Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
a. Các chính sách Nhà nước

a. Các chính sách Nhà nước

Tải bản đầy đủ - 0trang

29



trong nền kinh tế thị trường ln cần có sự quản lý của Nhà nước, bởi vai trò

điều tiết nền kinh tế nói chung và khu vực kinh tế tư nhân nói riêng của Nhà

nước là tất yếu khách quan.

Các chính sách của Nhà nước được các doanh nghiệp thực thi thuận lợi

thể hiện qua hệ thống pháp luật ngày càng được hồn chỉnh và đồng bộ, trong

đó đảm bảo quyền tự do và bình đẳng trong đầu tư và kinh doanh, bảo hộ

quyền sở hữu tài sản hợp pháp cho mọi công dân, các nhà đầu tư và kinh

doanh. Mặt khác, đảm bảo hoạt động quản lý của các cơ quan Nhà nước minh

bạch, công khai, thủ tục hành chính đơn giản, thuận lợi, nhanh chóng, cũng

như đội ngũ cán bộ cơng chức cơng tâm, thiện chí quan tâm giải quyết các

yêu cầu và tháo gỡ những khó khăn cho các doanh nghiệp là điều kiện hết sức

quan trọng để kinh tế tư nhân phát triển. Bên cạnh đó, quan hệ này còn biểu

hiện ở sự hỗ trợ, giúp đỡ, khuyến khích của Nhà nước. Điều có ý nghĩa tâm lý

quan trọng cho phát triển kinh tế tư nhân là sự động viên, khen thưởng, tôn

vinh các doanh nhân thành đạt, sản xuất kinh doanh giỏi đóng góp nhiều cho

cộng đồng, xã hội của khu vực kinh tế này.

Ngoài ra chính sách phát triển kinh tế là hoạt động của chính quyền tác

động của chính quyền tác động tới các cơ chế kinh tế, văn hoá, xã hội, và thể

chế để đạt được những tiến bộ trong sự phát triển kinh tế.

Để đánh giá môi trường kinh doanh và chính sách phát triển kinh tế tư

nhân của tỉnh, hiện nay đã có chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI).

PCI là chỉ số đánh giá và xếp hạng mơi trường kinh doanh và chính

sách phát triển KTTN của các tỉnh, thành phố trên cả nước, có tính đến những

điều kiện khác biệt về hoàn cảnh địa lý, cơ sở hạ tầng , quy mô thị trường,...

giữa các tỉnh[5,21].

Một trong những đặc điểm của PCI là giúp các tỉnh thành dễ dàng

nhận diện những yếu kém trong công tác điều hành kinh tế của địa phương



30



thông qua từng chỉ số thành phần, đặc biệt là đối với những chỉ số có trọng số

cao, để từ đó tìm ra giải pháp khắc phục.

Cấu thành PCI ở năm 2010 có các chỉ tiêu sau:

Chi phí gia nhập thị trường: đo lường thời gian một doanh nghiệp cần

để đăng ký kinh doanh, xin cấp đất và nhận được mọi loại giấy phép, thực

hiện tất cả các thủ tục cần thiết để bắt đầu tiến hành một hoạt động kinh

doanh.

Tiếp cận đất đai: đo lường mức độ khó khăn mà doanh nghiệp đang

gặp phải trong việc tiếp cận đất đai và mặt bằng cho kinh doanh. Các chỉ tiêu

để tính tốn bao gồm tình trạng doanh nghiệp có giấy chứng nhận quyền sử

dụng đất hay khơng, có đủ mặt bằng để mở rộng kinh doanh hay không, và

mức giá đất sau khi đã điều chỉnh cung cầu tại các địa phương trong mối quan

tương quan giữa nhu cầu và quỹ đất của địa phương.

Tính minh bạch: đo lường khả năng doanh nghiệp có thể tiếp cận được

các kế hoạch của tỉnh và văn bản pháp lý cần thiết cho công việc kinh doanh

của mình, tính sẵn có của các văn bản này, tính có thể dự tốn được của các

quy định và chính sách mới, việc có được đưa ra tham khảo ý kiến doanh

nghiệp trước khi ban hành hay không và mức độ phổ biến của trang web tỉnh.

Chi phí về thời gian: đo lường thời gian mà các doanh nghiệp phải bỏ

ra khi chấp hành các thủ tục hành chính, cũng như mức độ thường xuyên và

thời gian doanh nghiệp phải tạm dừng kinh doanh để các cơ quan pháp luật

của tỉnh thực hiện việc thanh tra, kiểm tra.

Chi phí khơng chính thức: đo lường mức chi phí khơng chính thức

doanh nghiệp phải trả và những trở ngại do những chi phí này gây nên cho

hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.



31



Tính năng động: đo lường tính sáng tạo, sáng suốt của tỉnh trong q

trình thực thi chính sách trung ương cũng như trong việc đưa ra những sáng

kiến riêng nhằm phát triển khu vực KTTN

Hổ trợ doanh nghiệp: đo lường chất lượng và tính hữu ích của các

chính sách của tỉnh dành cho việc thúc đẩy hoạt động kinh doanh của khu vực

tư nhân, việc cung cấp thông tin pháp luật cho doanh nghiệp, tìm kiếm đối tác

kinh doanh và khả năng đào tạo nâng cao chất lượng lao động của tỉnh.

Đào tạo lao động: đo lường đánh giá những nỗ lực của chính quyền

tỉnh trong việc giải quyết sự thiếu hụt về lao động có kỹ năng tại địa phương.

Thiết chế pháp lý: đánh giá mức độ tin tưởng của doanh nghiệp đối với

các thiết chế pháp lý tại địa phương.

b. Nhân tố thị trường

Một trong những nhân tố quyết định việc các doanh nghiệp tư nhân có

đầu tư vào một thị trường, một lĩnh vực nào đó hay không là khả năng tham

gia thị trường, nhất là trong điều kiện đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế. Khả

năng này tạo thành từ những nhân tố không chỉ do nội lực của bản thân doanh

nghiệp mà chủ yếu phụ thuộc rất nhiều vào môi trường thuận lợi từ phía Nhà

nước, xã hội là sự phát triển đồng bộ các loại thị trường như: thị trường hàng

hoá dịch vụ, thị trường lao động, thị trường tài chính, thị trường khoa học

công nghệ, thị trường bất động sản... cùng với việc thiết lập môi trường cạnh

tranh lành mạnh, công khai, minh bạch cũng như điều kiện, thủ tục thành lập

doanh nghiệp, yếu tố tâm lý xã hội...

Với mục tiêu lợi nhuận, phát triển thị phần và đầu ra luôn là mục tiêu

của kinh tế tư nhân.

c. Về cơ sở hạ tầng kỹ thuật

Với trình độ khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ, quá trình hội nhập

kinh tế quốc tế diễn ra mạnh mẽ cơ sở hạ tầng là một trong những điều kiện



32



cơ bản để phát triển nền kinh tế. Ở đâu có cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện đại

hồn chỉnh như: giao thơng, cấp điện, cấp nước, thơng tin liên lạc... thì ở đó

sẽ tạo điều kiện thuận lợi, kích thích được phát triển kinh tế, đặc biệt là đối

với khu vực kinh tế tư nhân với tính năng động và hiệu quả của mình.

Vai trò của cơ sơ hạ tầng kỹ thuật là rất to lớn nếu thiếu sự quan tâm,

đầu tư đúng mức sẽ làm kìm hãm sự phát triển nền kinh tế nói chung và kinh

tế tư nhân nói riêng.

Nhân tố về thơng tin: Hoạt động trong nền kinh tế thị trường trong

quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp muốn tăng cường khả

năng cạnh tranh, tận dụng cơ hội, thách thức, giảm thiểu rủi ro, phát huy tính

năng động và hiệu quả buộc các doanh nghiệp phải có khả năng, các quyền

được tiếp cận và nắm bắt đầy đủ thông tin về môi trường kinh doanh liên

quan như: các thông tin về pháp luật, về chủ trương chính sách của Đảng và

Nhà nước, những biến động thị trường kinh tế khu vực, đất nước và trên thế

giới... Tăng cường khả năng tiếp cận thơng tin chính là đã đem lại một lợi thế

cực lớn cho doanh nghiệp trong hoạch định các chiến lược, xây dựng kế

hoạch sản xuất kinh doanh.

Vì vậy, nếu biết sử dụng tốt về thông tin các doanh nghiệp sẽ thu nhập

được những thông tin phong phú về kinh tế - thương mai (thông tin thị

trường); giảm chi phí cho sản xuất; giảm thấp chi phí bán hàng và chi phí tiếp

thị; tạo điều kiện cho thiết lập và củng cố mối quan hệ với bạn hàng.

1.4. KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở MỘT SỐ

ĐỊA PHƯƠNG

Tỉnh Bình Dương

Tỉnh đã tạo ra mơi trường đầu tư thuận lợi cho các nhà đầu tư thông

qua việc đáp ứng tốt các dịch vụ cần thiết như cấp điện, nước, giao thông, liên

lạc, khách sạn, bệnh viện, trường học, nhà ở... Cải cách hành chính thuận lợi



33



cho các nhà đầu tư như trong thoả thuận địa điểm cấp đất, đền bù giải toả, cấp

giấy phép xây dựng một cách nhanh chóng cho doanh nghiệp, thực hiện

khuyến khích đầu tư cho các đối tượng theo phương châm - trải thảm đỏ mời

doanh nghiệp đầu tư.

Tỉnh Quảng Nam

Tiêu biểu về môi trường đầu tư hấp dẫn của tỉnh Quảng Nam là xây

dựng khu kinh tế mở Chu Lai có khu phi thuế quan gắn với khu vực cảng tự

do thuộc cảng Kỳ Hà. Đây thực sự là khu thương mại tự do, các hoạt động

xuất nhập khẩu, đóng gói, vận chuyển, phân phối, bưu chính viễn thơng, tài

chính ngân hàng... của khu vực này với nước ngoài được coi là quan hệ trao

đổi giữa nước ngoài với nước ngoài.

Sau một năm tuyên bố thành lập khu kinh tế mở Chu Lai đã có hơn 100

dự án đăng ký đầu tư, trong đó có 74 dự án trong nước với tổng vốn 283,905

triệu USD và 26 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn 718 triệu USD [10,2].

Thành phố Hồ Chí Minh

Thủ tục đăng ký kinh doanh (ĐKKD) được đơn giản, ĐKKD được tiến

hành qua mạng internet và đầu mối đăng ký duy nhất là Sở kế hoạch và đầu

tư.

Đối thoại chính quyền và doanh nghiệp qua mạng internet ở thành phố

Hồ Chí Minh. Hệ thống đối thoại được UBND thành phố xây dựng nhằm mục

đích giải quyết nhanh các khó khăn liên quan đến các hoạt động quản lý nhà

nước mà doanh nghiệp gặp phải trong quá trình hoạt động sản xuất kinh

doanh.Trong đó Trung tâm xúc tiến thương mại và đầu tư thành phố Hồ Chí

Minh giữ vai trò điều phối, giám sát. Thời hạn tối đa mà các cơ quan phải trả

lời các vướng mắc của doanh nghiệp chỉ được qui định không quá 5 ngày.



CHƯƠNG 2



34



THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN

TẠI TỈNH KON TUM

2.1. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA TỈNH KON

TUM ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN

2.1.1. Đặc điểm tự nhiên

Vị trí địa lý: Kon Tum là tỉnh miền núi vùng cao, biên giới, nằm ở phía

bắc Tây Ngun. Kon Tum có diện tích tự nhiên 9.676,5 km 2, chiếm 3,1%

diện tích tồn quốc, phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam; phía nam giáp tỉnh Gia

Lai, phía đơng giáp Quảng Ngãi, phía tây giáp hai nước Lào và Campuchia.

Địa hình: phần lớn tỉnh Kon Tum nằm ở phía tây dãy Trường Sơn, địa

hình thấp dần từ bắc xuống nam và từ đơng sang tây. Địa hình của tỉnh Kon

Tum khá đa dạng: đồi núi, cao nguyên và vùng trũng xen kẽ nhau.

Khí hậu: Kon Tum thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cao ngun.

Nhiệt độ trung bình trong năm dao động trong khoảng 22 - 23 0C, biên độ

nhiệt độ dao động trong ngày 8 - 90C.

Kon Tum có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa chủ yếu bắt đầu từ tháng 4 đến

tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau. Hàng năm, lượng mưa

trung bình khoảng 2.121 mm, lượng mưa năm cao nhất 2.260 mm, năm thấp

nhất 1.234 mm [9,2].

Khoáng sản: Kon Tum nằm trên khối nâng Kon Tum, vì vậy rất đa

dạng về cấu trúc địa chất và khoáng sản. Trên địa bàn có các loại hình khống

sản như: sắt, crôm, vàng, nguyên liệu chịu lửa, đá quý, bán quý, kim loại

phóng xạ, đất hiếm, nguyên liệu phục vụ sản xuất vật liệu xây dựng.

Tài nguyên nước:

Nguồn nước mặt: chủ yếu là sơng, suối bắt nguồn từ phía bắc và đơng

bắc của tỉnh Kon Tum, thường có lòng dốc, thung lũng hẹp, nước chảy xiết.



35



Nhìn chung, chất lượng nước, thế năng,... của nguồn nước mặt thuận

lợi cho việc xây dựng các cơng trình thủy điện, thủy lợi và tạo điều kiện thuận

lợi cho kinh tế tư nhân phát triển các ngành trên.

Rừng và tài nguyên rừng:

* Rừng: đến năm 2008, diện tích đất lâm nghiệp của Kon Tum là

660.341 ha, chiếm 68,14% diện tích tự nhiên.

* Tài nguyên rừng: theo kết quả điều tra bước đầu, tỉnh Kon Tum có

khoảng hơn 300 loài, thuộc hơn 180 chi và 75 họ thực vật có hoa. Trong đó,

các họ nhiều nhất là họ đậu, họ dầu, họ long não, họ thầu dầu, họ trinh nữ, họ

đào lộn hột, họ xoan và họ trám. Kon Tum vẫn là tỉnh có nhiều rừng gỗ quý

và có giá trị kinh tế cao.

Tài nguyên đất đai: đến năm 2009 tỉnh Kon Tum vẫn còn nhiều diện

tích đất chưa sử dụng; vấn đề này được thể hiện qua bảng 2.1

Bảng 2.1. Tình hình sử dụng đất năm 2009 của tỉnh Kon Tum

STT Chỉ tiêu

Tổng số ( Ha)

Cơ cấu ( %)

I

Tổng số

969.046

100

1 Đất nông nghiệp đã sử dụng

827.043

85.35

Đất sản xuất nông nghiệp

144.052

14.87

2

Đất phi nông nghiệp đã sử dụng

35.075

3.62

Đất ở

5.275

0.54

Đất sản xuất chuyên dùng

16.047

1.66

3 Đất chưa sử dụng

106.928

11.03

Đất bằng chưa sử dụng

389

0.04

Đất đồi núi chưa sử dụng

106.536

10.98

Núi đá không có rừng cây

3

0.01

Nguồn: Theo số liệu của Cục thống kê tỉnh Kon Tum

Qua bảng 2.1 cho thấy đất đồi núi chưa sử dụng còn 106.536 ha chiếm

10.98% diện tích của tỉnh là tiềm năng lớn cho kinh tế tư nhân phát triển các

ngành nông, lâm, thuỷ sản.



36



Là một tỉnh nằm ở Tây nguyên với khí hậu 2 mùa rõ rệt, nắng ẩm, mưa

nhiều, tài ngun khống sản phong phú có điều kiện để doanh nghiệp của

khu vực kinh tế tư nhân phát triển ngành công nghiệp khai thác và chế biến

khoáng sản kim loại và phi kim loại, ngành dịch vụ.

Ngoài ra, tài nguyên rừng đa dạng phong phú, nhiều chủng loại gỗ và

động vật quí, là thế mạnh của tỉnh Kon Tum để phát triển ngành nông lâm

nghiệp, thủy sản và thương mại dịch vụ nói chung cũng như doanh nghiệp

thuộc kinh tế tư nhân nói riêng.

2.1.2. Đặc điểm xã hội

Đặc điểm dân số: Tính đến 0 giờ ngày 01/04/2009 dân số tỉnh Kon

Tum có 430.133 người [3,22].

Dân số tỉnh Kon Tum có dân số ít thứ 3 cả nước chỉ hơn 2 tỉnh Bắc Kạn

293.826 người; và Lai Châu 370.502 người.

Mật độ dân số 44 người / km2 năm 2009, kon Tum là tỉnh có mật độ

dân số thấp thứ 2 cả nước chỉ hơn tỉnh lai châu 41 người/km2.

Trên địa bàn tỉnh kon tum có 43 dân tộc sinh sống trong đó người kinh

201.153 , người xơ đăng 104.759; Giẻ triêng 31.644; ba na: 53.997; Ra giai:

20.606; hre: 1547; mường: 5386; Thái: 4249; Tày 2630. Dân số nông thôn

285.967 người chiếm 66 % dân số.

Dân số là người đồng bào trong tổng dân số chiếm tỷ lệ lớn, mật độ dân

số thấp ảnh hưởng phát triển kinh tế tư nhân theo hướng công nghiệp và hiện

đại.

Đặc điểm về lao động: Dân số trong độ tuổi lao động có việc làm 239

ngàn người và chủ yếu là lao động trong ngành nông lâm thuỷ sản 73%, công

nghiệp và xây dựng 7,8%, dịch vụ 19,2%.

Trong tổng số 239 ngàn người trong độ tuổi lao động chỉ có 31, 5 ngàn

người qua đào tạo ( đến năm 2009) chiếm tỷ lệ 13,1% thấp hơn so toàn quốc



37



là 1,8 % và cao hơn vùng cao nguyên là 2,1%. Như vậy chất lượng nguồn lao

động tại tỉnh Kon Tum còn thấp [3,91].

Lao động trong loại hình kinh tế tư nhân chỉ chiếm 2,1%, loại hình kinh

tế Nhà nước chiếm 13% khoảng 30.000 lao động. Điều này thể hiện tình trạng

phát triển thấp của thị trường lao động.

Qua số liệu trên cho thấy, lao động chủ yếu tay nghề thấp số lượng lao

động làm việc trong doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân còn thấp,

ảnh hưởng nguồn lao động có chất lượng cho phát triển kinh tế tư nhân.

Ngoài ra, về phong tục tập quán người đồng bào một số phong tục còn

lạc hậu do đó thật khó để đẩy mạnh sản xuất theo hướng công nghiệp hiện đại

và phát triển dịch vụ nhằm phát triển kinh tế nói chung và phát triển kinh tế tư

nhân nói riêng.

2.1.3. Đặc điểm kinh tế

Tính bình qn giai đoạn 2005 – 2009, kinh tế tăng trưởng với tốc độ

14,51%. Đây là mức tăng trưởng cao so với khu vực Tây Nguyên và cả nước

[11,28]. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tăng dần tỷ trọng công

nghiệp - xây dựng, dịch vụ và giảm dần tỷ trọng nông lâm nghiệp.Năm 1992,

tỷ trọng nông - lâm nghiệp trong GDP là 67,3%; công nghiệp - xây dựng

7,4%; thương mại - dịch vụ 25,3% . Nhưng đến năm 2009, tỷ trọng nông lâm nghiệp trong GDP giảm còn 44, 41%; cơng nghiệp - xây dựng tăng lên

21,48%; thương mại-dịch vụ lên 34,11%, vấn đề trên được thể hiện qua bảng

2.2

Bảng 2.2. Một số chỉ tiêu kinh tế tỉnh Kon Tum giai đoạn 2005- 2009

STT Chỉ tiêu

1



Tổng số



ĐVT



Tỷ đ



2005



2.

514



2006



2.9

50



Năm

2007



3.5

50



Tăng BQ

2008



3.9

97



2009



(%)



4.5

87



116,22



38



Nông

LN- thuỷ

2



Tỷ đ



sản

Cơ cấu



%



1.0

928



51



3

6,89



107



35,

63



Công

nghiệp3



Tỷ đ



xây dựng



910



6,19



37,

70



4



Tỷ đ



vụ

Cơ cấu



%



1.



61



87



2



26,



40,



1.



107,93



27,



1.9

82



121,49



43,

21



1.

144



28,



58



1.



78



001



1.2



43



630



40,



7

677



30,

59



441



Thương

mại dịch



19



12



1.

223



31,



1.1



3



Cơ cấu



1.



28,



1.3

47



118,77



29,



6,92



66



20



63



36



108,8



113,79



115,4



115,23



113,36



4



5.7



9.



11.2



Tốc độ

5



tăng

trưởng

kinh tế

GDP BQ



6



đầu

người



%



Nghìn

VNĐ



.735



86



7.

394



949



61



124,18



Nguồn: Theo số liệu của Cục thống kê tỉnh Kon Tum

Qua bảng 2.2 cho ta thấy thu nhập bình quân đầu người năm 2005 là:

4,735 triệu đồng và đến năm 2009 là: 11,261 triệu đồng. Như vậy thu nhập

bình quân đầu người tăng bình quân 24,18% năm là tốc độ tăng khá nhanh.

Tuy nhiên trong thời gian qua tỉnh Kon Tum chưa có chính sách gì để

khuyến khích kinh tế tư nhân. Nguyên nhân của vấn đề này chủ yếu là một

trong những tỉnh nghèo của cả nước. Chính quyền các cấp đã nổ lực tìm ra

nhiều biện pháp, nhưng chưa tìm ra biện pháp gì thật hữu hiệu và ưu thế gì để



39



để khuyến khích thật thích đáng cho kinh tế tư nhân phát triển mạnh và có

những đột phá.

2.2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở TỈNH

KON TUM

2.2.1. Thực trạng về số lượng các doanh nghiệp

a. Số lượng doanh nghiệp

Số lượng doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tư nhân qua các năm đều

tăng. Trong giai đoạn từ năm 2005 - 2009 số doanh nghiệp đăng ký thuế tăng

bình quân 32,16% một năm; vấn đề trên được thể hiện tại bảng 2.3

Bảng 2.3. Số lượng các doanh nghiệp giai đoạn 2005-2009

Loại hình DN



Tăng BQ



2005



2006



2007



2008



2009



313



411



586



756



955



32,16



- Công ty TNHH



122



169



263



363



470



40,10



- Công ty cổ phần



31



46



77



109



143



46,55



- DNTN



160



196



246



284



342



20,91



Tổng số doanh nghiệp



( %)



Trong đó:



Nguồn: Theo số liệu của Cục thuế tỉnh Kon Tum

Qua bảng 2.3 cho thấy về số lượng doanh nghiệp, loại hình cơng ty

TNHH chiếm đa số, kế đến là loại hình doanh nghiệp tư nhân. Tuy nhiên

trong giai đoạn 2005-2009 loại hình cơng ty cổ phần có tốc độ tăng nhanh

nhất, đạt tốc độ tăng bình quân hàng năm 46,55% một năm là giai đoạn cổ

phần hóa doanh nghiệp Nhà nước chuyển sang công ty cổ phần.

b. Phân bố các doanh nghiệp theo địa bàn

Trên địa bàn tỉnh Kon Tum thấy về mặt số lượng doanh nghiệp thuộc

khu vực tư nhân tỉnh kon tum có tốc độ tăng về số lượng cao nhưng số lượng

doanh nghiệp quá ít; Vấn đề trên được thể hiện qua bảng 2.4.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

a. Các chính sách Nhà nước

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×