Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TÍN DỤNG NGÂN HÀNG

TÍN DỤNG NGÂN HÀNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

4



- Giá trị của tín dụng khơng những được bảo tồn mà còn được nâng lên nhờ

lợi tức tín dụng. Người cho vay nhận giá trị sử dụng là lãi, hoạt động tín dụng tiềm

ẩn rủi ro rất lớn nên trong quan hệ tín dụng phải có lòng tin.

1.1.2 Rủi ro tín dụng Ngân hàng

Theo Hennie Van Greaning – Sonja B.Rajovic Bratonovic (the World Bank):

Rủi ro tín dụng được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền

lãi hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng. Đây

là thuộc tính vốn có của hoạt động ngân hàng. Rủi ro tín dụng tức là việc hồn trả bị

trì hỗn, hoặc tồi tệ hơn là khơng hồn trả được toàn bộ vốn gốc và lãi. Điều này

gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ, gây ảnh hưởng đến khả năng thanh

toán của ngân hàng.

Theo Timothy W.Koch: Một khi ngân hàng nắm giữ tài sản sinh lợi, rủi ro xảy ra

khi khách hàng sai hẹn – có nghĩa là khách hàng khơng thanh tốn vốn gốc và lãi theo

thỏa thuận. Rủi ro ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của

vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn (Bank

Management, University of South Carolina, The Dryden Press, 1995, page 107).

Theo Anthony Saunder và Marcia Millon Cornett: Rủi ro tín dụng nảy sinh do

một khả năng nào đó làm dòng tiền dự tính từ các khoản tài chính phải đòi được

nắm giữ bởi các tổ chức tài chính như các khoản cho vay sẽ không được trả đầy đủ.

Hầu như tất cả các tổ chức trung gian tài chính đều phải đối mặt với rủi ro này. Nếu

khoản nợ gốc được trả đầy đủ khi đến hạn và các khoản thanh toán lãi được thực

hiện vào những ngày đã thỏa thuận trước, các tổ chức tài chính sẽ ln ln nhận lại

được khoản gốc cho vay cộng thêm một khoản tiền lãi. Điều đó có nghĩa là họ

khơng phải đối mặt với rủi ro tín dụng. (Financial institution management, A risk

management approach, McGraw Hill international editor, 2006)

Theo ủy ban Basel thì “Rủi ro tín dụng là khả năng mà khách hàng vay hoặc

bên đối tác khơng thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã

cam kết. Rủi ro thất thoát đối với một ngân hàng là sự vỡ nợ của người giao ước

trong hợp đồng, trong đó sự vỡ nợ được xác định là bất kỳ sự vi phạm nghiêm trọng

nào đối với nghĩa vụ hợp đồng khi hoàn trả nợ và lãi”.



5



Còn theo quyết định số 493/2005/QĐ – NHNN ngày 22/04/2005 của Thống

đốc Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam thì “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân

hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng

của tổ chức tín dụng do khách hàng khơng thực hiện hoặc khơng có khả năng thực

hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết” [5].

Các định nghĩa khá đa dạng nhưng tựu trung lại chúng ta có thể rút ra các nội

dung cơ bản của rủi ro tín dụng như sau:

- Rủi ro tín dụng khi người vay sai hẹn (defaut) trong thực hiện nghĩa vụ trả

nợtheo hợp đồng, bao gồm vốn và/ hoặc lãi. Sự sai hẹn có thể là trễ hạn (delayedpayment) hoặc khơng thanh tốn (non-payment).

- Rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến tổn thất tài chính, tức là giảm thu nhập ròng và

giảm giá trị thị trường của vốn. Trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến

thua lỗ, hoặc ở mức độ cao hơn có thể dẫn đến phá sản.

- Đối với các nước đang phát triển (như ở Việt Nam), các ngân hàng thiếu đa

dạng trong kinh doanh, các dịch vụ tài chính, các sản phẩm dịch vụ còn nghèo nàn,

vì vậy tín dụng được coi là dịch vụ sinh lời chủ yếu và thậm chí gần như là duy

nhất, đặc biệt đối với các ngân hàng nhỏ. Vì vậy rủi ro tín dụng cao hay thấp sẽ

quyết định hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.

- Mặt khác, rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng của ngân hàng là hai đại lượng đồng

biến với nhau trong một phạm vi nhất định (lợi nhuận kỳ vọng càng cao, thì rủi ro

tiềm ẩn càng lớn).

- Rủi ro là một yếu tố khách quan cho nên người ta không thể nào loại trừ

hồn tồn được mà chỉ có thể hạn chế sự xuất hiện của chúng cũng như tác hại do

chúng gây ra.

Tuy nhiên một khoản vay dù chưa quá hạn nhưng vẫn luôn tiềm ẩn nguy cơ

xảy ra tổn thất, một ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn thấp nhưng nguy cơ rủi ro tín

dụng sẽ rất cao nếu danh mục đầu tư tín dụng tập trung vào một nhóm khách hàng,

ngành hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Cách hiểu này sẽ giúp cho hoạt động quản trị rủi



6



ro tín dụng được chủ động trong phòng ngừa, trích lập dự phòng, đảm bảo chống đỡ

và bù đắp tổn thất khi rủi ro xảy ra.

* Phân loại rủi ro tín dụng

Có nhiều cách phân loại rủi ro tín dụng khác nhau tùy theo mục đích, yêu cầu

nghiên cứu. Tùy theo tiêu chí phân loại mà người ta chia rủi ro tín dụng thành các

loại khác nhau.

- Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia

thành các loại sau đây:



Rủi ro

tín dụng



Rủi ro danh mục



Rủi ro

nội tại



Rủi ro

tập

trung



Rủi ro giao dịch



Rủi ro

lựa

chọn



Rủi ro

đảm

bảo



Rủi ro

nghiệp

vụ



Rủi ro danh mục là rủi ro do việc quản lý danh mục cho vay của ngân hàng

không hiệu quả, không phù hợp với định hướng của nền kinh tế hoặc định hướng

phát triển của ngân hàng. Rủi ro danh mục bao gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.

+ Rủi ro nội tại: là rủi ro xuất phát từ các yếu tố mà bản thân CBTD làm tốt

công việc của mình cũng khơng thể tránh khỏi. Nó mang tính riêng biệt của mỗi chủ

thể đi vay hoặc nền kinh tế.

+ Rủi ro tập trung: là rủi ro mà ngân hàng đã dồn dư nợ cho vay vào một số

khách hàng, một số thành phần kinh tế, ngành kinh tế hoặc một khu vực địa lý.

Rủi ro giao dịch là rủi ro phát sinh trong quá trình xem xét quyết định cho vay

và giải ngân một khoản vay. Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm

bảo và rủi ro nghiệp vụ.

+ Rủi ro lựa chọn: là rủi ro liên quan đến thẩm định và phân tích tín dụng.



7



+ Rủi ro đảm bảo: là rủi ro xuất phát từ các tiêu chuẩn đảm bảo, như các điều

khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo và mức an tồn của nó.

+ Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến quản trị hoạt động cho vay như xây

dựng và thực hiện chính sách tín dụng để định hướng cho việc thực hiện cho vay và

kiểm soát danh mục cho vay, tái xét và giám sát danh mục cho vay, bao gồm cả việc

sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề.

- Nếu phân loại theo tính khách quan, chủ quan của ngun nhân gây ra rủi ro

thì rủi ro tín dụng được phân ra thành rủi ro khách quan và rủi ro chủ quan. Rủi ro

khách quan là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như thiên tai, địch họa, người

vay bị chết, mất tích và các biến động ngồi dự kiến khác làm thất thốt vốn vay

trong khi người vay đã thực hiện nghiêm túc chế độ chính sách. Rủi ro chủ quan do

nguyên nhân thuộc về chủ quan của người vay và người cho vay vì vơ tình hay cố ý

làm thất thốt vốn vay hay vì những lý do chủ quan khác.

Ngồi ra còn nhiều hình thức phân loại khác như phân loại căn cứ theo cơ

cấucác loại hình rủi ro, phân loại theo nguồn gốc hình thành, theo đối tượng sử

dụng vốn vay…



*Biểu hiện rủi ro tín dụng

RRTD ẩn chứa trong những khoản cho vay có vấn đề và biểu hiện dưới nhiều

hình thức khác nhau. Dưới đây là một số dấu hiệu cơ bản giúp nhận biết, phán đốn

và sớm có những biện pháp kịp thời nhằm ngăn chặn RRTD xảy ra:

- Nhóm dấu hiệu phát sinh từ phía khách hàng: nhóm dấu hiệu liên quan

đến mối quan hệ với ngân hàng. Có thể phát hiện rủi ro thông qua các hành vi ứng

xử của khách hàng như: Việc trì hỗn hoặc gây khó khăn đối với ngân hàng trong

quá trình kiểm tra theo định kỳ hoặc đột xuất tình hình sử dụng vốn vay, tình hình

tài chính, HĐSXKD của khách hàng mà khơng có sự giải thích minh bạch, thuyết

phục; khơng thực hiện đầy đủ các quy định, vi phạm pháp luật trong q trình tín

dụng; chậm gởi hoặc trì hỗn gởi các báo cáo tài chính theo u cầu mà khơng có

sự giải thích minh bạch, thuyết phục; khơng có các báo cáo hay dự toán về lưu

chuyển tiền tệ; mức độ vay thường xuyên gia tăng, yêu cầu các khoản vay vượt quá



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TÍN DỤNG NGÂN HÀNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×