Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Theo điều 4 của UCP 600 nêu rõ; “Thư tín dụng về bản chất nó là một giao dịch riêng biệt với hợp đồng mua bán hoặc hợp đồng khác, mà chính hợp đồng đó là cơ sở cho ra đời thư tín dụng”

Theo điều 4 của UCP 600 nêu rõ; “Thư tín dụng về bản chất nó là một giao dịch riêng biệt với hợp đồng mua bán hoặc hợp đồng khác, mà chính hợp đồng đó là cơ sở cho ra đời thư tín dụng”

Tải bản đầy đủ - 0trang

12



 Phân loại theo tính chất có thể hủy ngang

 L/C hủy ngang (Revocable L/C):

Đây là loại L/C mà bên mở L/C có thể sửa đổi, huy bỏ, bổ sung bất cứ

lúc nào mà không cần báo trước cho người thụ hưởng. Tuy nhiên, việc sửa đổi

hay hủy bỏ phải thực hiện trước khi người bán giao hàng.

Loại L/C này hầu như khơng được sử dụng trong thực tế vì quyền lợi của

người bán không được đảm bảo. UCP 600 cũng đã loại bỏ hoàn toàn điều 6 và

điều 8 của UCP 500 nói về L/C hủy ngang. Như vậy L/C hủy ngang đã khơng

còn xuất hiện trong UCP 600.

 L/C không hủy ngang (Irrevocable L/C):

Là loại L/C mà ngân hàng phát hành không được quyền đơn phương sửa đổi

hay hủy bỏ L/C khi chưa có sự đồng ý của người thụ hưởng. Theo điều 3 của

UCP600, một thư tín dụng là không hủy ngang ngay cả khi trong thư tín dụng

khơng quy định như vậy.

 Phân loại theo thời hạn thanh toán:

 L/C trả ngay (L/C at sight):

Là L/C trong đó ngân hàng phát hành cam kết thanh tốn cho người thụ

hưởng khi họ xuất trình bộ chứng từ hợp lệ theo L/C.

 L/C trả chậm (Usance L/C):

Là L/C trong đó ngân hàng phát hành cam kết thanh tốn cho người thụ

hưởng theo thời hạn quy định trong thư tín dụng khi người thụ hưởng xuất

trình bộ chứng từ hợp lệ theo L/C.

 Phân loại theo tính chất của L/C:

 L/C xác nhận (Confirm L/C):



13



Là L/C không hủy ngang trong đó có một ngân hàng khác đứng ra đảm

bảo việc trả tiền theo L/C cùng với ngân hàng phát hành. Người bán yêu cầu

L/C xác nhận khi họ chưa tin tưởng vào khả năng thanh toán của ngân hàng

phát hành.

 L/C tuần hoàn (Revolving L/C):

Là L/C mà sau khi đã sử dụng hết giá trị của nó hoặc đã hết thời hạn hiệu

lực thì nó lại tự động có giá trị như cũ và tiếp tục được sử dụng một cách tuần

hoàn trong một thời hạn nhất định cho đến khi tổng trị giá hợp đồng được

thực hiện.

Trường hợp sử dụng và đặc điểm:

- Sử dụng cho trường hợp hàng hóa là những mặt hàng mua bán thường

xuyên, định kỳ, số lượng lớn, giao hàng nhiều lần trong một thời gian nhất

định; hoặc các bên mua bán quen thuộc là tin cậy lẫn nhau.

- Giúp người mua tránh được ứ đọng vốn, giảm được phí mở L/C, giảm

được tỷ lệ ký quỹ.

- L/C tuần hoàn cần ghi rõ ngày hết hiệu lực cuối cùng, số lần tuần hoàn.

Đồng thời phải ghi rõ có cho phép số dư của L/C trước cộng dồn vào những

L/C kế tiếp hay không, nếu khơng cho phép thì gọi là L/C tuần hồn khơng

tích lũy (non-cumulative revolving L/C), còn nếu cho phép cộng dồn thì gọi

là L/C tuần hồn tích lũy (cumulative L/C).

Thơng thường có ba cách tuần hồn sau:

- Tuần hồn tự động: L/C tự động có giá trị như cũ mà khơng cần có sự

thơng báo của ngân hàng phát hành L/C cho người bán biết.

- Tuần hoàn bán tự động: Nếu sau một số ngày nhất định kể từ ngày L/C

hết hạn hiệu lực hoặc đã sử dụng hết mà ngân hàng phát hành L/C khơng có ý

kiến gì thì L/C tự động có giá trị lại như cũ.



14



- Tuần hồn hạn chế: Là chỉ khi nào ngân hàng phát hành L/C thơng báo

cho người bán thì L/C mới có giá trị lại như cũ.

 L/C chuyển nhượng (Transferable L/C):

Là L/C theo đó người hưởng lợi thứ nhất được quyền chuyển nhượng

một phần hay toán bộ giá trị L/C cho một hay nhiều người hưởng lợi thứ hai.

Trường hợp sử dụng và đặc điểm:

- L/C chuyển nhượng chỉ được chuyển nhượng một lần

- Được sử dụng khi người hưởng thứ nhất khơng tự cung cấp được hàng

hóa mà chỉ là một người môi giới.

- Người hưởng lợi ban đầu vẫn là người chịu trách nhiệm chính với

người mua. Trường hợp người hưởng lợi thứ hai không giao hàng hay giao

hàng không đúng thì người hưởng lợi thứ nhất phải chịu trách nhiệm với

người mua theo hợp đồng đã ký.

 L/C giáp lưng (Back to back L/C):

L/C giáp lưng là một tín dụng mới mở dựa trên cơ sở một L/C đã có – tín

dụng khơng chuyển nhượng (tín dụng gốc) – cho một người thụ hưởng khác

(do đó còn có tên là giáp lưng).

L/C giáp lưng là một L/C biệt lập được mở trên cơ sở của L/C gốc (cùng

với điều kiện của L/C gốc) còn gọi là L/C thứ hai trên cơ sở một L/C thứ nhất.

L/C giáp lưng cũng được dùng trong mua bán qua trung gian như L/C chuyển

nhượng. Tuy nhiên, sự khác nhau giữa L/C chuyển nhượng và giáp lưng là

NH phát hành L/C giáp lưng hoàn tồn chịu trách nhiệm thanh tóan bộ chứng

từ hợp lệ theo L/C mà mình mở khơng ràng buộc bởi L/C gốc. Nghĩa vụ của

hai ngân hàng phát hành L/C gốc và L/C giáp lưng là hoàn toàn độc lập với

nhau. Người hưởng L/C gốc trở thành nguời mở L/C giáp lưng nên họ phải

thực hiện nghiêm ngặt nghĩa vụ của người mở L/C. Trong nghiệp vụ L/C giáp



15



lưng người cung cấp hàng hóa hòan tòan n tâm về thanh tốn vì họ chỉ có

nghĩa vụ thực hiện L/C thứ hai do người trung gian mở

Trường hợp sử dụng và đặc điểm: L/C giáp lưng được sử dụng chủ yếu qua

mua bán trung gian khi:

- L/C gốc không cho phép chuyển nhượng. Do đó, nhà trung gian đem

L/C này làm đảm bảo để mở giáp lưng cho người cung cấp hàng cho mình

hưởng.

Hoặc khi:

- Nhà cung cấp khơng đồng ý L/C chuyển nhượng vì nó khơng đảm bảo

khả năng được thanh tốn.

- Khi các chứng từ được u cầu xuất trình theo L/C gốc không thể khớp

với các chứng từ phải xuất trình theo L/C giáp lưng.

- Người trung gian muốn giấu một số thông tin trong L/C gốc. Giữa L/C

gốc và L/C giáp lưng khơng có mối liên hệ pháp lý nào. Người mở L/C gốc

khơng liên quan gì đến L/C giáp lưng, còn người thụ hưởng L/C giáp lưng

cũng khơng liên quan gì đến L/C gốc.

 L/C đối ứng - Reciprocal L/C

Là lọai L/C chỉ có hiệu lực khi có một L/C khác đối ứng với nó đã được phát

hành. L/C đối ứng được phát hành hoặc chỉ có hiệu lực khi có một L/C khác

đối ứng với nó đã được phát hành. Khác với những L/C thông thường được

thanh tốn/chấp nhận thanh tốn khi chứng từ xuất trình phù hợp, L/C đối ứng

là L/C thanh tốn có điều kiện, theo đó NHPH L/C đối ứng cam kết thanh

tốn chỉ sau khi nhận được đầy đủ tiền hàng theo L/C khác đối với L/C do

NHPH đó phát hành.

Trường hợp sử dụng:

L/C này được sử dụng trong giao dịch hàng đổi hàng và gia công hàng

xuất khẩu. Cả hai bên đều là người mua, người bán của nhau. Đặc điểm nổi



16



bật của L/C này là điều khoản thanh toán. Điều kiện thanh tốn điển hình của

L/C đối ứng thường được NHPH quy định tương tự như sau: “Đây là L/C đối

ứng với L/C số … ngày …. được phát hành bởi Ngân hàng….. Khi nhận được

chứng từ phù hợp, chúng tôi (NHPH) sẽ chấp nhận hối phiếu/chứng từ và sẽ

thực hiện thanh toán hối phiếu/chứng từ đáo hạn chỉ sau khi nhận được đầy

đủ tiền hàng theo L/C số ……….. ngày …… do Ngân hàng ……. phát hành”.

Đơn giản hơn có thể trong 2 L/C này đều ghi chỉ được thanh tốn khi 1 L/C

khác đối ứng với nó được mở ra. L/C đối ứng xét về bản chất chỉ là một nửa

L/C do sự cam kết có điều kiện của ngân hàng. Ở các nước khác, đã từ lâu

không còn sử dụng L/C này. Ở Việt Nam loại L/C này được phát hành phổ

biến ở những năm 90 khi các công ty dệt may Việt Nam gia công hàng may

mặc cho các công ty ở Hàn Quốc. Hiện nay loại L/C hầu như khơng còn được

sử dụng rộng rãi.

 Thư tín dụng dự phòng (Standby letter of Credit SBLC):

L/C dự phòng là một tín dụng chứng từ hay là dàn xếp tương tự, thể hiện

nghĩa vụ của ngân hàng phát hành tới người thụ hưởng trong việc:

- Thanh toán lại khoản tiền mà người yêu cầu mở L/C dự phòng đã vay

hoặc được ứng trước.

- Thanh tốn khoản nợ của người mở L/C dự phòng.

- Bồi thường những thiệt hại do người mở L/C dự phòng khơng thực

hiện nghĩa vụ của mình.

Do đó, L/C dự phòng được xem như là phương tiện thanh toán thứ yếu.

Sự khác nhau về L/C thương mại và L/C dự phòng là L/C thương mại hoạt

động trên cơ sở thực hiện hợp đồng của người bán. Ngược lại, L/C dự phòng

đảm bảo cho người thụ hưởng trong trường hợp nghĩa vụ không được thực

hiện. Trong L/C dự phòng, ngân hàng mở ghi rõ L/C này chỉ có giá trị thực

hiện khi có sự vi phạm nghĩa vụ của người xin mở L/C, ngược lại nếu khơng



17



có sự vi phạm này, L/C dự phòng sẽ không được thực hiện. L/C dự pḥng

được sử dụng như một hình thức bảo lãnh trong một phạm vi rất rộng bao

gồm các họat động thưong mại, tài chính.

 LC có điều khoản đỏ - Red clause L/C (anticipatory):

L/C có điều khoản đỏ là loại L/C có điều kiện cho phép người hưởng

được nhận một khỏan tiền trước khi giao hàng trên cơ sở hối phiếu trơn hay

hối phiếu kèm chứng từ chứng minh rằng đã có hàng để giao như biên lai kho

hàng (warrant hay warehouse’s receipt) biên lai của người giao nhận

(forwarder’s receipt) thông thường khi nhận khỏan tiền ứng trước này, người

hưởng lợi có thể viết cam kết cho ngân hàng là sẽ xuất trình một bộ chứng từ

theo quy định của L/C sau đó. Khoản ứng trước sẽ được khấu trừ vào tiền

thanh toán bộ chứng từ.

1.2.4. Các bên tham gia trong phương thức thanh toán tín dụng

-



Người xin mở thư tín dụng (the applicant, the importer, the buyer,



accountee): là người mua, nhà nhập khẩu, người trả tiền. Theo điều 2 UCP 600

người yêu cầu mở L/C là bên mà theo yêu cầu của bên này, một tín dụng thư được

phát hành.

- Người thụ hưởng L/C (the beneficiary, the seller, the exporter): là

người bán, nhà xuất khẩu hay một người bất kỳ do người hưởng lợi chỉ định,

cũng chính là người ký phát hối phiếu (Drawer). Theo điều 2 – UCP600

người thụ hưởng là bên mà vì quyền lợi của bên đó, một tín dụng được phát

hành.

- Ngân hàng mở thư tín dụng (the opening bank, the issuing bank) là

ngân hàng phục vụ cho nhà nhập khẩu, sẵn sàng cung cấp tín dụng cho nhà

nhập khẩu. Theo điều 2 – UCP 600 ngân hàng phát hành là ngân hàng theo

yêu cầu của người cin mở L/C hoặc nhân danh chính mình, phát hành một tín

dụng.



18



- Ngân hàng thơng báo thư tín dụng (the advising bank): là ngân hàng có

nhiệm vụ thơng báo thư tín dụng cho nhà xuất khẩu thường là ngân hàng đại

lý của ngân hàng mở thư tín dụng ở nước người hưởng lợi. Theo điều 2 –

UCP 600 Ngân hàng thông báo là ngân hàng tiến hành thơng báo tín dụng

theo u cầu của ngân hàng phát hành.

Ngồi ra còn có thể có các bên khác tham gia trong phương thức thanh toán này

như:

- Ngân hàng xác nhận (the confirming bank): là một ngân hàng khác

đứng ra cam kết thanh toán L/C, được áp dụng trong trường hợp người hưởng

lợi nghi ngờ khả năng tài chính của ngân hàng mở thư tín dụng. Ngân hàng

xác nhận có thể là ngân hàng thơng báo L/C hay một ngân hàng bất kỳ do

người hưởng lợi yêu cầu, thường là những ngân hàng lớn có uy tín trên thị

trường quốc tế. Theo điều 2 – UCP 600 ngân hàng xác nhận là ngân hàng theo

yêu cầu hoặc theo yêu cầu của ngân hàng phát hành, thực hiện xác nhận của

mình đối với một tín dụng.

- Ngân hàng được chỉ định (Nominated bank): là ngân hàng mà tại đó tín

dụng có giá trị thanh tốn/ thương lượng hoặc là bất cứ ngân hàng nào nếu tín

dụng có giá trị tự do.

- Ngân hàng chuyển nhượng (Transfering bank): là ngân hàng thực hiện

việc chuyển nhượng thư tín dụng.

- Ngân hàng hoàn trả (Reimbursing bank): là ngân hàng thực hiện việc

hoàn trả tiền được ngân hàng phát hành ủy quyền và được quy định trong thư

tín dung.

- Ngân hàng chuyển chứng từ (Remitting bank): là ngân hàng có nhiệm

vụ chuyển bộ chứng từ đến ngân hàng mở thư tín dụng để đòi tiền.

- Ngân hàng thương lượng – chiết khấu (Negotiating bank): là ngân hàng

thực hiện thương lượng – chiết khấu bộ chứng từ khi nó đứng ra mua hối



19



phiếu và/hoặc bộ chứng từ phù hợp theo L/C bằng cách trả trước hay đồng ý

trả trước cho người thụ hưởng vào/hoặc trước ngày nó được hồn tiền.

1.2.5. Quy trình nghiệp vụ phương thức thanh tốn tín dụng chứng từ

Sơ đờ 1.1: Quy trình nghiệp vụ phương thức thanh tốn tín dụng chứng từ



Bước 1: Ký kết hợp đồng giữa người nhập khẩu và người xuất khẩu trong đó

thỏa thuận thanh tốn bằng phương thức tín dụng chứng từ.

Bước 2: Căn cứ vào hợp đồng mua bán đã ký kết, người nhập khẩu làm thủ

tục xin mở thư tín dụng gửi đến ngân hàng phục vụ mình (ngân hàng phát

hành) yêu cầu mở thư tín dụng cho người xuất khẩu hưởng.

Bước 3: Căn cứ vào yêu cầu mở thư tín dụng của người nhập khẩu, ngân hàng

phát hành mở một thư tín dụng và gửi đến ngân hàng thơng báo.

Bước 4: Khi nhận được L/C do ngân hàng phát hành chuyển đến, ngân hàng

thông báo sẽ thông báo cho người xuất khẩu tồn bộ nội dung của thư tín

dụng.

Bước 5: Sau khi kiểm tra nội dung thư tín dụng, nếu đồng ý thì người xuất

khẩu thực hiện việc giao hàng.



20



Bước 6: Người xuất khẩu lập bộ chứng từ theo yêu cầu của thư tín dụng và

xuất trình cho ngân hàng.

Bước 7: Ngân hàng nhận chứng từ của người xuất khẩu và kiểm tra. Nếu bộ

chứng từ hợp lệ thì sẽ gửi cho ngân hàng phát hành để đòi tiền. Nếu bộ chứng

từ có bất hợp lệ, ngân hàng sẽ thơng báo và yêu cầu người xuất khẩu điều

chỉnh chứng từ cho phù hợp với các điều khoản của tín dụng.

Bước 8: Ngân hàng phát hành nhận chứng từ và kiểm tra chứng từ. Nếu bộ

chứng từ hợp lệ sẽ thông báo cho người nhập khẩu nộp tiền để lấy chứng từ đi

nhận hàng. Nếu bộ chứng từ có bất hợp lệ sẽ thơng báo có người nhập khẩu

để người nhập khẩu có ý kiến chấp nhận hay từ chối thanh toán.

Bước 9: Ngân hàng phát hành thanh toán tiền hàng cho ngân hàng của người

xuất khẩu và ngân hàng này ghi có tài khoản của người xuất khẩu tại ngân

hàng mình.

1.3. CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ VIỆC MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG

THANH TỐN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI

Xuất phát từ những vai trò quan trọng của hoạt động TTQT nói chung và

hoạt động thanh tốn tín dụng chứng từ nói riêng đối với sự tồn tại và phát

triển của NHTM, bất kỳ một NHTM nào dù mới bắt đầu tham gia thị trường

hay đã hoạt động trong lĩnh vực TTQT đều có xu hướng đẩy mạnh phát triển

mảng dịch vụ này để duy trì và mở rộng hoạt động của ngân hàng mình.

1.3.1. Chỉ tiêu phản ánh về thị phần thanh tốn tín dụng chứng từ.

Chỉ tiêu này phản ánh về phần thị trường TTQT theo phương thức tín

dụng chứng từ mà ngân hàng đang chiếm lĩnh và giúp ngân hàng xác định

được vị thế của mình trong thị trường cũng như đánh giá được mức độ mở

rộng thị trường.



21



1.3.2. Chỉ tiêu về kết quả hoạt động thanh tốn tín dụng chứng từ

- Tỷ trọng doanh số của từng phương thức

Chỉ tiêu này sẽ giúp ta nhận biết phương thức tín dụng chứng từ chiếm

tỷ trọng như thế nào trong tồn bộ các phương thức thanh tốn tại ngân hàng.

Từ đó, ngân hàng có thể có những hướng đầu tư cụ thể cho việc phát triển

phương thức thanh toán này.

- Tỷ trọng thu nhập từ hoạt động thanh tốn tín dụng chứng từ so với tổng

thu nhập dịch vụ

Chỉ tiêu này sẽ cho ta biết trong tổng thu nhập dịch vụ của ngân hàng

thì thu nhập từ hoạt động thanh tốn tín dụng chứng từ chiếm bao nhiêu phần

trăm.

- Tỷ lệ tăng trưởng doanh số và thu nhập hàng năm

Tăng trưởng doanh số, thu nhập từ dịch vụ thanh tốn tín dụng chứng

từ ln là mục tiêu hàng đầu trong định hướng phát triển dịch vụ TTQT của

các NHTM. Doanh số, thu nhập thanh toán cao chứng tỏ số món L/C nhiều và

giá trị món L/C cao, điều đó chứng tỏ ngân hàng đã thu hút được thêm nhiều

khách hàng và đã được khách hàng tin tưởng.

1.3.3. Chất lượng dịch vụ của hoạt đợng tín dụng chứng từ

Nếu các NHTM chỉ quan tâm đến việc đưa ra các chính sách để thu hút

lơi kéo khách hàng nhằm tăng doanh số mà không chú trọng đến việc nâng

cao chất lượng dịch vụ, hạn chế rủi ro trong thanh toán thì các chính sách này

cũng trở nên khơng có hiệu quả. Vì vậy, chất lượng của hoạt động tín dụng là

tiêu chí khá quan trọng để đánh giá việc mở rộng hoạt động thanh tốn tín

dụng chứng từ của NHTM.

Dịch vụ ngân hàng do ngân hàng cung ứng là để đáp ứng nhu cầu của

khách hàng. Nếu như chất lượng của dịch vụ ngày càng hồn hảo, có chất

lượng cao thì khách hàng sẽ gắn bó lâu dài và chấp nhận ngân hàng. Không



22



những vậy, những lời khen, sự chấp nhận, thoả mãn về chất lượng của khách

hàng hiện hữu họ sẽ thơng tin tới những người khác có nhu cầu dịch vụ tìm

đến ngân hàng để giao dịch.

1.3.4. Rủi ro đối với ngân hàng trong hoạt đợng thanh tốn quốc tế theo

phương thức tín dụng chứng từ

Tuy hoạt động thanh tốn tín dụng chứng từ mang đến cho ngân hàng

thương mại nhiều lợi ích, nhưng có thể nói lợi ích đó đồng hành với rủi ro.

Rủi ro trong thanh toán quốc tế được định nghĩa là những hiện tượng khách

quan có liên quan và làm ảnh hưởng đến quá trình thực hiện hoạt động thanh

tốn quốc tế. Nó do các nguyên nhân phát sinh từ quan hệ giữa các bên tham

gia quan hệ thanh toán quốc tế (nhà nhập khẩu, nhà xuất khẩu, ngân hàng, các

tổ chức, cá nhân và các bên trung gian khác...) hoặc do các nhân tố khách

quan khác gây nên.

Nếu mở rộng hoạt động nhưng lại khơng chú trọng đến việc kiểm sốt

rủi ro thì các khoản lợi nhuận đem lại cũng không thể bù cho các tổn thất gây

ra từ hoạt động này.

Trong phương thức thanh tốn bằng tín dụng chứng từ, tùy vào vai trò

của các ngân hàng với tư cách là chủ thể tham gia trong quy trình thanh tốn

mà rủi ro có thể xảy ra ở những giai đoạn khác nhau với nhiều hình thái khác

nhau.

Rủi ro tác nghiệp (rủi ro kỹ thuật)

Rủi ro tác nghiệp là rủi ro xảy ra trong q trình thực hiện nghiệp vụ.

Trong nghiệp vụ tín dụng chứng từ, rủi ro tác nghiệp xảy ra phần lớn là do

trình độ của cán bộ nhân viên, sự sơ suất, thiếu cẩn thận dẫn đến việc hành

động không theo đúng các quy định, tập quán quốc tế gây ra những rủi ro tác

nghiệp nghiêm trọng. Hậu quả của rủi ro tác nghiệp là rất lớn, ảnh hưởng đến

uy tín và tài sản của ngân hàng.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Theo điều 4 của UCP 600 nêu rõ; “Thư tín dụng về bản chất nó là một giao dịch riêng biệt với hợp đồng mua bán hoặc hợp đồng khác, mà chính hợp đồng đó là cơ sở cho ra đời thư tín dụng”

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×