Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ KHOẢN PHẢI THU

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ KHOẢN PHẢI THU

Tải bản đầy đủ - 0trang

6



khoản phải thu và sự kiểm soát của giám đốc tài chính. Nhờ bán chịu doanh

nghiệp có thể tăng khả năng cạnh tranh, thu hút thêm được khách hàng, mở

rộng thị trường, tăng được khối lượng hàng bán ra, từ đó sẽ tăng được doanh

thu bán hàng và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Do vậy hình thức này có

thể thu hút thêm các đơn hàng từ khách hàng đến với cơng ty và doanh nghiệp

cần có chính sách tín dụng phù hợp1.

1.1.3. Vai trò của khoản phải thu

1.2.3.1. Đối với Công ty

Các doanh nghiệp muốn đứng vững và cạnh tranh tốt trên thị trường thì

phải cố gắng tận dụng triệt để mọi khả năng, nguồn lực cũng như các cơng cụ

mà doanh nghiệp hiện có của mình. Trong đó chính sách tín dụng là một trong

những vũ khí sắt bén nhằm giúp cho công ty đạt được mục tiêu về doanh số.

Vì khi cơng ty nới lỏng các biến số của bán tín dụng thì ngồi việc tăng số

lượng hàng bán ra còn tiết kiệm được chi phí thu hồi nợ khó đòi và rủi ro mất

mát. Tín dụng thương mại có thể làm cho cơng ty ngày càng có uy tín, tạo

danh tiếng trên thị trường và làm cho khách hàng mua và sử dụng sản phẩm

của mình thường xuyên hơn. Mặt khác, khi nới lỏng chính sách tín dụng sẽ

giúp cho Cơng ty giảm được lượng hàng tồn kho, đồng thời giảm các chi phí

liên quan đến tồn kho. Về căn bản tín dụng thương mại đó là sự tin tưởng của

người cấp tín dụng và người hưởng tín dụng nên nó sẽ làm cho khách hàng

hưởng được một khoản tín dụng với các thủ tục tương đối đơn giản. Đây là

thủ tục cấp tín dụng chứ khơng phải thủ tục vay nợ do đó sẽ kích thích nhu

cầu mua hàng và mở rộng quy mơ kinh doanh. Ngồi ra nó còn giúp cho

khách hàng gắn bó với Cơng ty hơn và duy trì được mối quan hệ thường

xuyên với khách hàng truyền thống và tìm kiếm thêm những khách hàng mới.

TS. Đoàn Gia Dũng - Bài giảng Quản trị tài chính năm 2010 – Đại học Đà

Nẵng

1



7



Bên cạnh đó khi nới lỏng chính sách tín dụng có thể làm cho khoản

phải thu tăng lên, từ đó làm tăng vốn đầu tư nên dễ dẫn đến việc mất đi cơ hội

kiếm lời từ các hoạt động khác. Mặt khác khi mở rộng các điều kiện tín dụng

sẽ làm tăng khả năng mất mát, rủi ro khơng đòi được nợ. Đồng thời phải tốn

chi phí quản lý nợ của khách hàng cũng như các chi phí khác liên quan.

1.2.3.2. Đối với khách hàng

Khách hàng là người được hưởng tín dụng cũng là người mua hàng sẽ

được một phần lợi nhuận trích ra của cơng ty đó là các khoản chiết khấu hay

thời hạn trả được kéo dài thêm hoặc khi khách hàng thiều vốn kinh doanh hay

muốn đầu tư vốn vào cơ hội khác thì tín dụng thương mại là biện pháp tài trợ

vốn hữu hiệu. Tuy nhiên cần phải hiểu rằng khi nhận chính sách tín dụng từ

người bán khách hàng cũng sẽ phải trả một phần chi phí trong việc giá hàng

mua sẽ cao hơn so với khi khách hàng mua trả ngay.

1.2. NỘI DUNG QUẢN TRỊ KHOẢN PHẢI THU KHÁCH HÀNG

Khoản phải thu có mối quan hệ với doanh thu bán hàng và lợi nhuận của

doanh nghiệp. Trong môi trường kinh doanh ngày càng gay gắt hiện nay, nếu

khơng bán chịu hàng hóa thì doanh nghiệp sẽ mất đi cơ hội bán hàng và gia

tăng lợi nhuận; nếu bán chịu hàng hóa q nhiều thì chi phí cho khoản phải

thu tăng có nguy cơ phát sinh các khoản nợ khó đòi, do đó rủi ro không thu

hồi được nợ cũng gia tăng. Quản trị khoản phải thu nhằm quản lý các khoản

phải thu đúng hạn, tránh được nguy cơ phát sinh nợ khó đòi làm ảnh hưởng

đến công ty. Quản trị khoản phải thu gắn liền với việc xây dựng và thực thi

chính sách bán tín dụng nhằm đạt được mục tiêu cơng ty trong từng thời kỳ.

Vì vậy mà quản trị khoản phải thu bao gồm: thiết lập chính sách tín dụng, lập

kế hoạch ( Hoạch định chính sách tín dụng ), tổ chức thực hiện, tổ chức quản

lý, giám sát và kiểm soát toàn diện khoản bán chịu.



8



Kết hợp khái niệm khoản phải thu và mối quan hệ của khoản phải thu với

chính sách bán tín dụng, quản trị khoản phải thu bao gồm những bước sau:

1.2.1. Hoạch định quản trị khoản phải thu khách hàng

Hoạch định quản trị khoản phải thu là tiến trình các nhà quản trị xác định

và lựa chọn mục tiêu của công tác quản trị khoản phải thu và vạch ra những

hành động cần thiết nhằm đạt được mục tiêu. Như vậy việc hoạch định quản

trị khoản phải thu thực chất là việc hoạch định chính sách bán tín dụng.

"Chính sách tín dụng là yếu tố quyết định trong quản trị khoản phải thu

của công ty. Quy định về điều kiện khách hàng đủ tiêu chuẩn được nợ, hạn

mức nợ sau khi đã kiểm tra các thang bậc đánh giá cho từng tiêu chí cụ thể về

khả năng thanh toán, doanh thu dự kiến, lịch sử thanh toán, cơ sở vật chất...

của từng khách hàng"2. Chính sách tín dụng bao gồm bốn biến số: tiêu chuẩn

tín dụng, thời hạn tín dụng, chiết khấu nhờ trả sớm, chính sách thu hồi nợ.

Sơ đồ sau có thể giúp chúng ta hình dung tiến trình hoạch định chính

sách bán tín dụng của cơng ty.



Sơ đồ 1.1. Tiến trình hoạch định chính sách bán tín dụng 3

Đăng tải tại wedsite http://www.Saga.vn

TS. Đồn Gia Dũng - Bài giảng Quản trị tài chính năm 2010 – Đại học Đà

Nẵng

2

3



9



Mục tiêu Cty

Môi trường

- Khách hàng

- Đối thủ cạnh tranh

- Mơi trường tài

chính



Mục tiêu tài chính

- Khả năng tài chính



Mục tiêu quản trị

khoản phải thu



Cty

- Đặc điểm sản phẩm



Các phương án

bán tín dụng

Quyết

định



Quyết định



Qua sơ đồ cho thấy để hình thành chính sách bán tín dụng cơng ty cần

xuất phát từ mục tiêu tài chính cụ thể hoá việc gia tăng giá trị tài sản trong

từng thời kỳ. Kế đến xây dựng mục tiêu bán tín dụng, trong từng thời kỳ bán

tín dụng có thể quan tâm đến các mục tiêu sau: Tăng doanh số, giảm các chi

phí tồn kho, hoặc tăng tốc độc chuyển hố thành tiền của các khoản đầu tư

vào khoản phải thu ...

Các phân tích về mơi trường là những cơ sở hết sức cần thiết khi đề ra

các chính sách bán tín dụng. Những hiểu biết nhu cầu khách hàng như mục

tiêu và chu kỳ kinh doanh; uy tín trong thanh tốn, số năm có quan hệ với

cơng ty; khả năng tài chính; cơ cấu hàng hố... Bên cạnh đó, việc nắm rỏ khả

năng tài chính và đặc điểm sản phẩm của công ty là điều mà các nhà quản trị

phải quan tâm để đưa ra chính sách bán tín dụng phù hợp.

1.2.1.1. Xây dựng tiêu chuẩn tín dụng

Tiêu chuẩn bán chịu là tiêu chuẩn tối thiểu về mặt uy tín tín dụng của

khách hàng để được doanh nghiệp chấp nhận bán chịu hàng hóa và dịch vụ.

Tiêu chuẩn bán chịu là một bộ phận cấu thành chính sách bán chịu của doanh



10



nghiệp và mỗi doanh nghiệp đều thiết lập tiêu chuẩn bán chịu của mình chính

thức hoặc khơng chính thức.

"Các tiêu chuẩn này nhằm bảo đảm khả năng công ty thu được nợ từ phía

khách hàng. Chỉ có những khách hàng thoả mãn những tiêu chuẫn này công ty

mới mở tín dụng cho họ. Những tiêu chuẩn tín dụng của khách hàng được cân

nhắc trên các khía cạnh như: uy tín thanh tốn, khả năng tài chính, khả năng

thế chấp của khách hàng. Các tiêu chuẫn này nhằm bảo đảm khả năng hồn

trả nợ của khách hàng. Khi cơng ty nới lõng các tiêu chuẫn này có thể đưa đến

việc mở rộng bán hàng trả chậm cho nhiều nhóm khách hàng mới và do đó

gia tăng doanh số. Phần sản lượng tăng thêm khơng làm tăng thêm chi phí cố

định. Vì thế có thể mang lại khả năng gia tăng lợi nhuận nhờ tiết kiệm định

phí. Tuy vậy, việc nới lõng quá mức tiêu chuẫn khách hàng có thể gia tăng

nguy cơ mở tín dụng cho cả những khách hàng kém chất lượng, vì thế gia

tăng mất mát, tăng chi phí đòi nợ"4.

Tiêu chuẩn bán chịu nói riêng và chính sách bán chịu nói chung có ảnh

hưởng đáng kể đến doanh thu của doanh nghiệp. Nếu đối thủ cạnh tranh mở

rộng chính sách bán chịu, trong khi chúng ta khơng phản ứng lại điều này, thì

nỗ lực tiếp thị sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng, bởi vì bán chịu là yếu tố ảnh

hưởng rất lớn và có tác dụng kích thích nhu cầu.

Về mặt lý thuyết, doanh nghiệp nên hạ thấp tiêu chuẩn bán chịu đến mức

có thể chấp nhận được, sao cho lợi nhuận tạo ra do gia tăng doanh thu, như là

kết quả của chính sách bán chịu, vượt quá mức chi phí phát sinh do bán chịu.

Ở đây có sự đánh đổi giữa lợi nhuận tăng thêm và chi phí liên quan đến khoản

phải thu tăng thêm, do hạ thấp tiêu chuẩn bán chịu. Vì vậy mà vấn đề đặt ra là



TS. Đoàn Gia Dũng - Bài giảng Quản trị tài chính năm 2010 – Đại học Đà

Nẵng

4



11



doanh nghiệp nên quyết định khi nào nới lỏng tiêu chuẩn bán chịu và khi nào

không nên nới lỏng tiêu chuẩn bán chịu.

1.2.1.2. Thiết lập điều khoản tín dụng

"Điều khoản tín dụng là điều khoản xác định độ dài thời gian hay thời

hạn bán chịu và tỷ lệ chiết khấu áp dụng nếu khách hàng trả sớm hơn thời

gian bán chịu cho phép. Ví dụ điều khoản bán chịu “2/10 net 30” có nghĩa là

khách hàng được hưởng 2% chiết khấu nếu thanh toán trong thời hạn 10 ngày

kể từ ngày hóa đơn được phát hành và nếu khách hàng khơng lấy chiết khấu

thì khách hàng được trả chậm trong thời gian 30 ngày kể từ ngày phát hành

hóa đơn.

Chính sách tín dụng khơng chỉ liên quan đến tiêu chuẩn bán chịu như

vừa xem xét mà còn liên quan đến điều khoản bán chịu. Thay đổi điều khoản

bán chịu lại liên quan đến thay đổi thời hạn bán chịu ( thời hạn tín dụng ) và

thay đổi tỷ lệ chiết khấu."5

- Xác định thời hạn tín dụng:

Thời hạn tín dụng xác định độ dài thời hạn tín dụng và thời hạn trong đó

sẽ chấp nhận một tỷ lệ giảm giá. Và trong q trình sản xuất kinh doanh, các

cơng ty có thể thay đổi thời hạn tín dụng cho phù hợp và mang lại hiệu quả

cao trong quản trị khoản phải thu. Việc thay đổi tín dụng theo hai cách đó là

tăng thời hạn tin dụng hoặc giảm thời hạn tín dụng

"Thời hạn tín dụng thường được tính bằng số ngày mà khách hàng cam

kết chậm trả. Khi tăng thời hạn bán tín dung sẽ gia tăng doanh số, giảm một

cách tương đối tài sản dự trử và tăng khoản phải thu. Việc gia tăng doanh số

nhờ nới lõng thời hạn bán tín dung sẽ dẫn đến tiết kiệm tương đối các khoản



TS. Nguyễn Minh Kiều, Tài chính doanh nghiệp, NXB Thống kê, 2008,

Tr183

5



12



chi phí cố định. Tuy vậy, quá trình này thường làm gia tăng các chi phí vốn và

tăng các chi phí quản lý và thu hồi nợ ở khách hàng."6

Khi thiết lập thời hạn tín dụng các doanh nghiệp đều phải xem xét các

yếu tố sau:

- Xác suất về tình trạng khách hàng sẽ khơng trả tiền: Trong trường hợp

khách hàng là những doanh nghiệp thuộc những ngành có rủi ro cao, hay là

những doanh nghiệp có vị thế tài chính yếu thì cần áp dụng những điều kiện

tín dụng hạn chế nhằm loại bỏ rủi ro.

- Độ lớn của khoản tín dụng: Đối với những khoản tín dụng có giá trị

nhỏ, thì thời gian bán chịu sẽ nhỏ hơn và đây là những giao dịch tốn kém với

những khách hàng kém quan trọng.

- Tính chất đặc trưng của hàng hố: Nếu hàng hố có giá trị thấp và thuộc

loại mau hỏng thì khơng nên áp dụng tín dụng thương mại. Độ dài của thời

gian cấp tín dụng có tác dụng đến giá cả, thời gian càng dài thì giá cả càng

cao và ngược lại. Việc mở rộng thời hạn tín dụng cho khách hàng còn dựa vào

việc xác định thời hạn tín dụng tối thiểu và thời hạn tín dụng tối đa.

- Thời hạn tín dụng tối thiểu: được xác định dựa trên những cơ sở:

+ Thời hạn tín dụng của đối thủ cạnh tranh.

+ Kỳ thu tiền bình qn hiện tại của Cơng ty .

+ Chu kì kinh doanh của nhóm khách hàng tốt nhất.

- Thời hạn tín dụng tối đa: được xác định dựa trên cơ sở:

+ Đặc điểm kinh doanh sản phẩm, tiêu dùng sản phẩm.

+ Khả năng tài chính của khách hàng.

+ Chức năng của khách hàng.

- Xác định tỷ lệ chiết khấu thanh tốn sớm ( k/d ):

TS. Đồn Gia Dũng - Bài giảng Quản trị tài chính năm 2010 – Đại học Đà

Nẵng

6



13



"Là tỷ lệ giảm giá k% nếu khách hàng chấp nhận thanh toán trong d ngày

đầu tiên (viết tắt là k/d). Việc gia tăng tỷ lệ giảm giá k% cho những khách

hàng trả tiền trong vòng d ngày đầu tiên có thể kích thích khách hàng trả tiền

sớm. Mở ra khả năng đầu tư mới dành cho phần vốn thu hồi sớm."7

Việc đưa ra mức chiết khấu giảm giá đã mang lại cho khách hàng hai cơ

hội lựa chọn.

+ Thứ nhất là thanh tốn sớm trong vòng d ngày đầu tiên để được hưởng

chiết khấu. Điều này đồng nghĩa với việc khách hàng phải sử dụng nguồn vốn

sẵn có của mình để thanh tốn cho cơng ty. Như vậy, họ cần cân nhắc chi phí

cơ hội vốn của mình với lợi ích thu được từ giảm giá.

+ Thứ hai trả chậm hơn, tức là thời hạn họ có thể kéo dài hơn là N-d

ngày. Như vậy khách hàng mất đi cơ hội hưởng chiết khấu.

Và cũng như trong q trình xác định thời hạn tín dụng, chúng ta nên

thay đổi thời hạn cho phù hợp thì việc đưa ra tỷ lệ chiết khấu của công ty

cũng được điều chỉnh sao cho tỷ lệ này vừa mang lại lợi ích cho công ty vừa

mang lại lợi ích cho khách hàng. Thay đổi tỷ lệ chiết khấu ảnh hưởng đến tốc

độ thu tiền đối với các khoản phải thu. Nhưng tỷ lệ chiết khấu sẽ làm giảm

doanh thu ròng, do đó giảm lợi nhuận. Liệu giảm chi phí đầu tư khoản phải

thu có đủ bù đắp thiệt hại do giảm lợi nhuận hay khơng.

Cần lưu ý rằng chính sách tăng tỷ lệ chiết khấu hay bất kỳ chính sách bán

chịu nào cũng cần được xem xét thường xuyên xem có phù hợp với tình hình

thực tiễn hay khơng. Sau khi thực hiện chính sách gia tăng tỷ lệ chiết khấu, do

tình hình thay đổi, nếu tiết kiệm chi phí khơng đủ bù đắp cho lợi nhuận giảm,

khi ấy công ty cần thay đổi chính sách chiết khấu. Việc cơng ty muốn xem xét



TS. Đoàn Gia Dũng - Bài giảng Quản trị tài chính năm 2010 – Đại học Đà

Nẵng

7



14



có nên quyết định giảm tỷ lệ chiết khấu lại hay không thì phải tiến hành phân

tích cụ thể.

1.2.1.3. Xây dựng chính sách thu nợ

Là những quy định của công ty trong việc thu hồi các hợ đồng trả chậm,

các quy định này có thể chặt chẽ hoặc lỏng lẻo, các biện pháp xử lý đồi với

những khoản nợ quá hạn. Khi khách hàng chậm thanh tốn, thủ tục thơng

thường là gửi một bản sao kê tài khoản và tiếp theo đó sử dụng thu tín dụng

hay điện thoại nhắc nợ càng ngày càng thúc bách hơn. Nếu các biện pháp này

không có hiệu lực thì các doanh nghiệp sẽ nhờ đến các cơng ty hồi nợ và thậm

chí kiện khách hàng ra tòa.

- Phân tích ảnh hưởng rủi to bán chịu:

Trong các tình huống đã phân tích trên đây, chúng ta đều ngầm giả định

rằng khơng có tổn thất do nợ khơng thể thu hồi. Thật ra chính sách bán chịu

khơng chỉ liên quan đến tăng hoặc giảm khoản phải thu mà còn liên quan đến

khả năng thu hồi khoản phải thu và đôi lúc chúng ta phải chấp nhận rủi ro

khơng đòi nợ được. Trong những trường hợp như vậy có thể coi sự mất mát

này như là một chi phí được cộng thêm vào trong q trình tính tốn, thơng

thường mất mát được tính bằng tỷ lệ % so với doanh thu.

1.2.2. Tổ chức thực hiện quản trị khoản phải thu khách hàng

Việc tổ chức thực hiện quản trị khoản phải thu bao gồm những công việc

liên quan đến quản trị khoản phải thu sao cho hiệu quả, bao gồm những cơng

việc sau: Phân tích các u cầu tín dụng, theo dõi quá trình quản trị khoản

phải thu, và đưa ra chính sách thu nợ tối ưu nhất.

1.2.2.1. Phân tích các yêu cầu tín dụng ( đối với khách hàng )

Để thiết lập các thời hạn bán hàng, từ chối hoặc chấp nhận mở tín dụng

đối với mỗi yêu cầu tín dụng của khách hàng tiềm năng, cơng ty phải xem xét



15



khả năng mất mát hoặc chậm thanh toán thơng qua một q trình phân tích tín

dụng. Thủ tục phân tích tín dụng gồm 3 bước :

a) Thu nhập thơng tin 8

Nguồn thơng tin cho cơng việc phân tích hiệu quả gồm:

+ Các báo cáo tài chính

+ Tỷ suất tín dụng và kết quả thanh tốn trong q khứ được cung cấp

bởi các cơ quan tư vấn tài chính.

+ Các dữ liệu từ ngân hàng về tình hình kinh doanh của khách hàng: có

thể có các ngân hàng có các tổ chức dịch vụ kiểm sốt tín dụng. Họ có lợi thế

trong việc tìm kiếm thơng tin từ hệ thống ngân hàng..

+ Các dữ liệu có sẵn của cơng ty: Nhiều cơng ty có thể có một số kinh

nghiệm trong việc đánh giá tín dụng từ những nghiên cứu nhanh về các đặc

tính vắn tắt theo nguyên tắc 5C bao gồm :

 Character: đặc điểm, bản chất thể hiện trong những xử sự của khách

hàng trong quá khứ.

 Capacity: năng lực: liên quan đến khả năng của khách hàng trong việc

đáp ứng các nghĩa vụ tài chính.Ngồi ra, yếu tố này còn liên quan đến sức

mạnh tài chính của khách hàng, đặc biệt là giá trị ròng.

 Collateral: thế chấp (đồ ký quỹ) hay có một sự bảo đảm của một nguồn

tài trợ đủ bảo đảm cho các khoản nợ.

 Capital - vốn : tài sản hoặc khả năng sinh lợi của công ty

 Conditions: các yếu tố ngoại sinh ngồi tầm kiểm sốt của cơng ty và

khách hàng của nó.

TS. Đồn Gia Dũng - Bài giảng Quản trị tài chính năm 2010 – Đại học Đà

Nẵng

TS.Nguyễn Thanh Liêm, ThS. Nguyễn Thị Mỹ Hương, Quản trị tài chính,

NXB Thống kê, năm 2009

8



16



Khi tiến hành phân tích khách hàng cần có sự phân tích các yếu tố mơi

trường như: các chính sách bán tín dụng của các nhãn hiệu cạnh tranh, tình

hình về lãi suất và tốc độ lạm phát của nền kinh tế... Sự tìm hiểu này cho phép

người thiết kế chính sách bán tín dụng có thêm các quan điểm cần thiết để có

thể nới lõng hay thu hẹp trong việc lựa chọn khách hàng.

Ngoài những đánh giá trên, người quản trị khoản phải thu cũng cần có

những tìm hiểu về các điều kiện khác từ phía khách hàng (conditions) như

khả năng chuyển quyền sở hữu, hay sự thay đổi vị trí của người đứng đầu

trong tổ chức.. Các khía cạnh này nhằm khẳng định khả năng thu hồi nợ từ

phía khách hàng.

b) Phân tích tín dụng 9

Sau khi công ty thu nhập được đầy đủ những thông tin cần thiết liên

quan đến một đơn vị xin cấp tín dụng, bước kế tiếp là tiến hành phân tích

nguồn thông tin và các số liệu.

Từ các báo cáo tài chính các nhà phải thu thực hiện phân tích các thông

số cần thiết. Đặc biệt chú ý các thông số :

 Thơng số khả năng thanh tốn nhanh

 Thơng số quay vòng tồn kho và quay vòng khoản phải thu

 Thời hạn trả tiền bình qn

 Thơng số nợ trên tổng tài sản

 Đặc biệt là khả năng trang trải của ngân quỹ

Thêm vào với báo cáo tài chính có thế là :

 Sức mạnh tài chính của người yêu cầu tín dụng

 Đặc điểm của người yêu cầu và khả năng quản trị của họ.

TS. Đoàn Gia Dũng - Bài giảng Quản trị tài chính năm 2010 – Đại học Đà

Nẵng

9



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ KHOẢN PHẢI THU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×