Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tổng quan tình hình nghiên cứu

Tổng quan tình hình nghiên cứu

Tải bản đầy đủ - 0trang

5

trước đây trong các đề tài quản trị rủi ro tín dụng và hạn chế rủi ro tín dụng tại

các NHTM, cụ thể:

- Luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Viết Mười (2014) “Kiểm sốt rủi ro tín

dụng trong cho vay doanh nghiệp tại Ngân Hàng TMCP Đầu tư và Phát triển

Việt Nam Chi nhánh Đà Nẵng”. Tác giả đã nêu đầy đủ cơ sở lý luận về kiểm

soát RRTD và nội dung của kiểm soát RRTD trong cho vay doanh nghiệp. Đó

là cơ sở để đề tài này kế thừa và đi sâu nghiên cứu về kiểm soát RRTD trong

cho vay trung dài hạn. Tuy nhiên, phần các giải pháp kiểm sốt RRTD tại

ngân hàng, tác giả còn trình bày chung chung, chưa cụ thể để áp dụng đối với

cho vay khách hàng doanh nghiệp trên địa bàn Đà Nẵng.

- Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Hằng Nga (2015) “Kiểm sốt

rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại Ngân Hàng TMCP Á Châu CN

Đà Nẵng.” Tác giả đã nghiên cứu các giải pháp kiểm soát rủi ro trong cho

vay DN, đánh giá thực trạng cơng tác kiểm sốt RRTD tại ACB CN Đà Nẵng.

Về mặt khơng gian, các nghiên cứu về kiểm sốt RRTD trong cho vay DN

của tác giả gần như tương đồng với đề tài này. Do vậy, các nghiên cứu của tác

giả là cơ sở để đề tài này tham khảo các đặc điểm cho vay của DN và xem xét

lại các biện pháp kiểm sốt rủi ro tín dụng trong cho vay DN cho phù hợp với

giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, trong phần các nội dung về kiểm sốt RRTD,

tác giả còn nêu khái qt, chưa đi sâu vào phân tích các nội dung để đưa ra

các giải pháp cụ thể, để áp dụng thực tế tại NH.

- Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Hồng Sương (2016) “Các

biện pháp kiểm soát RRTD trong cho vay khách hàng doanh nghiệp tại Ngân

hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam-Chi nhánh Đắk Lắk”. Tác giả đã

đưa ra các chính sách kiểm sốt RRTD và tổ chức triển khai chính sách kiểm

sốt RRTD tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam-Chi nhánh

Đắk Lắk. Nghiên cứu của tác giả này có điểm tương đồng với đề tài này là



6

cùng nghiên cứu 2 Chi nhánh của BIDV nhưng triển khai khác địa bàn. Do

vậy, đề tài này đã kế thừa được các nghiên cứu chính sách kiểm soát RRTD

tại BIDV đồng thời là cơ sở để xem xét nghiên cứu các chính sách đó trong

hoạt động cho vay trung dài hạn đối với khách hàng DN trên địa bàn Đà

Nẵng. Tuy nhiên, hạn chế của tác giả là phần cơ sở lý luận về RRTD chưa

nêu lên được các đặc điểm cơ bản của RRTD trong cho vay doanh nghiệp.

- Luận văn thạc sĩ của tác giả Lương Tấn Minh ( 2015) “Kiểm sốt rủi

ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Công Thương

Việt Nam Chi nhánh Đà Nẵng”. Tác giả đã nghiên cứu các nội dung của cơng

tác kiểm sốt RRTD và đưa ra các giải pháp nhằm hồn thiện cơng tác kiểm

soát RRTD đối với các doanh nghiệp trên địa bàn TP Đà Nẵng. Tuy nhiên,

hạn chế của tác giả là các giải pháp kiểm sốt RRTD còn chung chung, chưa

cụ thể để áp dụng đối với cho vay khách hàng doanh nghiệp trên địa bàn Đà

Nẵng.

- Luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm Thị Thu Vân (2015) “Kiểm sốt rủi

ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại CN NH Nông Nghiệp và Phát

triển Nông thôn quận Liên Chiểu TP Đà Nẵng”. Tác giả đã nêu các tiêu chí

đánh giá cơng tác kiểm sốt RRTD, các giải pháp hạn chế RRTD như mức

giảm của nợ xấu, tỷ lệ trích dự phòng rủi ro, tỷ lệ xóa nợ ròng, đây là cơ sở để

đề tài này tiếp thu để đánh giá cơng tác kiểm sốt RRTD trong cho vay trung

dài hạn khách hàng DN tại Đà Nẵng.Tuy nhiên, hạn chế của tác giả là các

trong tiêu chí đánh giá kết quả kiểm sốt RRTD thiếu phần tình hình biến

động cơ cấu dư nợ tại NH.

- Luận văn thạc sĩ của tác giả Mai Công Trung (2014) “Các biện pháp

hạn chế RRTD trong cho vay trung dài hạn đối với doanh nghiệp tại Ngân

hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam-Chi nhánh Đắk Lắk”. Trong phần

cơ sở lý luận tác giả đã trình bày đầy đủ về RRTD và hạn chế RRTD. Tuy



7

nhiên, trong phần 2, phần hạn chế RRTD tác giả chỉ nêu các hình thức giám

sát và cảnh báo rủi ro tín dụng trong q trình cho vay, cụ thể là kiểm tra

giám sát tuân thủ chính sách, qui trình nghiệp vụ tín dụng. Đề tài này đã kế

thừa được các nghiên cứu lý luận về RRTD. Tuy nhiên, hạn chế của tác giả là

do đề tài nghiên cứu ở phương diện rộng nên việc tập trung nghiên cứu cơng

tác hạn chế RRTD còn hạn chế.

- Luận văn thạc sĩ của tác giả Phan Trần Anh Nguyên (2014) “Các biện

pháp hạn chế RRTD trong cho vay trung dài hạn tại Ngân hàng Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn Hải Châu TP Đà Nẵng”. Luận văn đưa nhiều biện

pháp hạn chế RRTD cũng như phân tích đánh giá thực trạng cơng tác quản trị

rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hải Châu

TP Đà Nẵng. Tuy nhiên hạn chế của tác giả là chưa đưa ra các biện pháp né

tránh RRTD.Đề tài này đã bổ sung thêm các lý luận về công tác kiểm soát

RRTD, đồng thời các giải pháp mà tác giả đưa ra được đề tài này nghiên cứu

kế thừa và phát triển cho phù hợp với thực tiễn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư

và Phát triển Việt Nam-Chi nhánh Đà Nẵng và Khách hàng DN trên địa bàn

Đà Nẵng.

- Bài báo nghiên cứu của tác giả T.S Đinh Thị Thanh Vân (2014) ,“So

sánh nợ xấu, phân loại nợ và trích dự phòng rủi ro tín dụng của Việt Nam và

thơng lệ quốc tế”, Tạp chí Ngân hàng, tr. 5, đã nghiên cứu phương pháp trích

dự phòng RRTD của Việt Nam và so sánh với phương pháp trích dự phòng

RRTD với nhiều nước trên thế giới, đưa ra các kiến nghị nhằm tính tốn chính

xác và trích đủ dự phòng RRTD

- Bài báo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thái Hưng (2015), “Giải

pháp giảm thiểu rủi ro tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước”, Tạp chí

Ngân hàng, tr.7-11, đã nghiên cứu các giải pháp giảm thiểu RRTD trong cho

vay đầu tư của Ngân hàng Phát triển Việt Nam.



8

- Bài báo nghiên cứu của tác giả Lê Thị Hạnh (2016), “Kiểm sốt rủi ro

tín dụng theo Basel II tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam”, Tạp chí Tài

chính ,tr.10, đã nghiên cứu các biện pháp kiểm sốt rủi ro tín dụng thơng qua

việc áp dụng các chuẩn mực của Basel và kết quả đạt được ở Việt Nam.

Trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước đây về kiểm sốt RRTD, đề tài

này hệ thống hóa các lý luận về RRTD và nội dung công tác kiểm soát RRTD

trong cho vay trung dài hạn với DN, cũng như các biện pháp kiểm soát RRTD

trong cho vay trung dài hạn DN thường được NHTM sử dụng. Bên cạnh đó đề

tài này đưa ra các yêu cầu triển khai hiệu quả các biện pháp kiểm soát RRTD

tại NHTM, đồng thời đưa ra các tiêu chí đánh giá kết quả cơng tác kiểm sốt

RRTD trong cho vay trung dài hạn với DN.Đề tài đi từ việc phân tích chung về

thực trạng hoạt động kinh doanh của ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển

Việt Nam - Chi nhánh Đà Nẵng, qua đó đánh giá thực trạng RRTD trong cho

vay trung dài hạn với khách hàng DN và công tác kiểm soát RRTD trong cho

vay trung dài hạn khách hàng DN của chi nhánh. Từ việc phân tích đó, đề tài

rút ra được những kết quả, hạn chế và nguyên nhân hạn chế đối với cơng tác

kiểm sốt RRTD trong cho vay trung dài hạn với khách hàng DN tại Chi

nhánh. Trên cơ sở đó, đưa ra các nhóm giải pháp thích hợp nhằm hồn thiện

cơng tác kiểm sốt RRTD trong cho vay trung dài hạn đối với khách hàng DN

tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đà Nẵng

trong thời gian tới.



9



CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SỐT RỦI RO TÍN DỤNG

TRONG CHO VAY TRUNG DÀI HẠN ĐỐI VỚI

KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NHTM

1.1. CHO VAY TRUNG DÀI HẠN ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH

NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG

1.1.1. Hoạt động cho vay của ngân hàng

a. Khái niệm cho vay

Cho vay là một trong những hình thức cấp tín dụng của ngân hàng

thương mại. Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng

vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản

chi phí nhất định.

Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12), định nghĩa hoạt động cấp

tín dụng là “việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc

cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo ngun tắc có hồn trả bằng

nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh tốn, bảo lãnh

ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”.

Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại là hình thức cấp tín dụng

phổ biến, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các hình thức cấp tín dụng. Đó là hoạt

động mà theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một

khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định

theo thỏa thuận với nguyên tắc có hồn trả cả gốc và lãi.

b. Phân loại cho vay

Thơng thường danh mục cho vay có thể được sắp xếp rất đa dạng tùy

vào các tiêu thức quản lý khác nhau của các NHTM.



10

- Căn cứ vào thời hạn cho vay, hoạt động cho vay được chia thành các loại:

+ Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn đến 1 năm. Mục đích của

loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động.

+ Cho vay trung dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 1 năm. Mục

đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản

cố định hoặc tài trợ các dự án đầu tư.

- Căn cứ vào mục đích cho vay, hoạt động cho vay được chia thành các loại:

+ Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp;

+ Cho vay tiêu dùng cá nhân;

+ Cho vay bất động sản;

+ Cho vay nông nghiệp;

+ Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu.

- Căn cứ vào mức độ tín nhiệm của khách hàng, hoạt động cho vay được

chia thành các loại:

+ Cho vay đảm bảo bằng tài sản: là loại cho vay dựa trên cơ sở bảo đảm

cho tiền vay như thế chấp, cầm cố, hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào

khác.

+ Cho vay đảm bảo không bằng tài sản: là loại cho vay không có tài sản

thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người thứ ba mà chỉ dựa vào uy tín của

bản thân khách hàng vay vốn để quyết định cho vay.

- Căn cứ vào phương thức cho vay, hoạt động cho vay được chia thành

các loại sau:

+ Cho vay từng lần: là loại cho vay mà mỗi lần vay vốn khách hàng và

NHTM thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký hợp đồng tín dụng.

+ Cho vay theo hạn mức tín dụng: là loại cho vay mà NHTM và KH

xác định và thỏa thuận hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời

gian nhất định.



11

+ Cho vay theo hạn mức thấu chi: là loại cho vay mà NHTM thỏa thuận

bằng văn bản chấp thuận cho KH chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh tốn

của KH.

1.1.2. Doanh nghiệp và phân loại cho vay trung dài hạn doanh

nghiệp

a. Doanh nghiệp

Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt

động kinh doanh trên thị trường nhằm làm tăng giá trị của chủ sở hữu. Doanh

nghiệp là một tổ chức có nhiệm vụ tiến hành các hoạt động kinh doanh với

các đặc trưng cơ bản sau:

- Là chủ thể kinh tế độc lập

- Có tư cách pháp nhân

- Hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận hoặc phục vụ nhu cầu công cộng.

Theo luật DN số 68/2014/QH13 do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội Chủ

nghĩa Việt Nam ban hành ngày 26/11/2014, Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế

có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy

định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.

Các loại hình Doanh nghiệp chính bao gồm:

- Doanh nghiệp Nhà nước: Là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn.

Nhà nước - người đại diện toàn dân - tổ chức thực hiện chức năng quản lý

trên mọi mặt hoạt động sản xuất kinh doanh kể từ khi thành lập cho đến khi

giải thể. Doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa

vụ dân sự trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý.

- Công ty trách nhiệm hữu hạn là doanh nghiệp mà các thành viên trong

cơng ty (có thể là một tổ chức hay một cá nhân đối với công ty trách nhiệm

hữu hạn một thành viên) chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản

khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.



12

- Công ty cổ phần là doanh nghiệp mà vốn điều lệ của công ty được chia

thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ

phần của doanh nghiệp được gọi là cổ đông và chịu trách nhiệm về các khoản

nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp.

- Cơng ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên là

chủ sở hữu của công ty, cùng kinh doanh dưới một cái tên chung (gọi là thành

viên hợp danh). Thành viên hợp doanh phải là cá nhân và chịu trách nhiệm

bằng tồn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của cơng ty. Ngồi ra trong

cơng ty hợp danh còn có các thành viên góp vốn.

- Doanh nghiệp tư nhân: doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự

chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh

nghiệp. Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân.

b. Phân loại cho vay trung dài hạn đối với doanh nghiệp

- Cho vay thông thường

Khoản vay này dùng để đáp ứng nhu cầu mua sắm máy móc thiết bị, nhu

cầu tài trợ cho TSLĐ thường xuyên hay thanh toán các khoảng nợ của doanh

nghiệp, tiền vay được thanh toán dần cho ngân hàng theo định kỳ. Số tiền

thanh tốn định kỳ có thể đều nhau, khơng đều nhau hay kỳ cuối nhiều hơn.

- Tín dụng tuần hồn

Tín dụng tuần hồn là hình thức cho vay trong đó ngân hàng cam kết

chính thức dành cho khách hàng một hạn mức tín dụng trong thời hạn nhất

định, có thể từ 1-3 năm hay 5 năm, song thời hạn nợ ký kết trong hợp đồng

thường ngắn và nếu khách hàng thực hiện tốt các điều khoản của hợp đồng tín

dụng thì cam kết hạn mức sẽ được tiếp tục. Loại tín dụng này thường dùng để

tài trợ cho nhu cầu tăng trưởng TSLĐ, thay thế các khoản nợ ngắn hạn tới kỳ

thanh tốn hay cho vay qua thẻ tín dụng.



13

1.1.3. Đặc điểm cho vay trung dài hạn đối với doanh nghiệp

- Giá trị khoản vay lớn

Nhu cầu vay vốn trung dài hạn của các doanh nghiệp phát sinh do nhu

cầu mở rộng sản xuất, mua sắm máy móc thiết bị, đổi mới công nghệ, phát

triển cơ sở hạ tầng…

- Thời hạn đầu tư dài

Nguồn vốn vay trung dài hạn là nguồn vốn quan trọng đáp ứng nhu cầu

tài sản cố định và tài sản lưu động thường xuyên. Toàn bộ vốn cố định tuy

tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh nhưng chỉ chuyển một phần giá trị

vào các sản phẩm được sản xuất ra trong suốt quá trình khấu hao. Đối với tài

sản lưu động thường xuyên, tính chất thường xuyên thể hiện ở chỗ nguồn vốn

để đầu tư vào loại tài sản lưu động này phải được duy trì một cách thường

xun. Rõ ràng, với tính chất như vậy nguồn vốn để đầu tư phải là nguồn vốn

có tính chất dài hạn.

- Rủi ro cao

Cho vay trung dài hạn là khoản vay có khối lượng vốn lớn, thời hạn vay

dài. Việc sử dụng vốn vay của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào điều

kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế, chính trị xã hội, sự thay đổi về vị thế của

doanh nghiệp về sản phẩm được cung cấp, sự xuất hiện của sản phẩm mới, sự

thay đổi của công nghệ sản xuất, nguyên liệu sản xuất… tất cả các yếu tố này

có thể gây khó khăn cho việc trả nợ của doanh nghiệp.

- Lãi suất cao

Lãi suất cho vay, ngồi lãi suất cơ bản còn phụ thuộc vào cấu trúc rủi ro

và cấu trúc kì hạn của lãi suất. Mức độ rủi ro càng cao, thời hạn cho vay càng

dài thì mức bù rủi ro cho NH càng lớn, do đó lãi suất cho vay càng cao và

ngược lại. Chính vì vậy mà lãi suất cho vay trung dài hạn thường cao hơn lãi

suất ngắn hạn.



14

1.2. RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG

1.2.1. Khái niệm rủi ro tín dụng

Trong các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM, rủi ro tín

dụng có tác động lớn nhất đến mục tiêu kinh doanh của NHTM. Vậy rủi ro tín

dụng là gì?

Trong tài liệu “Financial Institutions Management – A Modern

Perpective”, A.Saunder và H.Lange định nghĩa rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm

tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các

luồn thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể

được thực hiện đầy đủ về cả số lượng và thời hạn (A.Saunder, H.Lange (1995),

Financial Institutions Management – A Modern Perpective, Irwin, Artarmon)

Theo Timothy W.Koch: Một khi ngân hàng nắm giữ tài sản sinh lợi, rủi

ro xảy ra khi khách hàng sai hẹn - có nghĩa là khách hàng khơng thanh tốn

vốn gốc và lãi theo thỏa thuận. Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu

nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán

hay thanh toán trễ hạn (Timothy W.Koch (1995), Bank Management,

University of South Carolina, The Dryden Press, page 107).

Căn cứ vào khoản 01 điều 02 của Quy định về phân loại nợ, trích lập và

sử dụng dự phòng để xử lý. Rủi ro tín dụng trong hoạt động NH của tổ chức

tín dụng (Ban hành theo Quyết định số 493/2005/Qđ – NHNN ngày

22/4/2005 của Thống đốc NHNN) thì: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động NH

của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động NH của tổ

chức tín dụng do khách hàng khơng thực hiện hoặc khơng có khả năng thực

hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.”

Như vậy có thể nói rằng rủi ro tín dụng có thể xuất hiện trong các mối

quan hệ mà trong đó NH là chủ nợ, mà khách hàng nợ lại không thực hiện

hoặc không đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn. Nó diễn ra



15

trong q trình cho vay, chiết khấu cơng cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá,

cho th tài chính, bảo lãnh, bao thanh tốn của NH. Đây còn được gọi là rủi

ro mất khả năng chi trả và rủi ro sai hẹn, là loại rủi ro liên quan đến chất

lượng hoạt động tín dụng của NH.

1.2.2. Phân loại rủi ro tín dụng

a. Căn cứ vào tiêu thức nguyên nhân phát sinh rủi ro

- Rủi ro giao dịch: là rủi ro do những hạn chế trong quá trình giao dịch

và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có 03 bộ phận

chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ.

+ Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến q trình đánh giá và phân

tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả

để quyết định cho vay.

+ Rủi ro bảo đảm: là rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các

điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại TSBĐ, chủ thể bảo đảm, cách

thức bảo đảm và mức cho vay trên trị giá của TSBĐ.

+ Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lí khoản vay và

hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạn rủi ro và kỹ

thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề.

- Rủi ro danh mục: là rủi ro do những hạn chế trong quản lí danh mục

cho vay của ngân hàng, được phân chia thành 02 loại: Rủi ro nội tại (Intrinsic

risk) và rủi ro tập trung (Concentration risk):

+ Rủi ro nội tại: là rủi ro xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có,

mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực

kinh tế.

+ Rủi ro tập trung: là trường hợp ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều

đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong

cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế, hoặc trong cùng một vùng địa lí nhất định,

hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tổng quan tình hình nghiên cứu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×