Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Tải bản đầy đủ - 0trang

4



tiên trên thế giới có nguồn gốc từ Anh quốc, sau đó lan rộng sang các quốc

gia khác. Một trong những cơng ty kiểm tốn đầu tiên được thành lập là cơng

ty Price Waterhouse. Sau đó, KSNB được phát triển thành một hệ thống lý

luận tương đối hồn chỉnh thơng qua báo cáo COSO năm 1992. Năm 2004

COSO chính thức ban hành hệ thống quản trị rủi ro doanh nghiệp (ERM –

Enterprise Risk Management Framework). Báo cáo năm 2004 được xây dựng

trên cơ sở phát triển báo cáo năm 1992 và tích hợp với quản trị rủi ro tại các

đơn vị. Báo cáo COSO năm 2004 xác định được những tiêu chuẩn làm cơ sở

để đánh giá rủi ro cũng như đề xuất xây dựng chu trình quản lý rủi ro hiệu quả

trong công tác quản lý.

Ở Việt nam, KSNB đã tồn tại và phát triển nhưng phần lớn còn tồn tại

nhiều yếu kém, chưa phát huy hết vai trò công cụ quản lý của doanh nghiệp.

Nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa xây dựng được một hệ thống KSNB hữu

hiệu phù hợp với đặc điểm của đơn vị mình. Phương pháp quản lý của nhiều

cơng ty còn lỏng lẻo, thiếu những quy chế hoạt động, vi phạm nguyên tắc bất

kiêm nhiệm khi phân công công việc cho nhân viên và thiếu sự kiểm tra chéo

giữa các bộ phận để phòng ngừa gian lận.

Nghiên cứu lý luận về kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp có Bộ mơn

kiểm tốn, Khoa kế toán – Kiểm toán, Trường Đại học Kinh tế TP. HCM

(2010), Kiểm sốt nội bộ, NXB Phương Đơng, TP. HCM. Tác giả đã trình bày

các nội dung cơ bản của hệ thống KSNB theo khn mẫu của COSO, kiểm

sốt nội bộ trong một số chu trình nghiệp vụ hay tài sản chủ yếu. Ngồi ra, tác

giả đã trình bày các loại gian lận và biện pháp phòng ngừa.

Nghiên cứu thực tế về vấn đề KSNB trong các doanh nghiệp trước đây

đã có nhiều nghiên cứu như: Kiểm sốt nội bộ thu chi, kiểm sốt nội bộ chu

trình mua hàng và thanh toán, kiểm soát nội bộ doanh thu, kiểm soát nội bộ

chi phí sản xuất. Bên cạnh đó, kiểm sốt nội bộ chu trình bán hàng và thu tiền



5



trong các doanh nghiệp cũng là một nội dung nghiên cứu hết sức quan trọng.

Bởi vì, kiểm sốt chặt chẽ được chu trình bán hàng và thu tiền sẽ giúp doanh

nghiệp đạt được hiệu quả cao. Nghiên cứu thực tế về vấn đề KSNB đối với

hoạt động bán hàng và thu tiền trong doanh nghiệp có các đề tài sau:

Đề tài của tác giả Bùi Văn Nam (2010), Tăng cường kiểm soát nội bộ

chu trình bán hàng và thu tiền tại cơng ty cổ phần kim khí Miền Trung, luận

văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh, chuyên ngành kế toán, Đại học Đà Nẵng.

Trong đề tài này, tác giả sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và sử

dụng các phương pháp cụ thể như: quan sát, đối chiếu, bình luận và phân tích.

Luận văn đã hệ thống hố lý luận về kiểm soát nội bộ và kiểm soát nội bộ chu

trình bán hàng và thu tiền trong các doanh nghiệp. Trên cơ sở nghiên cứu lý

luận và thực tế công tác kiểm soát tại đơn vị, tác giả đã đưa ra một số giải

pháp nhằm tăng cường công tác kiểm sốt nội bộ đối với chu trình bán hàng

và thu tiền tại cơng ty cổ phần kim khí Miền Trung.

Đề tài của tác giả Nguyễn Thị Phương Thảo (2010), Tăng cường kiểm

sốt nội bộ chu trình bán hàng và thu tiền tại Viễn Thông Quảng Ngãi, luận

văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh, chuyên ngành kế toán, Đại học Đà Nẵng. Tác

giả đã sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu, chứng minh,…

để làm rõ vấn đề cần nghiên cứu. Luận văn đã nêu bậc các đặc điểm khác biệt

trong hoạt động sản xuất kinh doanh viễn thơng ảnh hưởng đến kiểm sốt nội

bộ chu trình bán hàng và thu tiền trong các doanh nghiệp viễn thông. Ngồi

ra, đề tài đi sâu nghiên cứu, phân tích thực tế cơng tác kiểm sốt nội bộ chu

trình bán hàng và thu tiền, chỉ rõ những hạn chế còn tồn tại trong đơn vị cần

phải khắc phục. Từ đó, luận văn đã đưa ra được những giải pháp nhằm tăng

cường kiểm sốt nội bộ chu trình bán hàng và thu tiền tại Viễn thông Quảng

Ngãi.

Đề tài của tác giả Phan Thị Mỹ Liên (2011), Tăng cường kiểm soát nội



6



bộ đối với doanh thu và tiền thu bán hàng tại công ty cổ phần Gạch men

COSEVCO 75 Bình Định, luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh, chuyên ngành

kế toán, Đại học Đà Nẵng. Trong đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp cụ

thể như: quan sát, phỏng vấn trực tiếp, thu thập – xử lý tài liệu, sổ sánh,...

nhằm làm rõ thực trạng cơng tác kiểm sốt doanh thu và tiền thu bán hàng tại

công ty. Luận văn đã chỉ ra được những tồn tại và đưa ra được những giải

pháp nhằm tăng cường KSNB đối với doanh thu và tiền thu bán hàng tại công

ty cổ phần Gạch men COSEVCO 75 Bình Định.

Tất cả những đề tài trên đều chưa nghiên cứu về KSNB đối với hoạt

động bán hàng và thu tiền trong doanh nghiệp kinh doanh dược phẩm. Nghiên

cứu gần đây về vấn đề KSNB đối với hoạt động bán hàng và thu tiền trong

doanh nghiệp kinh doanh dược phẩm có đề tài của tác giả Trần Thị Thanh

Nga (2011), Tăng cường kiểm soát nội bộ doanh thu tại công ty cổ phần

Dược Thiết bị Y tế Đà Nẵng, luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh, chuyên

ngành kế toán, Đại học Đà Nẵng. Tác giả sử dụng phương pháp luận duy vật

biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp phân tích đánh giá,... để làm rõ vấn

đề cần nghiên cứu. Tuy nhiên, đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu về kiểm

soát hoạt động doanh thu trong đơn vị.

Công ty cổ phần PYMEPHARCO sản xuất và mua bán kinh doanh trên

1.000 sản phẩm bao gồm thuốc, trang thiết bị, dụng cụ y tế (trong đó cơng ty

sản xuất gần 400 sản phẩm thuốc). Sản phẩm của công ty rất đa dạng và

khách hàng chủ yếu là những đơn vị có giấy phép kinh doanh về y dược như:

Bệnh viện, công ty Dược, trung tâm y tế, quầy thuốc, đại lý thuốc,... Cơng ty

đã hình thành được hệ thống phân phối phủ rộng khắp lãnh thổ Việt Nam với

hệ thống chi nhánh, hệ thống cửa hàng, hệ thống trung tâm giới thiệu và phân

phối thuốc,... và xuất khẩu sang nước ngồi. Để kiểm sốt được hoạt động bán

hàng và thu tiền, công ty đã ban hành các quy trình KSNB bán hàng và thu



7



tiền tại đơn vị. Tuy nhiên, hệ thống KSNB tại công ty cổ phần

PYMEPHARCO còn nhiều hạn chế nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu. Vì

vậy, luận văn sẽ tập trung nghiên cứu về vấn đề “Tăng cường kiểm sốt nội

bộ chu trình bán hàng và thu tiền tại công ty cổ phần PYMEPHARCO”. Công

ty bán hàng theo phương thức bán buôn, bán lẻ trong nước và xuất khẩu sang

nước ngoài. Việc xuất khẩu hàng được thực hiện tại chi nhánh thành phố Hồ

Chí Minh. Do đó, tác giả chủ yếu đi sâu nghiên cứu kiểm sốt hoạt động bán

bn trong nước tại văn phòng cơng ty và 03 trung tâm giới thiệu, phân phối

thuốc trên địa bàn tỉnh Phú Yên. Trong đề tài, tác giả sử dụng các phương

pháp cụ thể như: Thu thập tài liệu thứ cấp, quan sát, phỏng vấn trực tiếp, đối

chiếu,... để làm rõ vấn đề nghiên cứu.



8



CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ VÀ

KIỂM SỐT NỘI BỘ CHU TRÌNH BÁN HÀNG VÀ

THU TIỀN TRONG DOANH NGHIỆP

1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG

DOANH NGHIỆP

1.1.1. Khái niệm kiểm soát nội bộ

Trong doanh nghiệp KSNB luôn là một khâu quan trọng trong mọi quy

trình quản trị. Các nhà quản lý thường chú tâm đến việc hồn thành và duy trì

các hoạt động kiểm soát để đạt được các mục tiêu của tổ chức. Khái niệm

KSNB từ lâu đã được hình thành và phát triển dần để trở thành một hệ thống

lý luận về vấn đề kiểm sốt trong tổ chức. Q trình nhận thức và nghiên cứu

KSNB đã dẫn đến sự hình thành nhiều định nghĩa khác nhau, dưới đây trình

bày một số quan điểm cơ bản về KSNB.

- Theo Liên đoàn kế toán quốc tế (International Federation of

Accountants - IFAC): KSNB là một hệ thống gồm các chính sách, thủ tục

được thiết lập tại đơn vị nhằm đảm bảo thực hiện các mục tiêu sau:

+ Bảo vệ tài sản của đơn vị

+ Bảo đảm độ tin cậy của các thông tin

+ Bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý

+ Bảo đảm hiệu quả của hoạt động và năng lực quản lý.

- Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VAS 400) : “KSNB là các quy

định và các thủ tục kiểm soát do đơn vị được kiểm toán xây dựng và áp dụng

nhằm bảo đảm cho đơn vị tuân thủ pháp luật và các qui định, để kiểm tra,

kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót; để lập báo cáo tài chính

trung thực và hợp lý; nhằm bảo vệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản của



9



đơn vị”. [2, tr.2]

- Theo quan điểm của Ủy Ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về việc

chống gian lận về báo cáo tài chính (COSO - Committed Of Sponsoring

Organization): “KSNB là một quá trình bị chi phối bởi người quản lý, hội

đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị, nó được thiết lập để cung cấp một

sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu sau đây:

+ Sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động;

+ Sự tin cậy của báo cáo tài chính;

+ Sự tuân thủ pháp luật và các quy định”. [6, tr.2]

Như vậy, qua những khái niệm nêu trên, để hiểu rõ KSNB cần lưu ý

những nội dung cơ bản sau:

+ Kiểm sốt nội bộ là một q trình: Các hoạt động của đơn vị được

thực hiện thông qua quá trình lập kế hoạch, thực hiện và giám sát. Các đơn vị

cần kiểm sốt các hoạt động của mình để đạt mục tiêu đề ra. KSNB là một

chuỗi các hoạt động kiểm soát hiện diện ở mọi bộ phận trong đơn vị và được

kết hợp với nhau thành một thể thống nhất. Q trình kiểm sốt là phương

tiện để giúp đơn vị đạt được các mục tiêu của mình.

+ Kiểm soát nội bộ được thiết kế và vận hành bởi con người: Kiểm sốt

nội bộ khơng chỉ đơn thuần là những chính sách, thủ tục, biểu mẫu,…mà phải

bao gồm cả những con người trong tổ chức như hội đồng quản trị, ban giám

đốc, các nhân viên khác. Chính con người định ra mục tiêu, thiết lập cơ chế

kiểm soát và vận hành kiểm soát nội bộ.

+ Kiểm soát nội bộ cung cấp một sự đảm bảo hợp lý: KSNB có thể

ngăn chặn và phát hiện những sai phạm nhưng không thể đảm bảo tuyệt đối là

các mục tiêu sẽ được thực hiện. Bởi vì, khi KSNB những yếu kém của con

người có thể xảy ra các sai phạm dẫn đến không đạt được các mục tiêu.

Như vậy, KSNB là những phương pháp và chính sách được thiết lập



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×