Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KBNN

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KBNN

Tải bản đầy đủ - 0trang

18



b. Chi NSNN

- Khái niệm

Chi NSNN là quá trình Nhà nước sử dụng các nguồn lực tài chính tập

trung được vào việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ kinh tế, chính trị và

xã hội của Nhà nước trong từng cơng việc cụ thể. Chi NSNN có quy mơ rộng

và mức độ rộng lớn, bao gồm nhiều lĩnh vực, tại các địa phương và các cơ

quan hành chính, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước.

- Vai trò chi NSNN

Thứ nhất, chi thường xuyên có tác động trực tiếp đến đến việc thực hiện

các chức năng của Nhà nước về quản lý kinh tế, xã hội, là một trong những

nhân tố có ý nghĩa quyết định đến chất lượng, hiệu quả của bộ máy quản lý

Nhà nước.

Thứ hai, chi thường xuyên là công cụ để Nhà nước thực hiện mục tiêu ổn

định và điều chỉnh thu nhập, hỗ trợ người nghèo, gia đình chính sách, thực

hiện các chính sách xã hội… góp phần thực hiện mục tiêu cơng bằng xã hội.

Thứ ba, thông qua chi thường xuyên, Nhà nước thực hiện điều tiết, điều

chỉnh thị trường để thực hiện các mục tiêu của Nhà nước.

Thứ tư, chi thường xuyên là công cụ ổn định chính trị, xã hội, quốc

phòng, an ninh.

- Đặc điểm chi NSNN

Trong mỗi chế độ xã hội, mỗi giai đoạn lịch sử, chi NSNN mang những

nội dung cơ cấu khác nhau, song chúng đều có cùng những đặc điểm sau:

Thứ nhất, chi NSNN luôn gắn với bộ máy nhà nước và những nhiệm vụ

kinh tế, chính trị, xã hội mà nhà nước phải đảm đương trong thời kỳ. Nhà

nước với bộ máy càng lớn thì phải đảm đương càng nhiều nhiệm vụ thì mức

độ và phạm vi chi của NSNN càng lớn.

Thứ hai, các khoản chi của NSNN được xem xét hiệu quả trên tầm vĩ



19



mơ. Điều đó có nghĩa là các khoản chi của NSNN phải được xem xét một

cách toàn diện dựa trên cơ sở của việc hoàn thành các mục tiêu kinh tế - xã

hội đề ra.

Thứ ba, các khoản chi của NSNN mang tính khơng hồn trả trực tiếp.

Điều này được thể hiện qua việc các tổ chức hoặc cá nhân nhận được vốn,

kinh phí từ NSNN khơng phải ghi nợ, và cũng khơng phải hoàn trả lại một

cách trực tiêp cho ngân sách. Mặt khác, không phải mọi khoản thu với mức

độ, số lượng của những địa chỉ cụ thể đều được hoàn lại dưới các khoản chi

của NSNN.

1.1.2. Phân loại chi NSNN

Chi NSNN bao gồm: Các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo

quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy Nhà nước; chi trả nợ của

Nhà nước, chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật

( Điều 4, Luật NSNN 2015). Có nhiều tiêu thức để phân loại các khoản chi

NSNN, song tựu chung lại có thể sắp xếp theo những tiêu thức phân loại chủ

yếu sau:

a.



Căn cứ vào lĩnh vực chi của NSNN, chi NSNN được phân thành

+ Chi cho phát triển văn hoá, giáo dục, y tế xã hội;

+ Chi cho quốc phòng, an ninh như: chi xây dựng cơ sở vật chất, trang

thiết bị, vũ khí; chi trực tiếp cho đội ngũ sĩ quan, chiến sĩ; chi thường xuyên

cho các lực lượng quốc phòng, an ninh thực hiện nhiệm vụ;

+ Chi cho phát triển kinh tế như chi đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh

tế như: giao thông, thuỷ lợi, điện, hệ thống thông tin liên lạc …; chi đầu tư

trực tiếp cho một số ngành kinh tế then chốt, mũi nhọn của nền kinh tế; các

khoản chi khác như: chi cho nghiên cứu, chuyển giao công nghệ…

+ Chi cho nhiệm vụ đối ngoại như việc đóng góp vào các quỹ Tài chính

Quốc gia; chi phí cho đồn ra, đồn vào; chi cho việc tổ chức hội nghị, giao



20



lưu quốc tế…

b. Căn cứ theo yếu tố, chi NSNN được phân chia thành các khoản chi

thường xuyên và chi đầu tư phát triển

- Chi thường xuyên là nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước nhằm bảo

đảm hoạt động của bộ máy nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã

hội, hỗ trợ hoạt động của các tổ chức khác và thực hiện các nhiệm vụ thường

xuyên của Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an

ninh. Các khoản chi thường xuyên gồm có các khoản chi cơ bản sau:

+ Chi sự nghiệp kinh tế: Trong nền kinh tế, hoạt động sự nghiệp kinh tế

rất đa dạng như hoạt động khảo sát, thăm dò; hoạt động thúc đẩy ứng dụng

khoa học kỹ thuật; hoạt động nông lâm nghiệp, thuỷ lợi, công cộng … tất cả

các hoạt động sự nghiệp này với mục đích là nhằm phục vụ cho yêu cầu

hoạch định và phát triển kinh tế. Vì vậy cần phải có sự tài trợ của Nhà nước

tạo điều kiện vật chất để các đơn vị sự nghiệp kinh tế hoạt động có hiệu quả.

Xét về mặt nội dung khoản chi sự nghiệp kinh tế từ NSNN bao gồm: Chi

lương và phụ cấp lương; Chi mua sắm nguyên vật liệu, mua sắm, sửa chữa

duy tu các phương tiện làm việc trong các đơn vị sự nghiệp …

+ Chi sự nghiệp giáo dục đào tạo: Đây là một trong những khoản chi

quan trọng nó gắn liền với việc nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, gắn

liền với tiến bộ khoa học kỹ thuật, phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội. Về

nội dung chi sự nghiệp giáo dục đào tạo bao gồm: chi cho giáo dục phổ thông,

phổ thông dân tộc nội trú; chi về đào tạo sau đại học, đại học, cao đẳng, trung

học chuyên nghiệp, đào tạo nghề và các hình thức đào tạo, bồi dưỡng khác.

Trong điều kiện khoa học kỹ thuật, công nghệ trở thành lực lượng sản xuất

trực tiếp thì các khoản chi cho giáo dục đào tạo có ý nghĩa hết sức quan trọng

và có xu hướng chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng chi NSNN.

+ Chi về nghiên cứu khoa học và cơng nghệ: để nhanh chóng tiếp cận



21



với nền khoa học và công nghệ tiên tiến của thế giới, ứng dụng cho mục tiêu

phát triển kinh tế thì việc đầu tư cho nghiên cứu, phát triển khoa học và công

nghệ là vô cùng cần thiết. Nội dung chi này bao gồm: chi cho mạng lưới các

cơ quan nghiên cứu khoa học và công nghệ như các trung tâm nghiên cứu

khoa học, các viện, phân viện khoa học và công nghệ …

+ Chi về sự nghiệp y tế: đây là khoản chi chiếm tỷ trọng khá lớn trong

tổng chi thường xuyên của NSNN. Bên cạnh nguồn kinh phí của NSNN còn

huy động nhiều nguồn thu khác như: viện phí, bảo hiểm y tế… nhằm tăng

cường cơ sở vật chất, kỹ thuật cho các cơ sở y tế, nâng cao chất lượng hoạt

động khám, chữa bệnh cho nhân dân. Nội dung chi cho sự nghiệp y tế bao

gồm: chi phòng bệnh, chữa bệnh, chi cho các chương trình trọng điểm của

ngành y tế và các khoản chi sự nghiệp y tế khác.

+ Chi sự nghiệp văn hoá - xã hội, thể dục thể thao: Đây là lĩnh vực hoạt

động phong phú, đa dạng. Mục tiêu của các hoạt động này nhằm nâng cao tri

thức, thẩm mỹ cho mọi tầng lớp dân cư cũng như đảm bảo đời sống của người

lao động khi gặp khó khăn, tai nạn, già yếu, trợ cấp cho các đối tượng chính

sách, người nghèo neo đơn, chi giúp đỡ nhân dân ở những vùng xảy ra thiên

tai và những sự cố bất ngờ.

+ Chi quản lý hành chính Nhà nước và tổ chức chính trị, chính trị xã hội:

Đây là các khoản chi nhằm đảm bảo sự hoạt động của hệ thống các cơ quan

quản lý Nhà nước từ Trung ương đến Địa phương, tổ chức Đảng và các tổ

chức chính trị, chính trị - xã hội.

Nội dung chi quản lý hành chính Nhà nước bao gồm: Cho hoạt động của

bộ máy Nhà nước như: Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, ngành, Hội đồng nhân

dân, Uỷ ban nhân dân các cấp …; chi cho hoạt của các tổ chức chính trị,

chính trị xã hội: Đảng, Mặt trận tổ quốc và các tổ chức thành viên …

+ Chi cho quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội: đây là những



22



khoản chi nhằm đảm bảo sự toàn vẹn lãnh thổ, đảm bảo trật tự an tồn xã hội

góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động kinh tế, xã hội.

Nội dung các khoản chi này bao gồm: chi đảm bảo đời sống vật chất,

tinh thần, chính sách cho lực lượng vũ trang; chi trang bị cơ sở vật chất, kỹ

thuật; chi đào tạo, huấn luyện và nghiên cứu khoa học kỹ thuật; các khoản chi

khác cho an ninh, quốc phòng.

- Chi đầu tư phát triển: Đây là khoản chi mang tính chất tích luỹ, mức độ

đầu tư phụ thuộc vào nguồn thu nhập quốc dân và nó ảnh hưởng trực tiếp đến

tăng năng suất xã hội và các quan hệ cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân.

Chi đầu tư phát triển bao gồm các khoản chi cơ bản sau đây:

+ Chi đầu tư xây dựng các cơng trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội

khơng có khả năng thu hồi vốn là khoản chi lớn của Nhà nước nhằm phát

triển kết cấu hạ tầng, đảm bảo các điều kiện cần thiết cho nhiệm vụ phát triển

kinh tế - xã hội. Đầu tư xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội là khoản chi đầu tư

xây dựng các cơng trình giao thông: đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, hàng

không,… các cơng trình Bưu chính Viễn thơng, điện lực, cấp thốt nước, các

cơng trình văn hố, giáo dục, y tế, phúc lợi công cộng…đây là những khoản

chi về đầu tư xây dựng cơ bản của Nhà nước, nó được thực hiện bằng chế độ

cấp phát khơng hồn trả từ NSNN.

+ Chi đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ

chức tài chính của Nhà nước, góp vốn cổ phần, liên doanh vào các doanh

nghiệp thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước.

+ Chi bổ sung dự trữ Nhà nước đó là những khoản chi từ NSNN nhằm

mục đích dự trữ những vật tư, thiết bị, hàng hố chiến lược phòng khi có

những biến cố bất ngờ xẩy ra như: thiên tai, địch hoạ …

+ Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.



23



c. Căn cứ vào mục đích kinh tế - xã hội, chi NSNN được phân thành

chi tích luỹ và chi tiêu dùng

- Chi tiêu dùng là những khoản chi nhằm mục đích phục vụ cho nhu cầu

trước mắt và thường được sử dụng hết sau khi đã chi cho bộ máy Nhà nước,

an ninh, quốc phòng, văn hố - xã hội … cụ thể đó là: các khoản chi lương,

các khoản có tính chất lương và chi hoạt động. Nhìn chung, chi tiêu dùng là

những khoản chi có tính chất thường xun.

- Chi tích luỹ là những khoản chi mà hiệu quả của nó có tác dụng lâu dài,

các khoản chi này chủ yếu được sử dụng để phát huy hiệu quả trong tương lai

như: chi xây dựng hạ tầng cơ sở kinh tế - kỹ thuật, chi nghiên cứu khoa học –

cơng nghệ, cơng trình cơng cộng, bảo vệ mơi trường …

1.1.3. Hình thức chi trả các khoản chi từ NSNN

a. Chi trả theo hình thức rút dự tốn

- Đối tượng:

+ Cơ quan hành chính nhà nước.

+ Đơn vị sự nghiệp cơng lập.

+ Tổ chức chính trị xã hội, chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã

hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp được ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí

thường xuyên.

+ Đối tượng khác theo hướng dẫn riêng của cơ quan nhà nước có thẩm

quyền.

- Quy trình:

+ Căn cứ vào nhu cầu chi và theo yêu cầu nhiệm vụ chi, thủ trưởng đơn

vị sử dụng ngân sách lập và gửi hồ sơ thanh toán theo quy định gửi Kho bạc

Nhà nước nơi giao dịch để làm căn cứ kiểm soát, thanh toán.

+ Kho bạc Nhà nước kiểm tra, kiểm soát các hồ sơ của đơn vị sử dụng

ngân sách theo quy định, nếu đủ điều kiện theo quy định, thì thực hiện chi trả



24



trực tiếp cho người hưởng lương và người cung cấp hàng hoá, dịch vụ hoặc

chi trả qua đơn vị sử dụng ngân sách.

+ Khi thực hiện chi trả theo hình thức rút dự tốn từ Kho bạc Nhà nước,

Kho bạc Nhà nước thực hiện chi cho đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước đảm

bảo các khoản chi đáp ứng các điều kiện chi ngân sách nhà nước theo quy định

và hạch toán theo đúng quy định của mục lục ngân sách nhà nước hiện hành.

b. Chi trả theo hình thức lệnh chi tiền

- Đối tượng chi trả theo hình thức lệnh chi tiền bao gồm:

+ Chi cho các đơn vị, các tổ chức kinh tế, xã hội khơng có quan hệ

thường xun với ngân sách nhà nước;

+ Chi trả nợ nước ngoài;

+ Chi cho vay của ngân sách nhà nước;

+ Chi kinh phí ủy quyền (đối với các khoản ủy quyền có lượng vốn nhỏ,

nội dung chi rõ) theo quyết định của Thủ trưởng cơ quan tài chính.

+ Một số khoản chi khác theo quyết định của Thủ trưởng cơ quan tài

chính.

- Quy trình chi trả theo hình thức lệnh chi tiền:

+ Cơ quan tài chính chịu trách nhiệm kiểm tra, kiểm sốt nội dung, tính

chất và kiểm soát hồ sơ chứng từ của từng khoản chi, bảo đảm các điều kiện

thanh toán chi trả ngân sách theo quy định tại Điều 3 Thông tư này; ra lệnh

chi tiền gửi Kho bạc Nhà nước để chi trả cho đơn vị sử dụng ngân sách.

+ Kho bạc Nhà nước thực hiện xuất quỹ ngân sách và chi trả cho đơn vị

sử dụng ngân sách theo nội dung ghi trong lệnh chi tiền của cơ quan tài chính.

1.1.4. Chức năng, nhiệm vụ của KBNN

Trên thế giới kho bạc là cơ quan đặc biệt có lịch sử hình thành và phát

triển lâu đời. Tuy có chức năng cơ bản giống nhau nhưng thực tế cho thấy mơ

hình tổ chức và cách thức hoạt dộng của kho bạc ở mỗi nước đều có những



25



điểm khác biệt nhất định.

Các mơ hình tổ chức kho bạc nhà nước trên thế giới có thể được khái

qt thành ba dạng chính sau đây:

Mơ hình thứ nhất: kho bạc là cơ quan trực thuộc chính phủ, theo mơ hình

tổ chức này kho bạc là cơ quan ngang bộ thường được gọi là bộ ngân khố,

đứng đầu kho bạc là bộ trưởng ngân khố do nghị viện bổ nhiệm, có vai trò

lãnh đạo, kiểm sốt tồn bộ hoạt động của hệ thống cơ quan ngân khố trong

cả nước

Mơ hình thứ hai: kho bạc là cơ quan trực thuộc bộ tài chính, theo mơ

hình tổ chức này, kho bạc là một bộ phận của bộ tài chính

Việt Nam lựa chọn mơ hình thứ hai trong việc tổ chức quản lý quỹ ngân

sách nhà nước. Vào ngày 01 tháng 04 năm 1990, Chính phủ đã ban hành

Quyết định số 07 về việc quản lý quỹ ngân sách nhà nước sang cho Bộ Tài

chính và thành lập hệ thống Kho bạc nhà nước trực thuộc Bộ tài chính để đảm

nhiệm công việc này. Chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của Kho bạc nhà nước

được quy định tại quyết định số 26/2015/QĐ – TTg ngày 08/07/2015, theo đó

Kho bạc Nhà nước là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng

tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý nhà nước về quỹ ngân sách

nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước; quản lý ngân quỹ nhà nước; tổng kế

toán nhà nước; thực hiện việc huy động vốn cho ngân sách nhà nước và cho

đầu tư phát triển thơng qua hình thức phát hành trái phiếu Chính phủ theo quy

định của pháp luật. Kho bạc Nhà nước có tư cách pháp nhân, con dấu có hình

Quốc huy

a. Chức năng của KBNN

- Quản lý Nhà nước về quỹ NSNN, các quỹ tài chính Nhà nước và các

quỹ khác của Nhà nước được giao quản lý.

- Huy động vốn cho NSNN, cho đầu tư phát triển qua hình thức phát



26



hành công trái và trái phiếu.

- Thực hiện và cụ thể hố các chức năng nêu trên, Chính phủ, Bộ Tài

chính quy định nhiệm vụ của KBNN bao gồm những nhiệm vụ chuyên môn

theo chức năng và nhiệm vụ quản lý nội ngành.

b. Nhiệm vụ của Kho bạc Nhà nước

- Quản lý quỹ NSNN và các quỹ tài chính của Nhà nước

+ Quản lý quỹ NSNN: KBNN có trách nhiệm quản lý toàn bộ các khoản

tiền của Nhà nước, kể cả tiền vay, tiền trên tài khoản của NSNN các cấp, cụ thể:





KBNN có nhiệm vụ tập trung, phản ánh đầy đủ, kịp thời các khoản thu

NSNN; tổ chức thực hiện việc thu nộp vào quỹ NSNN do các tổ chức và cá

nhân nộp tại hệ thống KBNN; thực hiện hạch tốn số thu NSNN cho các cấp







ngân sách.

KBNN tổ chức thực hiện chi NSNN. KBNN quản lý, kiểm soát, thanh toán,

chi trả các khoản chi từ NSNN bao gồm cả chi thường xuyên và chi đầu tư







xây dựng cơ bản.

Để thực hiện nhiệm vụ quản lý quỹ NSNN, KBNN có quyền trích từ tài

khoản tiền gửi của tổ chức, cá nhân để nộp NSNN hoặc áp dụng các biện

pháp hành chính khác để thu NSNN. KBNN có quyền từ chối thanh tốn, chi

trả các khoản chi khơng đúng, khơng đủ các điều kiện theo quy định của pháp

luật và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình.

+ Quản lý quỹ tài chính và các quỹ tài chính khác của Nhà nước







KBNN các cấp được giao nhiệm vụ quản lý, kiểm sốt các quỹ dự trữ tài

chính của Trung ương, của các cấp chính quyền địa phương, quỹ ngoại tệ tập







trung của Nhà nước và một số quỹ tài chính Nhà nước khác.

Quản lý tiền, tài sản, các loại chứng chỉ có giá của Nhà nước và của các đơn







vị, cá nhân gửi tại KBNN.

Quản lý, kiểm soát và thực hiện nhập, xuất các khoản tạm thu, tạm giữ, tịch

thu, ký quỹ, thế chấp theo quyết định cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

- Hạch tốn kế tốn NSNN và các quỹ tài chính khác của Nhà nước



27



- Để thực hiện nhiệm vụ quản lý quỹ NSNN và các quỹ tài chính Nhà

nước, KBNN các cấp tổ chức thực hiện cơng tác hạch tốn kế tốn NSNN, kế

tốn các quỹ và tài sản do Nhà nước giao.

- Thực hiện nghiệp vụ thanh toán và điều hành vốn

- Tổ chức huy động vốn cho NSNN và cho đầu tư phát triển

- Quản lý, cấp phát, cho vay đối với các chương trình mục tiêu của

Chính phủ

1.2. HOẠT ĐỘNG KIỂM SỐT CHI THƯỜNG XUYÊN NSNN QUA

KBNN

1.2.1. Sự cần thiết phải thực hiện kiểm soát chi thường xuyên NSNN

qua KBNN

Quản lý cấp phát và thanh toán các khoản chi NSNN là trách nhiệm của

các ngành, các cấp, các cơ quan, đơn vị có liên quan đến việc quản lý và sử

dụng NSNN, từ khâu lập dự toán, phân bổ, cấp phát, thanh toán đến quyết

tốn chi tiêu NSNN, trong đó hệ thống Kho bạc Nhà nước giữ vai trò đặc biệt

quan trọng. Đối với nước ta hiện nay, kiểm soát chi thường xuyên NSNN có ý

nghĩa đặc biệt quan trọng bởi xuất phát từ những lý do sau đây:

Thứ nhất, do yêu cầu của công cuộc đổi mới: đổi mới về cơ chế quản lý

tài chính nói chung và đổi mới cơ chế quản lý NSNN nói riêng, đòi hỏi mọi

khoản chi của NSNN phải đảm bảo đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả.

Trong điều kiện hiện nay, khi khả năng NSNN còn hạn hẹp mà nhu cầu chi

phát triển kinh tế - xã hội ngày càng tăng thì việc kiểm sốt chặt chẽ các

khoản chi NSNN thực sự là một trong những mối quan tâm hàng đầu của

Đảng, Nhà nước và của các ngành, các cấp. Thực hiện tốt công tác này có ý

nghĩa quan trọng trong việc thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí nhằm tập

trung mọi nguồn lực tài chính để phát triển kinh tế - xã hội, góp phần kiềm

chế lạm phát, ổn định tiền tệ và lành mạnh hố nền tài chính quốc gia; đồng

thời, nó cũng góp phần nâng cao trách nhiệm cũng như phát huy được vai trò



28



của các ngành, các cấp, các cơ quan, đơn vị có liên quan đến cơng tác quản lý

và điều hành NSNN.

Thứ hai, do hạn chế của bản thân cơ chế quản lý chi NSNN: cơ chế

quản lý chi NSNN tuy đã thường xuyên được sửa đổi và hoàn thiện, nhưng

vẫn chỉ quy định được những vấn đề chung nhất mang tính ngun tắc, dẫn

đến khơng thể bao qt hết tất cả các hiện tượng phát sinh trong quá trình

thực hiện quản lý kiểm sốt chi NSNN. Mặt khác, cùng với sự phát triển

không ngừng của các hoạt động kinh tế - xã hội, các nghiệp vụ chi NSNN

cũng ngày càng đa dạng và phức tạp hơn. Do vậy, cơ chế quản lý chi NSNN

nhiều khi không theo kịp với biến động của hoạt động chi NSNN. Tình trạng

này đã tạo kẽ hở trong cơ chế quản lý chi NSNN. Từ đó, một số đơn vị, cá

nhân đã tìm cách lợi dụng, khai thác những kẽ hở của cơ chế quản lý nhằm

tham ơ, trục lợi, gây lãng phí tài sản và công quỹ của Nhà nước. Từ thực tế

trên, đòi hỏi phải có các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nói chung và Kho

bạc nói riêng thực hiện việc kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng kinh phí

NSNN của các cơ quan, đơn vị nhằm ngăn chặn kịp thời những hiện tượng

tiêu cực, phát hiện những điểm chưa phù hợp trong cơ chế quản lý để từ đó

kiến nghị với các ngành, các cấp sửa đổi, bổ sung kịp thời để các cơ chế

quản lý và kiểm sốt chi NSNN ngày càng được hồn thiện, phù hợp và chặt

chẽ hơn.

Thứ ba, do ý thức của các đơn vị sử dụng kinh phí NSNN: các đơn vị thụ

hưởng kinh phí NSNN thường có tư tưởng tìm mọi cách để sử dụng hết số

kinh phí đã được cấp, khơng quan tâm đến việc chấp hành đúng mục đích, đối

tượng và dự toán được duyệt. Các đơn vị thường lập hồ sơ, chứng từ thanh

tốn sai chế độ, chính sách như: khơng có trong dự tốn chi NSNN đã được

duyệt hoặc không đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu của Nhà nước;

thiếu hồ sơ, chứng từ có liên quan… Vì vậy, cần thiết phải cơ quan chức năng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KBNN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×