Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
KHUYẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KBNN ĐÀ NẴNG

KHUYẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KBNN ĐÀ NẴNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

74



nhân, tổ chức sai phạm hành chính về sử dụng NSNN; thống nhất quy trình và

đầu mối kiểm sốt các khoản chi của NSNN; tăng cường cải cách thủ tục

hành chính trong cơng tác KSC, bảo đảm đơn giản, rõ ràng, minh bạch về hồ

sơ, chứng từ, nội dung kiểm sốt, tiến tới thực hiện quy trình KSC điện tử.

- Về cơng tác quản lý ngân quỹ và nợ Chính phủ: đổi mới công tác quản

lý ngân quỹ KBNN nhằm quản lý ngân quỹ KBNN an toàn và hiệu quả; thực

hiện mơ hình thanh tốn tập trung theo hướng KBNN mở tài khoản thanh toán

tập trung tại Ngân hàng Nhà nước Trung ương để quản lý tập trung ngân quỹ

của tồn hệ thống KBNN; phát triển hệ thống các cơng cụ phục vụ công tác

quản lý ngân quỹ và quản lý nợ Chính phủ.

- Cơng tác kế tốn Nhà nước: xây dựng hệ thống kế toán Nhà nước

thống nhất, hiện đại theo nguyên tắc dồn tích, phục vụ yêu cầu quản lý ngân

sách và tài chính cơng bảo đảm tính cơng khai, minh bạch; phát triển kế tốn

quản trị phục vụ cho yêu cầu phân bổ ngân sách theo kết quả đầu ra, bảo đảm

khả năng phân tích và tính tốn được chi phí, hiệu quả của chi tiêu NSNN

cũng như yêu cầu lập ngân sách trên cơ sở dồn tích; thực hiện hội nhập quốc

tế về kế tốn Nhà nước, xây dựng chuẩn mực kế toán Nhà nước phù hợp với

hệ thống kế tốn cơng; Xây dựng mơ hình KBNN thực hiện chức năng tổng

kế toán Nhà nước.

- Về hệ thống thanh tốn ngành KBNN: hiện đại hóa cơng tác thanh tốn

của KBNN trên nền tảng cơng nghệ thơng tin hiện đại theo hướng tự động

hóa; tham gia hệ thống thanh toán điện tử song phương, thanh toán điện tử

liên ngân hàng, thanh toán bù trừ điện tử với các ngân hàng; ứng dụng có hiệu

quả cơng nghệ, phương tiện và hình thức thanh tốn khơng dùng tiền mặt tiên

tiến của quốc tế. Đến năm 2020, về cơ bản KBNN không thực hiện giao dịch

bằng tiền mặt; nghiên cứu triển khai thực hiện mơ hình thanh tốn tập trung,

theo hướng mọi giao dịch của NSNN và các quỹ tài chính Nhà nước đều được

thực hiện qua tài khoản thanh tốn tập trung.



75



3.1.2. Mục tiêu và định hướng hồn thiện hoạt động kiểm soát chi

thường xuyên qua KBNN Đà Nẵng

Cùng với chương trình cải cách hành chính của Chính phủ và những đòi

hỏi đổi mới khơng ngừng trong quản lý hành chính đất nước, hoạt động quản

lý quỹ NSNN của KBNN nói chung và KSC thường xuyên NSNN qua KBNN

cũng phải khơng ngừng đổi mới và hồn thiện. Việc đổi mới công tác KSC

thường xuyên NSNN nhằm đạt các mục tiêu cơ bản sau:

- Phải đảm bảo tất cả các khoản chi tiêu từ NSNN đều được kiểm soát

chặt chẽ qua hệ thống KBNN.

- Bảo đảm sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả kinh phí NSNN. Cơ chế cấp

phát và kiểm soát chi phải đạt mục tiêu chi đúng, chi đủ, kiểm soát chặt chẽ

việc sử dụng NSNN để góp phần loại bỏ tiêu cực, chống tham ơ, lãng phí,

nâng cao hiệu quả sử dụng kinh phí nhà nước.

- Qui trình, thủ tục kiểm sốt chi thường xun NSNN phải đảm bảo tính

khoa học, đơn giản, rõ ràng, cơng khai, minh bạch. Vừa đảm bảo thuận lợi

cho đơn vị sử dụng NSNN vừa đảm bảo các yêu cầu về quản lý ngân sách.

- Làm cho các cơ quan, đơn vị sử dụng NSNN thấy được quyền và nghĩa

vụ trong việc sử dụng kinh phí NSNN. Từ đó nâng cao ý thức chấp hành các

chế độ chi tiêu NSNN, sử dụng kinh phí đúng đối tượng, đúng định mức, tiết

kiệm và hiệu quả.

Để thực hiện được các mục tiêu trên, việc hồn thiện kiểm sốt chi

thường xun NSNN qua KBNN Đà Nẵng được tiến hành theo những

phương hướng chủ yếu sau:

Thứ nhất, triệt để thực hiện phương thức cấp phát chi thường xuyên

NSNN theo dự toán, tiến tới các khoản chi của NSNN đều được cấp theo dự

toán được duyệt. Dự tốn sau khi được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt phải

được chấp hành nghiêm ngặt, mọi khoản chi phải đảm bảo khơng vượt dự



76



tốn cả về tổng mức và cơ cấu từng khoản chi. Hạn chế dần sử dụng phương

thức ghi thu - ghi chi. Chỉ sử dụng phương thức ghi thu - ghi chi đối với các

khoản thu chi bằng hiện vật hay ngày công lao động. Cơ quan tài chính khơng

được sử dụng phương thức lệnh chi tiền để cấp phát các khoản chi thường

xuyên, hạn chế tối đa các khoản chi bằng lệnh chi tiền, chỉ trừ các khoản chi

mang tính cấp thiết hay liên quan tới bí mật an ninh quốc gia.

Thứ hai, cải tiến quy trình cấp phát, thanh tốn chi thường xun NSNN,

đảm bảo nguyên tắc mọi khoản chi của ngân sách đều được cấp phát trực tiếp

từ KBNN đến đối tượng cung cấp lao động, hàng hố, dịch vụ. Theo đó,

KBNN sẽ tăng sử dụng các phương thức thanh tốn khơng dùng tiền mặt để

cấp phát, chi trả các khoản chi thường xuyên, hạn chế tối đa việc xuất quỹ

ngân sách để cấp tạm ứng bằng tiền mặt cho đơn vị sử dụng NSNN. Quy trình

thủ tục kiểm sốt chi thường xuyên NSNN phải đảm bảo tính khoa học, đơn

giản, rõ ràng, công khai và minh bạch, thuận lợi cho người kiểm soát, người

được kiểm soát và phải đảm bảo các yêu cầu quản lý, đáp ứng yêu cầu sử

dụng tiết kiệm có hiệu quả các nguồn kinh phí của Nhà nước. Cơ chế cấp phát

và kiểm soát chi ngân sách phải đạt được mục tiêu cấp đúng đối tượng, đúng

tiêu chuẩn, định mức, hạn chế tiêu cực, lãng phí trong sử dụng NSNN.

Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện tổ chức bộ máy kiểm soát chi thường xuyên

NSNN tại Kho bạc theo hướng tinh gọn tránh tình trạng có nhiều bộ phận

cùng đảm nhận cơng việc kiểm sốt chi thường xun. Từng bước đơn giản

hóa thủ tục hành chính, xố bỏ kịp thời những qui định không cần thiết, tổ

chức niêm yết cơng khai, đầy đủ mọi thủ tục, qui trình trong kiểm sốt chi

thường xun NSNN. Hồn thiện quy trình kiểm sốt chi "một cửa" theo

hướng vừa nhanh chóng, thuận lợi cho đơn vị sử dụng NSNN vừa tăng cường

tính chặt chẽ trong kiểm soát chi.

Thứ tư, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức KBNN làm công



77



tác kiểm soát chi thường xuyên đáp ứng cho nhu cầu đổi mới và hiện đại hoá

ngành Kho bạc.

Thứ năm, tăng cường ý thức trách nhiệm của đơn vị sử dụng ngân sách

trong chi tiêu NSNN, nâng cao sự hiểu biết và ý thức tự giác của kế toán và thủ

trưởng đơn vị trong việc chấp hành chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách.

3.2. CÁC KHUYẾN NGHỊ ĐỐI VỚI KBNN ĐÀ NẴNG NHẰM HỒN

THIỆN CƠNG TÁC KIỂM SỐT CHI THƯỜNG XUYÊN NSNN

QUA KBNN

Trên cơ sở định hướng phát triển của KBNN đến năm 2020, định hướng,

mục tiêu hoàn thiện công tác KSC NSNN qua KBNN, trước những thực trạng

công tác KSC thường xuyên NSNN qua KBNN Đà Nẵng như đã phân tích ở

chương II, tác giả đề xuất một số kiến nghị và giải pháp nhằm hồn thiện

cơng tác KSC thường xuyên NSNN qua KBNN Đà Nẵng.

3.2.1. Đẩy mạnh thực hiện tun truyền về việc thanh tốn khơng

dùng tiền mặt đối với các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách

Thực hiện Đề án thanh tốn khơng dùng tiền mặt theo Quyết định số

291/2006/QĐ-TTg ngày 29/12/2006 của Chính phủ, KBNN đã triển khai

nghiên cứu đề án thanh tốn khơng dùng tiền mặt trong nội bộ hệ thống

KBNN theo hướng chuyển giao dần công tác này sang cho hệ thống Ngân

hàng Thương mại đảm nhận. Tuy nhiên, đối với hình thức chi trả lương qua

thẻ ATM, cần tích cực tuyên truyền, vận động các cơ quan, đơn vị thực hiện

chi trả lương cho cán bộ công nhân viên qua thẻ ATM; đối với các khoản chi

NSNN bằng tiền mặt, KBNN Đà Nẵng cần nghiên cứu trình cấp có thẩm

quyền ban hành văn bản hướng dẫn về quản lý cam kết chi NSNN theo

hướng: Quy định về quản lý nhà cung cấp, các nhà cung cấp hàng hoá, dịch

vụ cho khu vực cơng phải có tài khoản tại ngân hàng để thực hiện thanh toán

chi trả bằng chuyển khoản; đối với các nhà cung cấp khơng có tài khoản tại



78



ngân hàng hoặc KBNN, nếu đơn vị giao dịch với KBNN đề nghị chi tiền mặt

thì KBNN Đà Nẵng sẽ cấp séc cho đơn vị đến ngân hàng lĩnh tiền; Ngồi các

hình thức trên, cũng cần khảo sát và nghiên cứu xây dựng quy trình chi trả

cho nhà cung cấp hàng hố, dịch vụ qua thẻ mua hàng (thẻ thanh toán của các

tổ chức).KBNN Đà Nẵng cần tăng cường và thắt chặt cơng tác kiểm sốt chi

tiền mặt, triển khai thành cơng chương trình TCS thu thuế trực tiếp qua ngân

hàng với các ngân hàng thương mại trên địa bàn.... Phối hợp với các ban

ngành liên quan trên địa bàn đẩy mạnh cơng tác tun truyền cho cơ chế

thanh tốn khơng dùng tiền mặt.

3.2.2. Cần có các phương pháp tra cứu nhanh, chính xác các văn

bản chế độ và xác định thống nhất nội dung chi với mục lục ngân sách

trong kiểm soát chi thường xuyên NSNN tại KBNN Đà Nẵng

Hiện nay, hệ thống mục lục ngân sách liên tục được đổi mới, điều này

gây khó khăn rất lớn đối với cán bộ KSC và các đơn vị sử dụng ngân sách nếu

không kịp thời cập nhật. Hơn nữa, việc xác định chi đúng nội dung theo

nguồn nào cũng cực kỳ khó khăn cho các đơn vị vì nhiều nội dung chi chưa

được phân định rõ ràng, điều này cũng gây khó khăn đối với cán bộ KSC khi

mà lượng hồ sơ chứng từ rất nhiều, khơng thể kiểm sốt kỹ lưỡng được nếu

khơng có trình độ chun mơn tốt. Vì vậy, đến khi quyết toán, các đơn vị

thường rơi vào trường hợp lấy kinh phí của nguồn này chi cho nguồn kia.

KBNN Đà Nẵng cần phối hợp với các cơ quan ban ngành, ứng dụng công

nghệ thông tin phát triển phần mềm có thể tra cứu nhanh các nội dung chi để

việc KSC thường xuyên NSNN thuận lợi hơn.

3.2.3. Kiểm soát chi theo kết quả đầu ra

Trong phương thức quản lý ngân sách truyền thống, quá trình lập, chấp

hành và quyết toán ngân sách chủ yếu dựa trên cơ chế kiểm sốt chi phí đầu

vào. Có nghĩa là các cơ quan quản lý ngân sách thiên về kiểm soát, khống chế



79



các khoản chi ngân sách theo các khoản mục chi, nhưng trong phương thức

quản lý này khối lượng và chất lượng sản phẩm dịch vụ cung ứng cho xã hội,

so với chi phí chưa được đánh giá một cách chính xác. Việc cải cách quản lý

theo kết quả đầu ra nhằm hướng hoạt động của khu vực công minh bạch và rõ

ràng hơn. Biểu hiện cụ thể của phương thức này là tính hiệu quả và hiệu lực

đối với vấn đề ban hành và thực thi các chính sách, vấn đề thiết lập và thực thi

hệ thống luật pháp, cung cấp các dịch vụ công cần thiết cho xã hội từ nguồn

NSNN. Cải cách theo hướng chuyển sang phương thức quản lý ngân sách

theo kết quả đầu ra là một yêu cầu tất yếu khách quan của quá trình phát triển

nền kinh tế xã hội, xuất phát từ yêu cầu thực tiễn cần phải nâng cao hiệu quả

của các khoản chi tiêu ngân sách.

Quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra là một phương thức quản lý trên cơ

sở tập trung vào hiệu quả của các khoản chi ngân sách, kết quả của quá trình

hoạt động đằng sau các khoản chi NSNN và hiệu lực của các kết quả này. Đặc

điểm cơ bản nhất của phương thức quản lý ngân sách này là lấy kết quả đầu ra

làm đối tượng, mục tiêu chính để xây dựng và vận hành cơ chế quản lý chi

ngân sách. Vấn đề tổ chức công tác đánh giá các tác động cuối cùng của các

đầu ra được sản xuất ra từ quá trình chi ngân sách đối với nền kinh tế xã hội là

vấn đề quan trọng hàng đầu. Công tác tổ chức đánh giá các tác động, kết quả

cuối cùng của chi NSNN không chỉ diễn ra sau khi các khoản chi được hoàn

thành mà còn được diễn ra ngay từ khâu lập dự tốn ngân sách, trong q trình

chi tiêu ngân sách. Tức là vai trò của các cơ quan như cơ quan quản lý, soạn lập

dự toán ngân sách, kiểm toán, quốc hội,… trong hoạt động đánh giá hiệu quả

chi ngân sách rất quan trọng, có tính chất quyết định đến sự thành công của cơ

chế quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra.

Hiện nay các cơ quan quản lý nhà nước gặp nhiều khó khăn trong việc

xây dựng các tiêu chí và chuẩn mực để kiểm sốt, đánh giá các hoạt động đối



80



với cơ quan, đơn vị sử dụng NSNN. Các cơ quan, đơn vị cũng đang gặp khó

khăn trong việc xây dựng qui chế chi tiêu nội bộ của mình nên cơng tác quản

lý, kiểm sốt, giám sát trong nội bộ từng cơ quan và đơn vị cũng nảy sinh

nhiều vấn đề bất cập.

Để tiến tới thực hiện quản lý theo kết quả đầu ra, chúng ta cần thực hiện

các giải pháp sau:

Thiết lập một bộ phận chức năng chuyên trách trong việc theo dõi, giám

sát, phân tích và đánh giá tình hình chi tiêu ngân sách, tình hình và kết quả

hoạt động của các đơn vị sử dụng NSNN.

Cơ quan kiểm toán, thanh tra cần tập trung vào loại hình kiểm tốn hoạt

động để kiểm tra, đánh giá tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả quản lý và sử

dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước.

Xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá về đầu ra và kết quả bên cạnh việc

kiểm soát đầu vào một số nhóm chi lớn của đơn vị. Kết quả của việc đánh giá

phải trở thành thơng tin hữu ích trong phân bổ ngân sách.

Cần sử dụng “phiếu đánh giá dịch vụ công” như một công cụ hữu hiệu

phản hồi ý kiến tập thể của những người sử dụng dịch vụ. Kết quả phiếu đánh

giá dịch vụ công phải được công bố cơng khai cho cơng chúng nhằm góp

phần nâng cao trách nhiệm trong cung cấp dịch vụ của các đơn vị sự nghiệp

cơng lập.

Xây dựng lộ trình thích hợp tiến tới áp dụng khuôn khổ chi tiêu trung

hạn nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý tài chính, ngân sách theo đầu ra và kết

quả. Quản lý NSNN theo đầu ra và kết quả đạt được tính khả thi khi phân bổ

dự toán NSNN được dựa trên cơ sở dự toán đầy đủ các nguồn tài chính sẵn có

được huy động vào thực hiện mục tiêu của các chính sách và kế hoạch phát

triển kinh tế xã hội. Khơng dự tốn được đầy đủ các nguồn tài chính sẵn có

được huy động vào thực hiện mục tiêu của các chính sách và kế hoạch phát



81



triển kinh tế, xã hội của Nhà nước thì tất yếu khó có thể có được sự lựa chọn

tối ưu trong phân bổ dự toán NSNN, đồng thời dẫn đến tình trạng phân bổ dự

tốn NSNN dàn trải, chồng chéo, manh mún, kém hiệu quả tất yếu khơng thể

khắc phục được.

Tiếp tục hồn thiện hệ thống định mức phân bổ và định mức chi tiêu

NSNN phù hợp với yêu cầu áp dụng cơ chế quản lý NSNN đầu ra. Định mức

phân bổ dự tốn phải được tính toán trên cơ sở dự toán đầy đủ các nguồn tài

chính sẵn có trong ngắn hạn, trung và dài hạn, phù hợp với các đối tượng sử

dụng ngân sách. Định mức chi tiêu cần được xác định vào các định mức kinh

tế, kỹ thuật của ngành, lĩnh vực, theo từng vùng và mang tính hướng dẫn để các

đơn vị sử dụng ngân sách dự tốn chi phí cho các hoạt động dựa vào đầu ra.

Xây dựng hệ thống theo dõi, đánh giá để hệ thống theo dõi đánh giá thực

sự là một công cụ cung cấp thông tin hữu hiệu cho quá trình quản lý ngân

sách. Việc xây dựng và duy trì một hệ thống theo dõi và đánh giá theo kết quả

là hết sức khó khăn. Trước hết phải đạt đến mức độ sẵn sàng từ các cấp quản

lý, bồi dưỡng nguồn nhân lực đủ trình độ. Có nhiều mơ hình tổ chức theo dõi

và đánh giá mà chúng ta có thể tham khảo từ kinh nghiệm của các nước khi

xây dựng hệ thống theo dõi và đánh giá như: mơ hình tồn diện, mơ hình bộ

phận, mơ hình hỗn hợp. Chiến lược tốt nhất để đưa hệ thống theo dõi và đánh

giá vào vận hành đó là thí điểm tại một vài bộ, ngành tiến tới áp dụng cho tất

cả các đơn vị.

3.2.4. Tăng cường công tác thanh tra tài chính, kịp thời phát hiện

và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm

Thanh tra tài chính là một trong những công cụ quan trọng của nhà

nước trong công tác quản lý tài chính. Cơng tác thanh tra tài chính nhằm

giúp phát hiện, kịp thời chấn chỉnh và xử lý các sai phạm trên lĩnh vực tài

chính, ngân sách, đồng thời qua đó phát hiện những sơ hở của cơ chế,



82



chính sách, chế độ, quản lý chi để kiến nghị sửa đổi bổ sung cho phù hợp.

Vì vậy, cơng tác kiểm tra, kiểm sốt đòi hỏi phải đảm bảo chính xác, trung

thực và khách quan, khi kết luận phải có căn cứ, có tác dụng tích cực đối

với đơn vị được thanh tra, đồng thời chỉ rõ những việc làm được để phát

huy, những việc chưa làm được để đơn vị có hướng khắc phục sửa chữa.

Để tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra quản lý chi ngân sách trên

địa bàn huyện Lâm Thao cần tập trung vào các giải pháp sau:

Xác định các lĩnh vực trọng tâm, trọng điểm cần tập trung thanh tra,

đặt biệt là các lĩnh vực dễ xảy ra lãng phí, thất thốt vốn như: công tác xây

dựng cơ bản, mua sắm trang bị tài sản, tình hình sử dụng ngân sách của các

đơn vị dự tốn, cơng tác quản lý thu chi ngân sách.

Nâng cao trình độ năng lực và phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ

làm công tác thanh tra, thường xuyên đào tạo, cập nhật các kiến thức mới

không chỉ trên lĩnh vực kinh tế, tài chính, QLNN mà còn nhiều kiến thức

tổng hợp khác.

Phải đổi mới phương thức thanh tra, kiểm tra theo dự toán chi ngân

sách và thực tế đã chi. Qua thanh tra cần kết hợp với việc đánh giá hiệu quả

sau thực hiện chi ngân sách.

Tăng cường công tác phối hợp với các cơ quan có chức năng thanh tra

ở địa phương để tránh chồng chéo, trùng lắp trong q trình thanh tra, gây

khó khắn, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của đơn vị được thanh tra.

Xử lý nghiêm minh các sai phạm được phát hiện để nâng cao hiệu lực

của công tác thanh tra. Tùy theo tính chất, mức độ của sai phạm mà kiến

nghị xử lý cho phù hợp nhằm làm cho cơng tác quản lý tài chính đi vào nề

nếp, răn đe sai phạm.

3.2.5.Tăng cường kỷ luật thanh toán tạm ứng ngân sách Nhà nước

Theo quy định, chậm nhất vào ngày cuối cùng của tháng sau, các đơn vị



83



sử dụng NSNN phải thanh toán hết số dư tạm ứng của tháng trước (trừ những

khoản chi theo tiến độ). KBNN Đà Nẵng tăng cường đơn đốc các đơn vị khẩn

trương thanh tốn tạm ứng và cũng kiên quyết không cấp tiếp tạm ứng đối với

các trường hợp chưa thanh toán toán hết tạm ứng, đảm bảo các khoản tạm ứng

phải thanh toán dứt điểm, không dây dưa kéo dài.

Kiên quyết từ chối, khơng chấp nhận thanh tốn các khoản chi sai chế

độ, dù đó là những khoản chi có tính chất nhạy cảm. Đảm bảo mọi khoản chi

NSNN qua KBNN Đà Nẵng đầy đủ các điều kiện chi theo quy định.

3.2.6. KBNN Đà nẵng cần phối hợp tốt với cơ quan tài chính và

tham mưu điều hành ngân sách cho lãnh đạo thành phố

KBNN Đà Nẵng phối hợp kịp thời với Sở Tài chính để giải quyết các tồn

tại, vướng mắc của các đơn vị dự toán ngân sách, điều này sẽ hạn chế ách tắc

ở khâu kiểm soát, thanh toán NSNN qua KBNN Đà Nẵng.

Đơn đốc Sở Tài chính thành phố Đà Nẵng khẩn trương tham mưu cho Uỷ

ban nhân dân thành phố giao dự toán cho đơn vị và thẩm định dự toán chi theo

đúng thời gian quy định, tránh tạm ứng dự toán kéo dài và ảnh hưởng chi tiêu

của đơn vị (thường đây là thời điểm giáp Tết cổ truyền của dân tộc Việt Nam).

KBNN Đà Nẵng báo cáo, tham mưu cho Uỷ ban nhân dân thành phố về

tình hình thực hiện thu, chi NSNN của các đơn vị dự tốn. Trên cơ sở đó Uỷ

ban nhân dân thành phố có giải pháp điều hành và căn cứ để xét thi đua, khen

thưởng đối với các đơn vị. Đây cũng là giải pháp thúc đẩy các đơn vị thực

hiện quản lý ngân sách đúng Luật và khi đơn vị chấp hành đúng Luật thì khối

lượng cơng việc cũng giảm tải hơn.

3.2.7. Nâng cao chất lượng đội ngũ quản lý, điều hành, KSC

thường xuyên NSNN đối với đơn vị sử dụng NSNN và cán bộ KSC của

hệ thống KBNN

Con người luôn được đánh giá là yếu tố quyết định cho sự thành công



84



của một tổ chức. Trong bất cứ hoạt động nào, người ta cũng luôn nhấn mạnh

tầm quan trọng của yếu tố con người, trong công tác kiểm sốt chi thường

xun cũng khơng ngoại lệ, năng lực, trình độ và phẩm chất của lực lượng

cán bộ làm công tác kiểm sốt chi là yếu tố có vai trò quan trọng đối với hiệu

quả của cơng tác kiểm sốt chi. Để làm tốt cơng tác kiểm sốt chi thường

xun qua KBNN đòi hỏi đội ngũ cán bộ kiểm sốt chi thường xuyên phải đạt

được các yêu cầu sau: có trình độ chun mơn cao, am hiểu sâu sắc về lĩnh

vực chi ngân sách nói chung và kiểm sốt chi thường xun nói riêng, có khả

năng làm chủ được cơng nghệ cao trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, sử

dụng thành thạo công nghệ thông tin trong lĩnh vực kiểm sốt chi, có phẩm

chất đạo đức tốt, có bản lĩnh nghề nghiệp và văn hố nghề Kho bạc. Để có

được đội ngũ cán bộ theo yêu cầu trên, cần phải thực hiện tốt những việc sau:

- Trong khâu tuyển dụng cán bộ, cần phải chú trọng khả năng thật sự của

người cần tuyển, không quá chú trọng vào bằng cấp. Công tác tuyển dụng

phải được tổ chức khoa học, công khai, minh bạch để có thể tuyển chọn được

những người thật sự đáp ứng tốt cho vị trí cần tuyển dụng. Tránh tuyển dụng

cán bộ trên cơ sở thân quen hay do áp lực của những người có quyền lực.

- Chú trọng đào tạo nâng cao trình độ của cán bộ với nhiều loại hình đào

tạo đa dạng, nội dung đào tạo phong phú. Về hình thức đào tạo, bên cạnh việc

cử cán bộ tham gia các lớp đào tạo dài hạn (đại học, sau đại học), cần chú

trọng mở các lớp tập huấn ngắn hạn để bồi dưỡng chuyên sâu kiến thức

chuyên môn nghiệp vụ, cập nhật kiến thức mới, phổ biến những kinh nghiệm

đã mang lại hiệu quả tốt trong cơng tác kiểm sốt chi ở những địa phương

khác... Về nội dung đào tạo, song song với việc trang bị kiến thức chuyên

môn, cần phải trang bị cho cán bộ các kiến thức bổ trợ cho hoạt động kiểm

soát chi như: kiến thức về pháp luật (Luật Đấu thầu, hợp đồng kinh tế...), kiến

thức tin học, ngoại ngữ, kiến thức về kinh tế, xã hội, các đường lối, chủ

trương của Đảng và Nhà nước liên quan đến quản lý tài chính, NSNN. Đặc



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

KHUYẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KBNN ĐÀ NẴNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×