sai sót, thậm chí việc giám sát quản lý hàng hóa thế chấp còn lỏng lẻo, còn chưa

kiểm tra tận tay tận mắt nên để hàng hóa bị mất, bị thiếu dẫn đến phải xử lý tài sản

để thu hồi nợ vay. Trong kiểm tra sau, CBTD khơng theo dõi sâu sát doanh nghiệp

để phân tích, nắm bắt các diễn biến xấu của doanh nghiệp như doanh thu giảm, tồn



40



kho cao, vốn luân chuyển âm, kết quả kinh doanh thua lỗ...nên chưa kịp thời phát

hiện những trường hợp DN sử dụng vốn vay không đúng mục đích.

Một số cán bộ chưa nắm bắt chế độ, quy chế, quy trình nghiệp vụ nên tư vấn,

giúp khách hàng còn lúng túng, thiếu tự tin, chưa hiệu quả, tiếp nhận, xử lý thông

tin chưa kịp thời; công tác báo cáo, xin ý kiến của lãnh đạo để giải quyết u cầu

của khách hàng còn chậm, chưa chính xác ảnh hưởng đến kết quả công việc.

Sự phối hợp giữa các phòng có liên quan cùng xử lý nghiệp vụ phục vụ khách

hàng đơi lúc còn thiếu chặt chẽ. Việc nhận biết của CBTD đối với thông tin về thị

trường, doanh nghiệp còn chậm, chưa nhạy bén.

2.4 Những nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại

thương Việt Nam- CN Quảng Nam

2.4.1 Chưa có được thơng tin ngành một cách đẩy đủ, có hệ thống

Trong cơng tác thẩm định dự án kênh thông tin ngành rất quan trọng trong

việc quyết định cho vay ngân hàng. Tuy vậy, thực tế hiện nay khi cần thông tin

ngành liên quan đến dự án, CBTĐ, CBTD thường tìm kiếm trên báo, tạp chí,

internet một cách tự phát hay nói cách khác làm một cách “may rủi” mà chưa có

được một địa chỉ hoặc nơi lưu trữ đáng tin cậy để tìm kiếm (chẳng hạn NH TMCP

Ngoại thương Việt Nam để cung cấp cho tồn hệ thống).

Trong q trình thẩm định, tuy có thu nhập thơng tin từ nhiều kênh nhưng việc

này chưa được thực hiện đồng bộ, thường xuyên, mà còn dựa vào nguồn thông tin

do khách hàng cung cấp để làm cơ sở thẩm định là chủ yếu. Việc này diễn ra rủi ro,

hoặc kết quả đánh giá dự án không đúng nếu nguồn thông tin do khách hàng cung

cấp là khơng chính xác, khơng trung thực. Khi phân tích thơng tin, ngồi thơng tin

do doanh nghiệp cung cấp, ngân hàng chỉ dựa trên dữ liệu từ CIC, chưa quan tâm

đến vài trò thơng tin, khơng chủ động tìm kiếm mà đợi thơng tin từ doanh nghiệp,

chưa có sự trao đổi, khai thác thông tin với chi nhánh khác của NH TMCP Ngoại

thương Việt Nam, với các ngân hàng khác hay tổ chức, hiệp hội doanh nghiệp để

làm phong phú thêm nguồn thông tin.



41



2.4.2 Chất lượng thẩm định khi cho vay chưa đạt yêu cầu

Chất lượng thẩm định của nhiều khoản vay chưa cao, chủ yếu mang tính hình

thức, phần lớn chỉ dựa vào các tài liệu do khách hàng cung cấp, khơng thẩm định kỹ

các tài liệu đó một cách độc lập. Tờ trình thẩm định sai sót nhiều, thể hiện sự cẩu

thả trong tác nghiệp của CBTD; chưa đánh giá được thực chất tình hình SXKD,

năng lực tài chính của khách hàng, thiếu cơ sở để xác định tính khả thi của vốn tự

có, hiệu quả của phương án/dự án vay vốn khi xem xét quyết định cấp tín dụng;

chưa xác định nhóm khách hàng có liên quan (quan hệ gia đình, quan hệ sở hữu,

điều hành) để có biện pháp phòng ngừa, kiểm sốt luồng tiền, hạn chế việc ln

chuyển vốn lòng vòng mà ngân hàng khơng thể kiểm sốt được. Trong q trình

thẩm định, việc phân tích đảm bảo nợ vay, chẩm điểm tín dụng và xếp hạn khách

hàng chưa thực sự được coi trọng dẫn đến chất lượng thẩm định thấp, kéo theo đó là

việc quyết định cho vay thiếu chuẩn xác.

Chưa quan tâm đầy đủ đến các dấu hiệu rủi ro đã được cảnh báo; tiếp tục cho

vay trong khi doanh nghiệp có hàng tồn kho cao, trong đó có cả hàng tồn kho chậm

ln chuyển mà chưa có giải trình thỏa đáng từ khách hàng.

Chưa quan tâm đầy đủ đến các yếu tố biến động bất thường của thị trường, các

tác động từ các chính sách của các quốc gia nhập khẩu: vụ kiện tôm, cá basa...Trong

thẩm định dự án, chưa quan tâm đầy đủ yếu tố thị trường đặc thù của sản phẩm:

quẹt gas, thủy tinh mỹ nghệ, vải ren,...để đề xuất biện pháp phòng ngừa bổ sung khi

dự án gặp khó khăn

Chưa quan tâm đầy đủ đến khả năng thu hồi công nợ của bên vay khi xem xét

cho vay; cho vay các doanh nghiệp có phương thức bán hàng trả chậm như chưa

xem xét đến các ràng buột về điều kiện thanh toán giữ bên vay và các đại lý. Khi

quyết định cho vay còn thiếu căn cứ khoa học, khơng phân tích tình hình khả năng

sử dụng vốn và hoàn trả nợ của doanh nghiệp nên đã đưa vốn vào những danh

nghiệp kém hiệu quả sẽ dẫn đến nợ quá hạn.

Vi phạm về nguyên tắc và điều kiện cho vay



42



Cho vay các khách hàng không đủ điều kiện theo quy định: có lỗ lũy kế nhiều

năm SXKD thua lỗ, có hệ số tự tài trợ thấp, mức vốn tự có tham giá thấp, khách

hàng có nợ xử lý rủi ro. Chưa thực hiện giảm dần nợ, chưa áp dụng biện pháp cho

vay từng lần đối với khách hàng hoạt động trong lĩnh vực thi công xây lắp.

Cho vay không có đảm bảo bằng tài sản khi cơng ty khơng đủ điều kiện; báo

cáo tài chính khơng được kiểm tốn hay quyết tốn thuế; số tiền cho vay khơng có

tài sản đảm bảo vượt quá 3 lần vốn chủ sở hữu của khách hàng; không phát hiện ra

số vốn thực góp rất thấp so với vốn đăng ký; cho vay 2 công ty nhưng thực chất là

do 1 người điều hành, không đánh giá đúng thực trạng HĐSXKD và tài chính của

khách hàng để quyết định cấp tín dụng.

Rủi ro trong khâu thẩm định khách hàng, dự án, khoản vay

Trong q trình thẩm định cho vay, việc xác định chính xác nguồn vốn tự có

thực tham gia vào dự án, phương án là cần thiết nhằm đảm bảo điều kiện tín dụng

và khả năng trả nợ cho ngân hàng.

Thẩm định về phương diện thị trường tiêu thụ có ý nghĩa quyết định đến thành

công hay thất bại của khách hàng, dự án. Việc thị trường tiêu thụ tập trung chủ yếu

cho một khách hàng (>50% doanh số) dễ xảy ra rủi ro.

2.4.3 Năng lực của đội ngũ cán bộ chưa đáp ứng với nhu cầu hội nhập

Năng lực quản trị điều hành chưa sâu sát

Công tác chỉ đạo điều hành - chấp hành một số lãnh đạo phòng tuy có chuyển

biến nhưng việc đối mới theo công tác chỉ đạo điều hành của BGĐ chưa phát huy

đầy đủ; do khối lượng cơng việc nhiều nên lãnh đạo phòng đã khơng qn xuyến

hết được cơng việc; một số lãnh đạo phòng chưa chủ động trong việc xây dựng

chương trình, chủ động nghiên cứu đề xuất các vấn đề khó khăn vướng mắc trong

nghiệp vụ được phân công. Việc tổ chức phân công thực hiện và kiểm tra giám sát

kết quả thực hiện của lãnh đạo phòng đối với nhân viên thiếu tập trung, xuyên suốt.

Vai trò lãnh đạo phòng chưa phát huy đúng mức trong quản lý tín dụng; việc

kết hợp xử lý cơng việc trong nội bộ phòng với các phòng liên quan còn lúng túng;

việc quản lý điều hành của một số lãnh đạo đôi khi thiếu kiên quyết.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Việc quản lý khách hàng, kiểm tra, giám sát khoản vay hết sức lỏng lẻo, thực hiện việc kiểm soát sau giải ngân chưa được thường xuyên, còn mang tính hình thức nên kết quả kiểm tra chưa đủ cơ sở để khẳng định khách hàng đã sử dụng vốn vay đúng mục đích, th

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×