Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

9

NHNNVN, đề cập khái niệm “RRTD trong hoạt động Ngân hàng của Tổ chức

tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín

dụng do khách hàng khơng thực hiện hoặc khơng có khả năng thực hiện nghĩa

vụ của mình theo cam kết”.

Như vậy, RRTD trong hoạt động của Ngân hàng thương mại (NHTM)

chính là những tổn thất tiềm năng có thể xảy ra do khách hàng khơng thực

hiện hoặc khơng có đủ năng lực thực hiện nghĩa vụ của mình một cách đầy đủ

hoặc đúng hạn theo cam kết. RRTD chính là khả năng xảy ra sự khác biệt

không mong muốn giữa thu nhập thực tế và kỳ vọng khi đúng hạn. RRTD sẽ

dẫn đến tổn thất tài chính tức là giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường

của vốn.

1.1.2. Phân loại rủi ro tín dụng

Có nhiều cách phân loại RRTD, việc phân loại RRTD phụ thuộc vào

mục đích nghiên cứu, phân tích. Đối với hệ thống NHTM thì việc phân tích

RRTD có ý nghĩa vơ cùng quan trọng trong việc thiết lập chính sách, quy

trình, thủ tục và cả mơ hình tổ chức quản trị, điều hành nhằm đảm bảo nhận

biết đầy đủ các yếu tố gây rủi ro và phân định một cách rõ ràng nhất trách

nhiệm của từng bộ phận, từng khâu tác nghiệp trong việc đối phó với rủi ro.

Căn cứ vào nguyên nhân rủi ro, chia làm hai nhóm:

Rủi ro đạo đức là rủi ro do thông tin không cân xứng tạo ra sau khi cuộc

giao dịch diễn ra. Rủi ro do sự lựa chọn đối nghịch là do thông tin không cân

xứng tạo ra trước khi cuộc giao dịch diễn ra.

Căn cứ theo mức độ tổn thất chia làm hai nhóm:

Rủi ro đọng vốn: là rủi ro xảy ra trong trường hợp đến thời hạn mà ngân

hàng vẫn chưa thu hồi được vốn vay, dẫn đến của khoản vốn bị đóng băng,

mất tính lỏng và ảnh hưởng đến kế hoạch sử dụng vốn của ngân hàng và khả

năng thanh toán cho khách hàng khác.



10

Rủi ro mất vốn là rủi ro khi người vay không có khả năng trả được nợ

theo hợp đồng, bao gồm vốn gốc hoặc lãi vay. Khi đó ngân hàng chỉ trông

chờ vào giá trị thanh lý của tài sản đảm bảo. Rủi ro mất vốn làm tăng chi phí

do nợ khó đòi tăng, chi phí quản lý, chi phí giám sát, giảm lợi nhuận do các

khoản dự phòng gia tăng.

Căn cứ theo đối tượng sử dụng có thể chia làm hai nhóm:

Rủi ro khách hàng cá thể: RRTD xảy ra đối với khách hàng là cá nhân.

Rủi ro công ty, tổ chức kinh tế, định chế tài chính: là RRTD xảy ra đối

với khách hàng là công ty, tổ chức kinh tế, định chế tài chính.

Căn cứ vào tính tổng thể của rủi ro, rủi ro tín dụng có thể được chia

thành rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục:

Rủi ro giao dịch là một rủi ro mà nguyên nhân phát sinh là do hạn chế

trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng… Rủi ro

giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo và rủi ro nghiệp vụ.

Rủi ro danh mục là rủi ro phát sinh do những hạn chế trong quá trình

quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân thành rủi ro nội tại và

rủi ro tập trung.

Căn cứ vào giai đoạn phát sinh rủi ro, chia làm ba nhóm:

Rủi ro trước khi cho vay: Rủi ro xảy ra khi ngân hàng phân tích đánh giá

sai về khách hàng dẫn đến cho vay các khách hàng không đủ điều kiện đảm

bảo khả năng trả nợ trong tương lai.

Rủi ro trong khi cho vay: rủi ro này xảy ra trong q trình cấp tín dụng

mà ngun nhân là từ: việc giải ngân không đúng tiến độ, không cập nhật

thông tin khách hàng thường xuyên và không dự báo được rủi ro tiềm năng.

Rủi ro sau khi cho vay: rủi ro này xảy ra do Cán bộ tín dụng (CBTD)

khơng nắm được tình hình sử dụng vốn vay, khả năng tài chính tương lai của

khách hàng.



11

Căn cứ vào phạm vi rủi ro chia làm hai nhóm:

Rủi ro cá biệt: là RRTD xảy ra đối với một khoản vay của một khách

hàng cụ thể, thuộc một nhóm ngành cụ thể. RRTD cá biệt xảy ra do một số

nguyên nhân: Đặc điểm ngành và loại hình kinh tế của khách hàng; Tình hình

tài chính của khách hàng; Khả năng quản trị của khách hàng; Đạo đức của

khách hàng ;…

Rủi ro hệ thống: là RRTD xảy ra không chỉ đối với một ngân hàng mà

mang tính chất hệ thống, lan truyền đến khu vực ngân hàng. Nguyên nhân của

rủi ro hệ thống bao gồm: sự thay đổi chính sách thể hiện ở chính sách tiền tệ,

chính sách thuế, chính sách xuất nhập khẩu,…

1.1.3. Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng

a. Chỉ tiêu gián tiếp

Quy mơ tín dụng

Quy mơ tín dụng không phải là chỉ tiêu phản ánh trực tiếp RRTD nhưng

nếu trong thời gian ngắn, quy mơ tín dụng tăng q nhanh, khơng tương ứng

với khả năng kiểm sốt của ngân hàng thì lúc đó, quy mơ tín dụng sẽ phản

ánh RRTD. Quy mơ tín dụng thể hiện rõ qua các chỉ tiêu:

Dư nợ trên tổng tài sản



=



Dư nợ bình quân trên số

lượng CBTD



=



Số lượng khách hàng

trên số lượng CBTD

Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín

dụng so với tốc độ tăng trưởng

kinh tế trên số lượng CBTD



=



Tổng dư nợ

Tổng tài sản

Tổng dư nợ

Tổng số CBTD

Tổng số khách hàng

Tổng số CBTD



Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng

=



Tốc độ tăng trưởng kinh tế



12

Nếu ngân hàng mở rộng quy mô theo hướng nới lỏng tín dụng cho khách

hàng sẽ dẫn đến khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, khơng kiểm sốt được

mục đích sử dụng vốn vay,… Điều này sẽ gây ra RRTD cho ngân hàng.

Cơ cấu tín dụng

Phản ánh mức độ tập trung tín dụng trong một ngành nghề, lĩnh vực, loại

tiền,… do đó, tuy khơng phản ánh trực tiếp mức độ rủi ro, nhưng nếu cơ cấu

tín dụng thiên lệch vào một hay một vài lĩnh vực mạo hiểm, sẽ phản ánh

RRTD tiềm năng. Cơ cấu tín dụng chia thành các nhóm: Cơ cấu tín dụng theo

ngành, cơ cấu tín dụng theo loại hình doanh nghiệp, cơ cấu tín dụng theo loại

tiền tệ,…

b. Chỉ tiêu trực tiếp

Nợ quá hạn

Là chỉ tiêu cơ bản phán ánh RRTD. Nợ quá hạn vi phạm đặc trưng cơ

bản của tín dụng là tính thời hạn, sau đó có thể dẫn đến vi phạm đặc trưng tiếp

theo của tín dụng là tính hồn trả đầy đủ. Một khoản tín dụng được cấp ln

dựa trên hai yếu tố: thời hạn hoàn trả và lượng giá được hoàn trả. Nợ quá hạn

sẽ phát sinh khi đến thời hạn trả nợ theo cam kết, người vay khơng có khả

năng trả nợ được một phần hoặc tồn bộ khoản vay. Như vậy, nợ quá hạn chỉ

là các khoản nợ mà khách hàng không thực hiện đúng các nghĩa vụ cụ thể là

về mặt thời gian và không được cơ cấu lại các khoản nợ. Lúc đó tồn bộ số dư

nợ gốc sẽ bị chuyển thành nợ quá hạn.

Nợ quá hạn được phản ánh qua hai chỉ tiêu:

Tỷ lệ nợ quá hạn

Tỷ lệ khách hàng có nợ

quá hạn trên tổng khách

hàng có nợ



=



Số dư nợ quá hạn

Tổng dư nợ



(1.1)



Số khách hàng có nợ quá hạn

=



Tổng số khách hàng có dư nợ



(1.2)



13

Nếu ngân hàng có chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn và số khách hàng có nợ quá

hạn cao thì ngân hàng đó đang đối mặt với RRTDcao và ngược lại.

Nợ xấu

Nợ xấu chính là các khoản tiền cho khách hàng vay, mà không thể thu

hồi lại được do khách hàng làm ăn thua lỗ, hoặc phá sản, nợ phải trả tăng,

doanh nghiệp mất khả năng thanh toán,… Theo quyết định số 493/2005/QĐ –

Ngân hàng nhà nước Việt Nam, nợ xấu là nợ nhóm 3 (dưới chuẩn), nợ nhóm

4 (nghi ngờ), nợ nhóm 5 (khả năng mất vốn). Tuy nhiên, có thể tóm lược lại

nợ xấu là các khoản nợ quá hạn có thời gian cơ cấu lại hơn 90 ngày hoặc các

khoản nợ vẫn còn trong thời hạn cam kết nhưng khách hàng bị mất khả năng

thanh tốn hoặc ngân hàng có những bằng chứng xác thực chứng minh được

mức rủi ro tăng cao cho các khoản tín dụng hoặc các khoản thanh tốn đã q

hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn về khả năng khoản vay được

thanh toán đầy đủ. Nợ xấu phản ánh rõ nhất qua các chỉ số:

Tỷ lệ nợ xấu



=



Số dư nợ quá hạn

Tổng dư nợ



(1.3)



Dự phòng RRTD

Dự phòng rủi ro đánh giá khả năng chi trả của Ngân hàng khi rủi ro xảy

ra. Mục đích của việc sử dụng dự phòng rủi ro của một ngân hàng là nhằm bù

đắp tổn thất đối với những khoản nợ của ngân hàng xảy ra trong trường hợp

khách hàng khơng có khả năng chi trả do giải thể, phá sản, chết, mất tích,

hoặc khi nợ được xếp vào nhóm 5. Dự phòng của một ngân hàng bao gồm dự

phòng cụ thể, để bảo hiểm các rủi ro cụ thể cho từng khoản vay, và dự phòng

chung, bảo hiểm các rủi ro chung khơng xác định vốn có trong danh mục tín

dụng.

Các chỉ số thể hiện dự phòng RRTD:



14

Tỷ lệ dự phòng

RRTD



=



Dự phòng RRTD được trích lập

Tổng dư nợ cho kỳ báo cáo



Hệ số khả năng bù đắp các

khoản cho vay bị mấ



=



Hệ số bù đắp RRTD



=



Dự phòng RRTD được trích lập

Dư nợ bị xố

Dự phòng RRTD được trích lập

Nợ q hạn khóđòi



(1.4)



(1.5)



(1.6)



1.1.4. Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng

a. Nguyên nhân khách quan

Ngun nhân từ mơi trường chính trị và pháp lý

Mơi trường chính trị cũng ảnh hưởng nhiều đến hoạt động tín dụng của

ngân hàng. Tình hình chính trị khơng ổn định không chỉ riêng khách hàng

không yên tâm sản xuất mà ngân hàng cũng không thể tập trung vào đầu tư,

mở rộng kinh doanh, đặc biệt là mở rộng tín dụng. Hơn nữa, sự bất ổn về

chính trị sẽ dẫn đến việc mất lòng tin trong dân chúng cũng như các nhà đầu

tư, ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng của ngân hàng.

Mơi trường pháp lý cũng có ảnh hưởng nhất định đến quá trình quản trị

RRTD của ngân hàng. Một khuôn khổ pháp luật đồng bộ, nhất quán điều

chỉnh các hoạt động kinh tế trong nền kinh tế thị trường được xem là điều

kiện tiên quyết đảm bảo thị trường hoạt động hiệu quả. Nhân tố pháp lý còn

thể hiện qua các quy định của Nhà nước về hoạt động ngân hàng nói chung và

các quy định về đảm bảo an tồn tín dụng nói riêng. Các quy định phù hợp sẽ

tạo điều kiện phát triển hoạt động ngân hàng nhưng nếu các quy định không

phù hợp sẽ dẫn đến kìm hãm phát triển, tạo khe hở có thể gây mất an toàn

trong hoạt động của ngân hàng.

Nguyên nhân từ môi trường kinh tế

Môi trường kinh tế được phản ánh qua chu kỳ kinh tế, các chính sách



15

kinh tế vĩ mô từng thời kỳ và tác động của xu thế kinh tế tồn cầu hố. Cụ thể,

chu kỳ kinh tế có tác động đến hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động

tín dụng nói riêng. Khi nền kinh tế tăng trưởng và ổn định thì hoạt động tín

dụng sẽ tăng trưởng và ít rủi ro hơn. Ngược lại, khi nền kinh tế suy thối và

khủng hoảng thì hoạt động tín dụng gặp khó khăn và rủi ro tăng lên. Trong

thời kỳ nền kinh tế xuống dốc, biểu hiện của suy thoái, việc sản xuất kinh

doanh bị thu hẹp, khơng hiệu quả và gặp nhiều khó khăn, khách hàng bị thua

lỗ và phá sản. Nếu ngân hàng vẫn tiếp tục tăng trưởng tín dụng ở mức cao thì

RRTD tăng lên.

Xu hướng tồn cầu hố đang diễn ra sơi động trên tồn thế giới, vì thế sự

biến động tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở bên ngồi đất nước cũng gây

ảnh hưởng tới đời sống kinh tế, chính trị, xã hội trong nước, từ đó ảnh hưởng

đến hoạt động của doanh nghiệp nói chung và NHTM nói riêng.

Nguyên nhân từ phía khách hàng vay vốn

Năng lực quản lý và điều hành của khách hàng: trình độ của người vay

trong việc dự đoán các vấn đề kinh doanh, năng lực quản lý, điều hành có tính

chất quyết định đến hiệu quả sử dụng vốn vay, ảnh hưởng trực tiếp đến khả

năng thực hiện cam kết với ngân hàng. Do đó, ảnh hưởng đến cơng tác quản

trị RRTD.

Tình hình tài chính của doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch: Năng

lực tài chính là yếu tố quan trọng trong quyết định tín dụng của ngân hàng.

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp Việt Nam hầu hết vẫn chưa có sự tuân thủ

nghiêm ngặt và trung thực về việc ghi chép sổ sách kế toán. Do vậy, khi

CBTD lập các bản phân tích tài chính dựa trên số liệu doanh nghiệp cung cấp,

thường thiếu tính chính xác và khơng thực tế dẫn đến việc ngân hàng đánh giá

sai năng lực tài chính của doanh nghiệp, gây phát sinh RRTD.

Sử dụng vốn vay sai mục đích, khơng có thiện chí về trả nợ vay: Đa số



16

các khách hàng khi vay vốn đều có phương án kinh doanh và sử dụng vốn vay

cụ thể, khả thi. Số lượng khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích khơng

nhiều. Tuy nhiên, những vụ việc phát sinh thì lại hết sức nặng nề, liên quan

đến uy tín của cán bộ, làm ảnh hưởng xấu đến các doanh nghiệp khác.

b. Nguyên nhân chủ quan

Do chính sách tín dụng của ngân hàng

Chính sách tín dụng khơng minh bạch làm cho hoạt động tín dụng lệch

lạc, dẫn đến việc cấp tín dụng khơng đúng đối tượng, tạo khe hở cho người sử

dụng vốn có những hành vi vi phạm hợp đồng và pháp luật.

Do yếu kém của CBTD, vi phạm đạo đức nghề nghiệp

Rủi ro do CBTD tính tốn không đúng hiệu quả đầu tư dự án xin vay.

CBTD khơng nắm rõ đặc điểm của ngành mình đang cho vay, hoặc do chính

CBTD cố ý cho vay dù đã tính tốn được dự án xin vay khơng có hiệu quả,

khơng có tỉnh khả thi, điều này sẽ gây rủi ro rất lớn cho ngân hàng.

Rủi ro do ngân hàng đánh giá chưa đúng mức về khoản vay, về người

vay, chủ quan tin tưởng vào khách hàng thân thiết, coi nhẹ khâu kiểm tra

tình hình tài chính, khả năng thanh toán ở hiện tại và tương lai, nguồn trả nợ.

Bên cạnh đó, đạo đức của cán bộ là một yếu tố rất quan trọng trong vấn đề

hạn chế RRTD.

Thiếu giám sát và quản lý sau khi cho vay

Các ngân hàng thường chú trọng vào các công việc thẩm định trước khi

cho vay mà nới lỏng quá trình kiểm tra, kiểm soát đồng vốn sau khi đã cho

vay. Theo dõi nợ là một trong những trách nhiệm quan trọng của CBTD. Tuy

nhiên trong thời gian qua, các NHTM vẫn chưa thực hiện tốt điều này.

Chưa đẩy mạnh công tác kiểm tra nội bộ các ngân hàng

Kiểm tra nội bộ có phần thuận tiện hơn thanh tra Ngân hàng nhà

nước(NHNN) vì nó nhanh chóng, kịp thời ngay sau khi phát sinh vấn đề rủi ro



17

và sâu sát hơn do việc kiểm tra được thực hiện thường xun cùng với cơng

việc kinh doanh.

Tóm lại, RRTD có thể xuất phát từ nguyên nhân khách quan hoặc chủ

quan, phụ thuộc phần lớn vào năng lực của CBTD, chức năng quản lý của

ngân hàng, khách hàng, các cơ chế chính sách của ngân hàng và nhà nước.

1.1.5. Tác động của rủi ro tín dụng

Giảm lợi nhuận của ngân hàng

Khi RRTD xảy ra làm phát sinh các khoản nợ khó đòi, làm giảm vòng

quay vốn của Ngân hàng, đồng thời làm phát sinh tăng các chi phí như: chi

phí quản lý, giám sát, thu hồi nợ,… các chi phí này còn cao hơn cả khoản thu

nhập từ lãi phạt, mà thực tế ngân hàng rất khó thu hồi được chúng. Việc tài

sản của Ngân hàng không thu hồi được cũng sẽ làm cho ngân hàng mất đi cơ

hội đầu tư vào những dự án khả thi để thu lãi. Kết quả là lợi nhuận của ngân

hàng bị giảm sút.

Giảm khả năng thanh toán của ngân hàng

Ngân hàng ln ln có kết hoạch cho việc cân đối dòng tiền ra và dòng

tiền vào cho từng thời điểm trong tương lai. Khi các khoản tín dụng bị thất

thốt hoặc chậm thu hồi trong khi Ngân hàng vẫn phải thanh toán đều đặn các

khoản lãi cho nguồn vốn huy động sẽ khiến ngân hàng bị mất cân đối giữa hai

dòng tiền. Điều này khiến ngân hàng đối mặt với rủi ro thanh khoản.

Giảm uy tín của ngân hàng

Tình trạng mất khả năng chi trả nhiều lần, hay những thông tin về RRTD

của ngân hàng bị bại lộ ra công chúng sẽ làm cho uy tín của ngân hàng bị

giảm sút. Khách hàng mất lòng tin ở ngân hàng, họ sẽ khơng gửi tiền vào

ngân hàng, thậm chí họ có thể còn rút lại những khoản tiền đã gửi. Điều đó đã

gây khó khăn cho việc huy động vốn của ngân hàng và làm giảm quy mô hoạt

động của ngân hàng. NHTM gặp rủi ro cũng sẽ làm mất lòng tin đối với các



18

ngân hàng bạn nên rất khó có thể nhận được những khoản tín dụng từ phía họ

khi cần thiết.

Phá sản ngân hàng

Một khi đã đối diện với một loạt các nguy cơ rủi ro như ảnh hưởng đến

uy tín, khả năng thanh khoản và lợi nhuận, nếu tỷ trọng này tiếp tục kéo dài

và ăn mòn vào vốn riêng của ngân hàng thì tất yếu sẽ dẫn đến phá sản ngân

hàng.

1.2. QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG

1.2.1. Khái niệmvà mục tiêuquản trị rủi ro tín dụng trong Ngân

hàng

a. Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng

Quản trị rủi ro luôn là hoạt động trung tâm trong ngân hàng, bởi kiểm

soát và quản lý rủi ro chặt chẽ đồng nghĩa với việc sử dụng một cách hiệu quả

nguồn vốn hoạt động. Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường hiện nay, để tạo

ra cơ hội đầu tư cần phải chấp nhận rủi ro. Do đó, quản trị rủi ro là một yêu

cầu tất yếu trong quá trình hoạt động của ngân hàng, và đó là một cơng việc

hết sức khó khăn, phức tạp.

Theo tác giả, khái niệm quản trị RRTD trong NHTM có thể được phát

biểu như sau: Quản trị RRTD là quá trình xây dựng và thực thi các chiến

lược, chính sách quản lý và biện pháp có liên quan đến hoạt động tín dụng

nhằm tối đa hoá lợi nhuận trong phạm vi mức rủi ro có thể chấp nhận được.

b. Mục tiêu quản trị rủi ro tín dụng

Kinh doanh tín dụng là một trong những hoạt động chủ đạo của ngân

hàng. Quản trị RRTD phải hướng vào việc đảm bảo hiệu quả của hoạt động

tín dụng và khơng ngừng nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của ngân

hàng trong những điều kiện thị trường đầy biến động, nguy cơ rủi ro không

ngừng gia tăng. Nói một cách cụ thể hơn thì quản trị rủi ro tín dụng phải



19

nhằm vào việc hạ thấp rủi ro tín dụng, nâng cao mức độ an tồn cho kinh

doanh của mỗi ngân hàng bằng các chính sách, các biện pháp quản lý, giám

sát các hoạt động tín dụng khoa học và hiệu quả. Ngoài ra, quản trị RRTD

phải đảm bảo thực hiện theo đúng các quy định của Nhà nước và quy định của

pháp luật.

1.2.2. Nội dung quản trị rủi ro tín dụng

Quy trình quản trị rủi ro gồm 4 nội dung: Nhận dạng rủi ro,đo lường rủi

ro, kiểm soát rủi ro và tài trợ rủi ro. Mặc dù có sự phân đoạn trong quy trình

quản trị RRTD nhưng phải luôn đảm bảo nguyên tắc là các khâu trong quy

trình có sự liên kết, gắn bó với nhau, tạo thành một chu trình liên tục, có như

vậy mới đảm bảo kiểm soát được rủi ro theo mục tiêu đã định.

a. Nhận dạng rủi ro

Nhận dạng rủi ro là q trình xác định liên tục và có hệ thống RRTD

trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Các hoạt động nhận dạng nhằm

phát triển thông tin về nguồn rủi ro, các yếu tố mạo hiểm, hiểm hoạ, và nguy

cơ rủi ro. Nhận dạng rủi ro thường được thực hiện thơng qua các phương

pháp sau:

Phân tích thơng tin tài chính và phi tài chính

Ngay từ bước lập hồ sơ tín dụng và phân tích tín dụng trong quy trình tín

dụng, cán bộ ngân hàng đã có thể nhận diện được rủi ro thơng qua việc thu

thập và phân tích các thơng tin về khách hàng:

+ Thơng tin phi tài chính: năng lực pháp lý, trình độ quản lý, lĩnh vực

hoạt động, mơi trường kinh doanh bên ngồi của khách hàng, môi trường nội

bộ, quan hệ với ngân hàng và các đặc điểm hoạt động khác.

+ Thơng tin tài chính: Sử dụng các báo cáo tài chính mà khách hàng

cung cấp, CBTD sẽ thiết lập các chỉ tiêu tài chính để đánh giá khả năng trả nợ

của khách hàng. Thông qua việc phân tích các chỉ tiêu tài chính sẽ cho thấy



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×