Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nhờ thu kèm chứng từ (D/P: Document against Payment)

Nhờ thu kèm chứng từ (D/P: Document against Payment)

Tải bản đầy đủ - 0trang

8



Collecting bank sẽ gởi bản sao của bộ chứng từ và hối phiếu cho

người mua. Nếu là nhờ thu chấp nhận chứng từ thì người mua hàng sẽ

ký chấp nhận lên hối phiếu và gửi lại cho ngân hàng nhờ thu. Nếu là

nhờ thu kèm chứng từ: Người mua sẽ gửi lại cho ngân hàng lệnh chi.

1.1.3.4. Phương thức tín dụng chứng từ (Document Credit):

Tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận, trong đó ngân hàng (ngân hàng

mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hang (người xin mở thư tín

dụng) cam kết thanh tốn một số tiền nhất định cho người thứ ba

(người hưởng lợi) hoặc trả theo lệnh của người này, hoặc chấp nhận

hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó, với điều kiện

người này thực hiện đầy đủ các yêu cầu của thư tín dụng và xuất trình

cho ngân hang bộ chứng từ thanh toán phù hợp với các điều khoản,

điều kiện đã ghi trong thư tín dụng.

Trong phương thức này, việc cam kết thanh toán của ngân hang mở thư tín

dụng (L/C) được thể hiện trong các trường hợp sau:

- Ngân hàng mở L/C sẽ thực hiện trả tiền ngay hoặc cam kết trả tiền khi

đáo hạn hoặc chấp nhận hối phiếu do người thụ hưởng lập và thanh toán hối

phiếu khi đáo hạn.

- Ngân hàng mở L/C chỉ thị cho một ngân hang khác trực tiếp trả tiền ngay

hoặc cam kết trả tiền khi đáo hạn hoặc chấp nhận hối phiếu do người thụ

hưởng lập và thanh toán hối phiếu khi đáo hạn.

- Ngân hàng mở L/C chỉ thị một ngân hang khác đứng ra chiết khấu bộ

chứng từ xuất trình phù hợp với các điều khoản và điều kiện của L/C.

1.2. PHƯƠNG THỨC THANH TỐN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ

1.2.1. Khái niệm

Tại điều theo UCP 600: “Tín dụng chứng từ là bất cứ một sự thỏa thuận

nào, dù cho được mô tả hoặc đặt tên như thế nào, là khơng thể hủy bỏ và theo



9



đó là một sự cam kết chắc chắn của ngân hàng phát hành để thanh tốn khi

xuất trình phù hợp.

Thanh tốn có nghĩa là:

- Trả ngay khi xuất trình, nếu tín dụng có giá trị thanh toán ngay

- Cam kết thanh toán về sau và trả tiền khi đáo hạn, nếu tín dụng có giá trị

thanh toán về sau.

- Chấp nhận hối phiếu (“draft”) do người thụ hưởng ký phát và trả tiền khi

đáo hạn, nếu tín dụng có giá trị thanh tốn bằng chấp nhận. [7,tr.41]

1.2.2. Cơ sở pháp lý

- UCP No 600

Quy tắc thống nhất về tập quán và thực hành tín dụng chứng từ (Uniform

customs and practice for documentary credits – Ucp). UCP do Phòng Thương

mại quốc tế (the International Chamber of Commerce) phát hành vào năm

1993. Để ngày càng phù hợp với thực tiễn thương mại quốc tế từ lúc ra đời

đến nay, UCP đã 7 lần sửa đổi như sau:

1933

1951

1962

1974

1983

1993

2007



UCP No 82

UCP No 131

UCP No 222

UCP No 290

UCP No 400

UCP No 500

UCP No 600



Hiện UCP được sử dụng trên 180 nước trên thế giới, năm 1962 lần đầu

tiên được dịch ra tiếng Việt. UCP được coi là một văn bản quy tắc hướng dẫn,

tùy ý các bên sử dụng được quyền lựa chọn một trong sáu bản UCP. Tuy

nhiên chỉ có bản UCP tiếng Anh mới có giá trị pháp lý. Tháng 12/2006 ICC

ban hành UCP 600 có hiệu lực vào ngày 01/07/2007. UCP 600 là văn bản

hiện hành. Khi sử dụng chỉ cần dẫn chiếu UCP 600 vào L/C. [8]

- URR No 525



10



Quy tắc thống nhất về bồi hồn chuyển tiền giữa các ngân hàng theo tín

dụng chứng từ (Uniform rules of bank to bank reimbursements under

documentary credits No 525 URR 525), ICC ban hành vào tháng 12 năm

1996. Ở Việt nam bắt đầu thực hiện kể từ ngày 1/7/1996.

URR No 525 được áp dụng trong trường hợp L/C quy định thanh toán hoặc

chấp nhận thanh toán tại ngân hàng thanh toán, ngân hàng xác nhận, hoặc

ngân hàng chiết khấu… Nếu người hưởng lợi xuất trình bộ chứng từ hợp lệ,

sau khi thanh toán các ngân hàng này yêu cầu ngân hàng mở L/C bồi hoàn

tiền hoặc ngân hàng mở L/C có thể chỉ thị đòi tiền ở một ngân hàng khác - gọi

là ngân hàng hoản trả tiền. Quy tắc URR 525 ra đời nhằm phân chia quyền

hạn trách nhiệm giữa các ngân hàng, đồng thời tránh trường hợp các ngân

hàng chiếm dụng vốn lẫn nhau.[8]

- e-UCP

Nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển ngày càng rộng rãi của thương mại

điện tử, kỹ thuật xử lý chứng từ điện tử trong tín dụng chứng từ đã được ICC

đề cập trong cuộc họp ngày 24/05/2000 tại Paris. Sau 18 tháng nổ lực thực

hiện ICC cho ra đời văn bản bổ sung eUCP - được coi là UCP500.1 có hiệu

lực kể từ tháng 2/2002. Để phù hợp với UCP 600, ICC ban hành eUCP.

Cần phải hiểu rõ là e.UCP không phải là bản sửa đổi UCP mà là phụ bản

của UCP. eUCP mang tính bổ sung chứ khơng thay thế hoàn toàn UCP, được

sử dụng trong trường hợp L/C quy định xuấtt trình chứng từ điện tử và kể cả

chứng từ truyền thống bằng văn bản, góp phần hồn thiện hơn dịch vụ ngân

hàng trên nền tảng công nghệ thông tin. [8]

- ISBP - 681

Văn bản về thực hành kiểm tra chứng từ theo tiêu chuẩn Ngân hàng quốc

tế đối với phương thức tín dụng chứng từ (International Standard Banking

Practice for examination of documents under documentary credits).



11



Về cơ bản ISBP 681 không thay đổi nhiều so với ISBP 645. ISBP 681

bao gồm 185 nội dung được chắc lọc từ kinh nghiệm thực tiễn quý báu về

kiểm tra chứng từ của các ngân hàng thương mại trên thế giới đồng thời phù

hợp với tinh thần sửa đổi của UCP 600. [8]

- Một số văn bản pháp lý khác

Ngồi ra tín dụng chứng từ còn được điều chỉnh bởi các văn bản pháp lý

như: Incoterms 2000, luật hối phiếu… và tập quán thương mại quốc tế. Trên

thực tế tập quán thương mại quốc tế có ảnh hưởng nhất định đến việc hai bên

lựa chọn các điều khoản trong hợp đồng, cũng như tập quán kinh doanh của

từng ngân hàng…

1.2.3. Thư tín dụng

- Khái niệm

Thư tín dụng (Letter of Credit - viết tắt là L/C) là một cam kết thanh tốn

có điều kiện bằng văn bản của một tổ chức tài chính (thơng thường là

ngân hàng) đối với người thụ hưởng L/C (thông thường là người bán

hàng hoặc người cung cấp dịch vụ) với điều kiện người thụ hưởng

phải xuất trình bộ chứng từ phù hợp với tất cả các điều khoản được

quy định trong L/C, phù hợp với Quy tắc thực hành thống nhất về tín

dụng chứng từ (UCP) được dẫn chiếu trong thư tín dụng và phù hợp

với Tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế dùng để kiểm tra chứng từ

trong phương thức tín dụng chứng từ (ISBP).

Theo điều 4 của UCP 600 nêu rõ; “Thư tín dụng về bản chất nó là một giao

dịch riêng biệt với hợp đồng mua bán hoặc hợp đồng khác, mà chính

hợp đồng đó là cơ sở cho ra đời thư tín dụng”

- Các loại L/C

Có nhiều cách phân loại LC và theo mỡi cách phân loại khác nhau ta có

nhiều hình thức L/C khác nhau:



12



 Phân loại theo tính chất có thể hủy ngang

 L/C hủy ngang (Revocable L/C):

Đây là loại L/C mà bên mở L/C có thể sửa đổi, huy bỏ, bổ sung bất cứ

lúc nào mà không cần báo trước cho người thụ hưởng. Tuy nhiên, việc sửa đổi

hay hủy bỏ phải thực hiện trước khi người bán giao hàng.

Loại L/C này hầu như không được sử dụng trong thực tế vì quyền lợi của

người bán khơng được đảm bảo. UCP 600 cũng đã loại bỏ hoàn toàn điều 6 và

điều 8 của UCP 500 nói về L/C hủy ngang. Như vậy L/C hủy ngang đã khơng

còn xuất hiện trong UCP 600.

 L/C không hủy ngang (Irrevocable L/C):

Là loại L/C mà ngân hàng phát hành không được quyền đơn phương sửa đổi

hay hủy bỏ L/C khi chưa có sự đồng ý của người thụ hưởng. Theo điều 3 của

UCP600, một thư tín dụng là khơng hủy ngang ngay cả khi trong thư tín dụng

khơng quy định như vậy.

 Phân loại theo thời hạn thanh toán:

 L/C trả ngay (L/C at sight):

Là L/C trong đó ngân hàng phát hành cam kết thanh tốn cho người thụ

hưởng khi họ xuất trình bộ chứng từ hợp lệ theo L/C.

 L/C trả chậm (Usance L/C):

Là L/C trong đó ngân hàng phát hành cam kết thanh toán cho người thụ

hưởng theo thời hạn quy định trong thư tín dụng khi người thụ hưởng xuất

trình bộ chứng từ hợp lệ theo L/C.

 Phân loại theo tính chất của L/C:

 L/C xác nhận (Confirm L/C):



13



Là L/C không hủy ngang trong đó có một ngân hàng khác đứng ra đảm

bảo việc trả tiền theo L/C cùng với ngân hàng phát hành. Người bán yêu cầu

L/C xác nhận khi họ chưa tin tưởng vào khả năng thanh toán của ngân hàng

phát hành.

 L/C tuần hoàn (Revolving L/C):

Là L/C mà sau khi đã sử dụng hết giá trị của nó hoặc đã hết thời hạn hiệu

lực thì nó lại tự động có giá trị như cũ và tiếp tục được sử dụng một cách tuần

hoàn trong một thời hạn nhất định cho đến khi tổng trị giá hợp đồng được

thực hiện.

Trường hợp sử dụng và đặc điểm:

- Sử dụng cho trường hợp hàng hóa là những mặt hàng mua bán thường

xuyên, định kỳ, số lượng lớn, giao hàng nhiều lần trong một thời gian nhất

định; hoặc các bên mua bán quen thuộc là tin cậy lẫn nhau.

- Giúp người mua tránh được ứ đọng vốn, giảm được phí mở L/C, giảm

được tỷ lệ ký quỹ.

- L/C tuần hoàn cần ghi rõ ngày hết hiệu lực cuối cùng, số lần tuần hoàn.

Đồng thời phải ghi rõ có cho phép số dư của L/C trước cộng dồn vào những

L/C kế tiếp hay không, nếu khơng cho phép thì gọi là L/C tuần hồn khơng

tích lũy (non-cumulative revolving L/C), còn nếu cho phép cộng dồn thì gọi

là L/C tuần hồn tích lũy (cumulative L/C).

Thơng thường có ba cách tuần hồn sau:

- Tuần hồn tự động: L/C tự động có giá trị như cũ mà khơng cần có sự

thơng báo của ngân hàng phát hành L/C cho người bán biết.

- Tuần hoàn bán tự động: Nếu sau một số ngày nhất định kể từ ngày L/C

hết hạn hiệu lực hoặc đã sử dụng hết mà ngân hàng phát hành L/C khơng có ý

kiến gì thì L/C tự động có giá trị lại như cũ.



14



- Tuần hoàn hạn chế: Là chỉ khi nào ngân hàng phát hành L/C thơng báo

cho người bán thì L/C mới có giá trị lại như cũ.

 L/C chuyển nhượng (Transferable L/C):

Là L/C theo đó người hưởng lợi thứ nhất được quyền chuyển nhượng

một phần hay toán bộ giá trị L/C cho một hay nhiều người hưởng lợi thứ hai.

Trường hợp sử dụng và đặc điểm:

- L/C chuyển nhượng chỉ được chuyển nhượng một lần

- Được sử dụng khi người hưởng thứ nhất khơng tự cung cấp được hàng

hóa mà chỉ là một người môi giới.

- Người hưởng lợi ban đầu vẫn là người chịu trách nhiệm chính với

người mua. Trường hợp người hưởng lợi thứ hai không giao hàng hay giao

hàng khơng đúng thì người hưởng lợi thứ nhất phải chịu trách nhiệm với

người mua theo hợp đồng đã ký.

 L/C giáp lưng (Back to back L/C):

L/C giáp lưng là một tín dụng mới mở dựa trên cơ sở một L/C đã có – tín

dụng khơng chuyển nhượng (tín dụng gốc) – cho một người thụ hưởng khác

(do đó còn có tên là giáp lưng).

L/C giáp lưng là một L/C biệt lập được mở trên cơ sở của L/C gốc (cùng

với điều kiện của L/C gốc) còn gọi là L/C thứ hai trên cơ sở một L/C thứ nhất.

L/C giáp lưng cũng được dùng trong mua bán qua trung gian như L/C chuyển

nhượng. Tuy nhiên, sự khác nhau giữa L/C chuyển nhượng và giáp lưng là

NH phát hành L/C giáp lưng hồn tồn chịu trách nhiệm thanh tóan bộ chứng

từ hợp lệ theo L/C mà mình mở khơng ràng buộc bởi L/C gốc. Nghĩa vụ của

hai ngân hàng phát hành L/C gốc và L/C giáp lưng là hoàn toàn độc lập với

nhau. Người hưởng L/C gốc trở thành nguời mở L/C giáp lưng nên họ phải

thực hiện nghiêm ngặt nghĩa vụ của người mở L/C. Trong nghiệp vụ L/C giáp



15



lưng người cung cấp hàng hóa hòan tòan n tâm về thanh tốn vì họ chỉ có

nghĩa vụ thực hiện L/C thứ hai do người trung gian mở

Trường hợp sử dụng và đặc điểm: L/C giáp lưng được sử dụng chủ yếu qua

mua bán trung gian khi:

- L/C gốc không cho phép chuyển nhượng. Do đó, nhà trung gian đem

L/C này làm đảm bảo để mở giáp lưng cho người cung cấp hàng cho mình

hưởng.

Hoặc khi:

- Nhà cung cấp khơng đồng ý L/C chuyển nhượng vì nó khơng đảm bảo

khả năng được thanh toán.

- Khi các chứng từ được yêu cầu xuất trình theo L/C gốc khơng thể khớp

với các chứng từ phải xuất trình theo L/C giáp lưng.

- Người trung gian muốn giấu một số thông tin trong L/C gốc. Giữa L/C

gốc và L/C giáp lưng khơng có mối liên hệ pháp lý nào. Người mở L/C gốc

khơng liên quan gì đến L/C giáp lưng, còn người thụ hưởng L/C giáp lưng

cũng khơng liên quan gì đến L/C gốc.

 L/C đối ứng - Reciprocal L/C

Là lọai L/C chỉ có hiệu lực khi có một L/C khác đối ứng với nó đã được phát

hành. L/C đối ứng được phát hành hoặc chỉ có hiệu lực khi có một L/C khác

đối ứng với nó đã được phát hành. Khác với những L/C thơng thường được

thanh toán/chấp nhận thanh toán khi chứng từ xuất trình phù hợp, L/C đối ứng

là L/C thanh tốn có điều kiện, theo đó NHPH L/C đối ứng cam kết thanh

toán chỉ sau khi nhận được đầy đủ tiền hàng theo L/C khác đối với L/C do

NHPH đó phát hành.

Trường hợp sử dụng:

L/C này được sử dụng trong giao dịch hàng đổi hàng và gia công hàng

xuất khẩu. Cả hai bên đều là người mua, người bán của nhau. Đặc điểm nổi



16



bật của L/C này là điều khoản thanh toán. Điều kiện thanh tốn điển hình của

L/C đối ứng thường được NHPH quy định tương tự như sau: “Đây là L/C đối

ứng với L/C số … ngày …. được phát hành bởi Ngân hàng….. Khi nhận được

chứng từ phù hợp, chúng tôi (NHPH) sẽ chấp nhận hối phiếu/chứng từ và sẽ

thực hiện thanh toán hối phiếu/chứng từ đáo hạn chỉ sau khi nhận được đầy

đủ tiền hàng theo L/C số ……….. ngày …… do Ngân hàng ……. phát hành”.

Đơn giản hơn có thể trong 2 L/C này đều ghi chỉ được thanh tốn khi 1 L/C

khác đối ứng với nó được mở ra. L/C đối ứng xét về bản chất chỉ là một nửa

L/C do sự cam kết có điều kiện của ngân hàng. Ở các nước khác, đã từ lâu

khơng còn sử dụng L/C này. Ở Việt Nam loại L/C này được phát hành phổ

biến ở những năm 90 khi các công ty dệt may Việt Nam gia công hàng may

mặc cho các công ty ở Hàn Quốc. Hiện nay loại L/C hầu như khơng còn được

sử dụng rộng rãi.

 Thư tín dụng dự phòng (Standby letter of Credit SBLC):

L/C dự phòng là một tín dụng chứng từ hay là dàn xếp tương tự, thể hiện

nghĩa vụ của ngân hàng phát hành tới người thụ hưởng trong việc:

- Thanh toán lại khoản tiền mà người yêu cầu mở L/C dự phòng đã vay

hoặc được ứng trước.

- Thanh tốn khoản nợ của người mở L/C dự phòng.

- Bồi thường những thiệt hại do người mở L/C dự phòng khơng thực

hiện nghĩa vụ của mình.

Do đó, L/C dự phòng được xem như là phương tiện thanh toán thứ yếu.

Sự khác nhau về L/C thương mại và L/C dự phòng là L/C thương mại hoạt

động trên cơ sở thực hiện hợp đồng của người bán. Ngược lại, L/C dự phòng

đảm bảo cho người thụ hưởng trong trường hợp nghĩa vụ không được thực

hiện. Trong L/C dự phòng, ngân hàng mở ghi rõ L/C này chỉ có giá trị thực

hiện khi có sự vi phạm nghĩa vụ của người xin mở L/C, ngược lại nếu khơng



17



có sự vi phạm này, L/C dự phòng sẽ không được thực hiện. L/C dự pḥng

được sử dụng như một hình thức bảo lãnh trong một phạm vi rất rộng bao

gồm các họat động thưong mại, tài chính.

 LC có điều khoản đỏ - Red clause L/C (anticipatory):

L/C có điều khoản đỏ là loại L/C có điều kiện cho phép người hưởng

được nhận một khỏan tiền trước khi giao hàng trên cơ sở hối phiếu trơn hay

hối phiếu kèm chứng từ chứng minh rằng đã có hàng để giao như biên lai kho

hàng (warrant hay warehouse’s receipt) biên lai của người giao nhận

(forwarder’s receipt) thông thường khi nhận khỏan tiền ứng trước này, người

hưởng lợi có thể viết cam kết cho ngân hàng là sẽ xuất trình một bộ chứng từ

theo quy định của L/C sau đó. Khoản ứng trước sẽ được khấu trừ vào tiền

thanh toán bộ chứng từ.

1.2.4. Các bên tham gia trong phương thức thanh tốn tín dụng

-



Người xin mở thư tín dụng (the applicant, the importer, the buyer,



accountee): là người mua, nhà nhập khẩu, người trả tiền. Theo điều 2 UCP 600

người yêu cầu mở L/C là bên mà theo yêu cầu của bên này, một tín dụng thư được

phát hành.

- Người thụ hưởng L/C (the beneficiary, the seller, the exporter): là

người bán, nhà xuất khẩu hay một người bất kỳ do người hưởng lợi chỉ định,

cũng chính là người ký phát hối phiếu (Drawer). Theo điều 2 – UCP600

người thụ hưởng là bên mà vì quyền lợi của bên đó, một tín dụng được phát

hành.

- Ngân hàng mở thư tín dụng (the opening bank, the issuing bank) là

ngân hàng phục vụ cho nhà nhập khẩu, sẵn sàng cung cấp tín dụng cho nhà

nhập khẩu. Theo điều 2 – UCP 600 ngân hàng phát hành là ngân hàng theo

yêu cầu của người cin mở L/C hoặc nhân danh chính mình, phát hành một tín

dụng.



18



- Ngân hàng thơng báo thư tín dụng (the advising bank): là ngân hàng có

nhiệm vụ thơng báo thư tín dụng cho nhà xuất khẩu thường là ngân hàng đại

lý của ngân hàng mở thư tín dụng ở nước người hưởng lợi. Theo điều 2 –

UCP 600 Ngân hàng thông báo là ngân hàng tiến hành thơng báo tín dụng

theo u cầu của ngân hàng phát hành.

Ngồi ra còn có thể có các bên khác tham gia trong phương thức thanh toán này

như:

- Ngân hàng xác nhận (the confirming bank): là một ngân hàng khác

đứng ra cam kết thanh toán L/C, được áp dụng trong trường hợp người hưởng

lợi nghi ngờ khả năng tài chính của ngân hàng mở thư tín dụng. Ngân hàng

xác nhận có thể là ngân hàng thơng báo L/C hay một ngân hàng bất kỳ do

người hưởng lợi yêu cầu, thường là những ngân hàng lớn có uy tín trên thị

trường quốc tế. Theo điều 2 – UCP 600 ngân hàng xác nhận là ngân hàng theo

yêu cầu hoặc theo yêu cầu của ngân hàng phát hành, thực hiện xác nhận của

mình đối với một tín dụng.

- Ngân hàng được chỉ định (Nominated bank): là ngân hàng mà tại đó tín

dụng có giá trị thanh tốn/ thương lượng hoặc là bất cứ ngân hàng nào nếu tín

dụng có giá trị tự do.

- Ngân hàng chuyển nhượng (Transfering bank): là ngân hàng thực hiện

việc chuyển nhượng thư tín dụng.

- Ngân hàng hoàn trả (Reimbursing bank): là ngân hàng thực hiện việc

hoàn trả tiền được ngân hàng phát hành ủy quyền và được quy định trong thư

tín dung.

- Ngân hàng chuyển chứng từ (Remitting bank): là ngân hàng có nhiệm

vụ chuyển bộ chứng từ đến ngân hàng mở thư tín dụng để đòi tiền.

- Ngân hàng thương lượng – chiết khấu (Negotiating bank): là ngân hàng

thực hiện thương lượng – chiết khấu bộ chứng từ khi nó đứng ra mua hối



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nhờ thu kèm chứng từ (D/P: Document against Payment)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×