Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phát triển thị trường là các doanh nghiệp tìm cách gia tăng sản phẩm trên thị trường và đưa ra các sản phẩm vào thị trường mới. Làm cho thị phần, khách hàng của sản phẩm ngày càng tăng.

Phát triển thị trường là các doanh nghiệp tìm cách gia tăng sản phẩm trên thị trường và đưa ra các sản phẩm vào thị trường mới. Làm cho thị phần, khách hàng của sản phẩm ngày càng tăng.

Tải bản đầy đủ - 0trang

18



- Tỷ lệ doanh nghiệp tham gia thị trường tiêu thụ trong tỉnh, ngoài tỉnh,

nhập khẩu, tiêu thụ sản phẩm tự sản xuất ra;

- Tỷ lệ doanh nghiệp có sử dụng môi giới trong xuất nhập khẩu.

Việc doanh nghiệp của khu vực kinh tế tư nhân ngày càng chiếm lĩnh

được thị trường và có thị phần ngày càng lớn cũng chứng tỏ sự phát triển của

khu vực kinh tế tư nhân.

Để phát triển thị trường, Nhà nước phải cung cấp thông tin và tạo điều

kiện cho các doanh nghiệp tiếp xúc với thị trường. Các doanh nghiệp thuộc tư

nhân rất cần sự hỗ trợ của Nhà nước về các mặt như tìm kiếm thị trường và

nhất là tìm một mơi trường xã hội.

1.2.4. Liên kết doanh nghiệp

Liên kết doanh nghiệp là làm cho sự kết hợp giữa các doanh nghiệp

được diễn ra chặt chẽ, thường xuyên, rộng lớn hơn.

Hình thành các chuỗi liên kết dọc

Là mối liên hệ liên kết giữa các khâu, các công đoạn: khai thác, chế tạo,

lắp ráp, phân phối trong cùng một ngành. Có thể thấy ở khu vực kinh tế tư

nhân nước tra nói chung mối liên hệ này hoặc chưa được hình thành hoặc hết

sức lỏng lẻo. Hầu hết các cơ sở chỉ đơn độc đảm nhận một khâu trong quá

trình, lại là khâu kém hiệu quả nhất ( khai thác, sơ chế tài nguyên; nuôi trồng,

sơ chế nông lâm, thủy sản; gia công may mặc, giày da ; lắp ráp cơ khí, điện

tử, bán lẻ ...). Các khâu này mang lại giá trị gia tăng thấp với chi phí đầu vào

cao và giá bán thấp. Năng lực thương lượng kém so với người mua ( nguyên

liệu hoặc nguyên liệu qua sơ chế ), so với người bán ( vải sợi, da giày, linh

kiện, phụ tùng, thành phẩm..) làm cho các cơ sở càng chịu nhiều áp lực và sự

thua thiệt. Tham gia hình thành các mối liên hệ liên kết dọc trong ngành giúp

tháo gỡ phần nào khó khăn này [ 24, 22].



19



Các cơ sở hoạt động trong công đoạn khai thác, sơ chế nguyên liệu

(vật liệu xây dựng, nông lâm thủy sản, khoáng sản ...) cần tăng cường các nỗ

lực liên kết dọc thuận chiều. Đó là việc liên kết vối các cơ sở chế biến có trình

độ cơng nghệ cao trong địa phương (và có thể trong nước ), có thể đóng vai

trò là một cổ đơng, hoặc là nhà cung cấp tin cậy cho các cơ sở đó. Giá trị gia

tăng lớn thu được từ hoạt động chế biến công nghệ cao có thể được chia sẻ.

Các cơ sở hoạt động trong cơng đoạn lắp ráp có thể tham gia hình thành

mối quan hệ liên kết dọc về hai phía (cung cấp và tiêu thụ ). Trong điều kiện ở

địa phương và trong nước, khi mà các ngành công nghiệp hỗ trợ chưa phát

triển thì đây là khó khăn rất lớn nếu muốn tham gia vào hướng cung cấp. Dù

vậy, chủ động tự chế tạo một số yếu tố đầu vào trong nhiều yếu tố, tăng cường

mối quan hệ thêm chặc chẽ với các nhà chế tạo trong nước và địa phương là

hết sức cần thiết. Điều này cũng là gợi ý cho khu vực kinh tế tư nhân định

hướng đầu tư vào các lĩnh vực mà các ngành công nghiệp hỗ trợ sẽ phát triển

trong tương lai. Về phía tiêu thụ sản phẩm, các sơ sở có thể tự tổ chức hệ

thống phân phối của mình hoặc liên kết chặt chẽ với các nhà phân phối để

tăng thêm tính chủ động và tìm kiếm thêm lợi nhuận. Với các cơ sở xuất

khẩu, việc chủ động nghiên cứu thị trường, tìm kiếm khách hàng để bán hàng

trực tiếp khơng qua trung gian cần được chú trọng với những cách thức phù

hợp với điều kiện của mình. Trong điều kiện nguồn lực hạn hẹp thì khai thác

những tiện ích từ Internet là biện pháp hợp lý.

Hình thành mối quan hệ liên kết ngang

Liên kết ngang là liên kết giữa các doanh nghiệp cùng loại. Sự liên kết

này có thể giúp các cơ sơ kinh tế tư nhân có tiếng nói chung và có năng lực

thương lượng mạnh hơn trước. Việc thống nhất phân định khối lượng và địa

bàn hoạt động làm giảm thiểu tình trạng tranh mua, tranh bán mạnh. Kinh tế

tư nhân có năng lực thương lượng yếu. Nhiều cơ sở tranh mua nguyên liệu



20



đẩy chi phí đầu vào tăng cao. Hiện tượng tranh bán làm sụt giảm giá cả và

doanh thu. Tất cả đều ảnh hưởng xấu đến khả năng thu lợi nhuận - cơ sở

quyết định sự tồn tại và phát triển. Tham gia hình thành các mối quan hệ liên

kết ngang có thể khắc phục nhược điểm này.

Liên kết ngang có thể làm cho nhiều cơ sở nhỏ như là một cơ sở lớn và

làm xuất hiện lợi thế theo quy mơ (tiết kiệm chi phí đặt hàng, vận chuyển,

marketing...). Liên kết ngang còn giúp các cơ sở chia sẻ kinh nghiệm, thông

tin và các yếu tố nguồn lực khác.

Đối với kinh tế cá thể nông, lâm, thủy sản, tiểu thủ cơng nghiệp: cần

tham gia hoặc hình thành các hình thức kinh tế hợp tác : hợp tác xã, tổ hợp

tác hoặc lỏng lẻo hơn là các câu lạc bộ, nhóm, hội theo đối tượng sản xuất tại

địa phương. Các tổ chức này sẽ là người đại diện cho các cơ sở trong các giao

dịch mua bán; là cầu nối cung cấp thông tin, chuyển giao công nghệ; là trung

tâm điều phối, chia sẻ nguồn lực.

Đối với các doanh nghiệp và ở các lĩnh vực khác: Thành lập và tham

gia vào các hiệp hội ngành nghề một cách thực chất là thực hiện liên kết

ngang phù hợp. Các hiệp hội ngành nghề là các tổ chức nghề nghiệp cần được

kiện toàn theo hướng tăng cường năng lực, tính chun nghiệp, chun mơn,

tính thiết thực và hiệu quả. Ngồi việc tun truyền, giáo dục văn hóa kinh

doanh, ý thức chấp hành luật pháp và trách nhiêm cộng đồng cũng như thực

hiện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên, các hiệp hội cũng

cần xây dựng chiến lược, kế hoạch và nội dung hoạt động hướng vào việc hỗ

trợ, nâng cao lợi thế cạnh tranh của các hội viên.

Cần nâng cao chất lượng cung cấp thơng tin khơng chỉ là thơng tin thị

trường mà còn là thông tin môi trường kinh doanh, không chỉ là thơng tin

trong hiện tại mà còn dự báo các xu hướng. Hiệp hội phải là nơi để các thành

viên tìm kiếm các cơ hội kinh doanh và chia sẻ kinh nghiệm. Hiệp hội phải là



21



người đại diện, giúp các thành viên nâng cao năng lực thương lượng trước các

áp lực của các đối tác.

Các cơ sở kinh tế tư nhân cũng cần nhận thấy điểm yếu của mình so với

các khu vực kinh tế khác và các địa phương khác, từ đó thấy được vai trò

quan trọng của các hiệp hội ngành nghề. Ngồi việc tự nguyện gia nhập, nhiệt

tình đóng góp xây dựng, kiện tồn hiệp hội còn là thái độ đúng mực về cạnh

tranh và hợp tác với các cơ sở khác trong cùng hiệp hội. Cùng hoạt động

trong một ngành, trên cùng một địa bàn các cơ sở trong hiệp hội cạnh tranh

lẫn nhau trong sử dụng nguyên liệu, nhân công trong thu hút khách hàng. Tuy

nhiên ở khía cạnh khác, cần thấy được sức mạnh của việc hợp tác trong việc

tạo lợi thế trước áp lực cạnh tranh, đặc biệt là áp lực từ bên ngoài địa bàn, bên

ngoài khu vực trong nền kinh tế hội nhập. Có như thế thì mối quan hệ giữa

các thành viên mới thật sự mang tính liên kết và tạo nên sức mạnh.

Vì sao phải liên kết giữa các doanh nghiệp, vì mỗi doanh nghiệp có một

thế mạnh có một lợi thế nhất định do đó liên kết tạo ra sức mạnh tổng hợp.

Mỗi doanh nghiệp lại có sở trường do đó liên kết khai thác hết thế mạnh của

từng doanh nghiệp. Ngồi ra doanh nghiệp tư nhân thường có qui mơ nhỏ do

đó liên kết doanh nghiệp tạo ra doanh nghiệp có qui mơ lớn, vốn lớn tạo ra

sức cạnh tranh lớn hơn.

Để phản ánh về liên kết của doanh nghiệp kinh tế tư nhân, người ta có

thể dùng một số tiêu chí phản ánh:

- Tỷ lệ liên kết giữa các doanh nghiệp có cùng chức năng;

- Tỷ lệ liên kết giữa các doanh nghiệp trong chuỗi sản xuất.

Để tăng cường liên kết, các doanh nghiệp có thể tham gia các hiệp hội

nhằm mở rộng nắm bắt thông tin qua đó thuận lợi cho việc tăng cường các

liên kết.



22



1.2.5. Kết quả và hiệu quả sản xuất

Một yếu tố quan trọng đánh giá sự phát triển của khu vực kinh tế tư

nhân đó là sự đóng góp với phát triển kinh tế xã hội biểu hiện qua các tiêu chí

cơ bản sau:

a. Sản phẩm, sản phẩm hàng hóa

Sản phẩm là tổng hợp các đặc tính vật lý học, hố học, sinh học... có

thể quan sát được, dùng thoả mãn những nhu cầu cụ thể của sản xuất hoặc đời

sống [32,1].

Hàng hóa là một trong những phạm trù cơ bản của kinh tế chính trị.

Theo nghĩa hẹp, hàng hóa là vật chất tồn tại có hình dạng xác định trong

khơng gian và có thể trao đổi, mua bán được. Theo nghĩa rộng, hàng hóa là tất

cả những gì có thể trao đổi, mua bán được [32,2].

Để phản ánh sản phẩm hàng hố của doanh nghiệp người ta có thể dùng

tiêu chí đánh giá: sản phẩm chủ yếu

Để nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ doanh nghiệp có thể thực

hiện các hình thức sau:

- Phát triển sản phẩm, dịch vụ mới hoàn toàn;

- Cải tiến, hoàn thiện sản phẩm, dịch vụ, thay thế sản phẩm, dịch vụ

hiện có;

- Thõa mãn khách hàng: phát triển sản phẩm, dịch vụ doanh nghiệp cần

chú ý đến nhu cầu của khách hàng cũng như sự tiện ích và giá cả hợp lý nhằm

thõa mãn nhu cầu của khách hàng mới được xem là sản phẩm, dịch vụ có chất

lượng và hiệu quả.

b. Giá trị tổng sản lượng

Tổng sản lượng là mức sản lượng được sản xuất ra từ các mức khác

nhau của môt yếu tố đầu vào kết hợp với các mức cố định của các yếu tố

khác. Khái niệm tổng sản lượng khái niệm là khởi đầu để tính tốn nhiều chỉ



23



tiêu kinh tế, kinh doanh, nhất là phân tích ngắn hạn. Khi xem xét các nhân tố

tác động đến tổng sản lượng, nhà quản lý có thể đi đến quyết định dịch

chuyển nhân tố nào để tối ưu hóa q trình sản xuất [32,1].

Vậy giá trị sản lượng là gì: có thể coi giá trị sản lượng là năng lực sản

xuất của doanh nghiệp trong 1 thời gian nhất định, ví dụ là 1 năm, được quy

đổi thành tiền (đối với từng doanh nghiệp) [32,2].

Để đánh giá được giá trị tổng sản lượng mà tất cả các doanh nghiệp của

kinh tế tư nhân làm ra trong năm hoặc thời kỳ trên góc độ doanh nghiệp của

khu vực kinh tế tư nhân, người ta có thể dùng tiêu chí đánh giá:

- Tổng sản phẩm của doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn tỉnh.

c. Doanh thu thuần của doanh nghiệp

Doanh thu thuần của doanh nghiệp là tổng thu nhập của doanh nghiệp

do tiêu thụ sản phẩm, hàng hố, cung cấp dịch vụ ra bên ngồi sau khi trừ các

khoản thuế ( thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế XNK, thuế GTGT theo phương pháp

trực tiếp phải nộp).

Doanh thu thuần của doanh nghiệp tăng lên cho thấy phần nào biểu

hiện sự tăng trưởng của doanh nghiệp.

Để phản ánh doanh thu thuần của doanh nghiệp người ta có thể dùng

tiêu chí đánh giá: Doanh thu thuần bình qn 1 doanh nghiệp.

d. Lợi nhuận của doanh nghiệp

Lợi nhuận của DN là số chênh lệch giữa doanh thu với giá trị vốn của

hàng bán, chi phí lưu thơng, chi phí quản lý.

Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh kết quả tài chính

cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh của DN. Lợi nhuận là nguồn

vốn cơ bản để tái đầu tư trong phạm vi DN và trong nền kinh tế quốc dân. Lợi

nhuận là đòn bẩy tài chính hữu hiệu thúc đẩy mọi hoạt động sản xuất kinh

doanh của DN.



24



Để phản ánh lợi nhuận của doanh nghiệp người ta có thể dùng tiêu chí

đánh giá : Lợi nhuận sau thuế bình quân của 1 doanh nghiệp.

e. Hiệu quả sử dụng vốn doanh nghiệp

Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu được tính bằng cách lấy lãi ròng sau

thuế chia cho tổng giá trị vốn chủ sở hữu dựa vào bảng cân đối tài sản cuối

kỳ.

Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu là thước đo tốt nhất về năng lực của một

công ty trong việc tối đa hóa lợi nhuận từ mỗi đồng vốn đầu tư. Cơng ty đạt

được lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu càng cao thì khả năng cạnh tranh càng

mạnh, do đó lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu sẽ giúp nhà đầu tư đánh giá các

công ty trong cùng ngành nghề để ra quyết định lựa chọn đầu tư.

Có thể nói, bên cạnh các chỉ số tài chính khác thì lợi nhuận trên vốn

chủ sở hữu là thước đo chính xác nhất để đánh giá một đồng vốn bỏ ra và tích

lũy được tạo ra bao nhiêu đồng lời. Đây cũng là chỉ số đáng tin cậy về khả

năng sinh lời của công ty trong tương lai.

Thông thường, lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu > 20% được coi là hợp

lý.

Để phản ánh tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp người ta có thể dùng

tiêu chí đánh giá: Lợi nḥn trên vốn chủ sở hữu bình quân 1 doanh nghiệp.

g. Thu nhập bình quân của người lao động

Thu nhập của người lao động là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao

động mà người lao động đã bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh và được

thanh tốn theo kết quả cuối cùng. Tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu của

người lao động, vừa là một yếu tố chi phí cấu thành nên giá trị các loại sản

phẩm, lao vụ, dịch vụ. Do đo việc thu nhập ngày càng tăng biểu hiện cho sự

phát triển của doanh nghiệp.



25



Để phản ánh tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp người ta có thể dùng

tiêu chí đánh giá: Tiền lương 1 tháng bình quân 1 lao động.

h. Nộp ngân sách Nhà nước

Nộp ngân sách nhà nước gồm toàn bộ các nguồn thu đã nộp vào ngân

sách Nhà Nước từ các đơn vị sản xuất kinh doanh[11,29].

Các khoản thu do kết quả của phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm

xã hội và thu nhập quốc dân được tập trung vào ngân sách để nhà nước chi

dùng vào việc duy trì bộ máy và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình.

Thu ngân sách của Nhà nước Việt Nam gồm thu trong nước và thu viện trợ

nước ngoài. Thu trong nước gồm: thu thuế và phí, thu khác. Thu thuế và phí có:

thu từ kinh tế quốc doanh, thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngồi, thuế cơng

thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh, thuế sử dụng đất, thuế xuất nhập

khẩu, thuế nhà đất, thuế thu nhập, phí giao thơng, phí và các loại lệ phí khác.

Thực hiện nghĩa vụ ngân sách nhà nước ngày càng tăng của các doanh

nghiệp thuộc bộ phận kinh tế tư nhân cũng thể hiện sự phát triển của các

doanh nghiệp khu vực này, ngoài ra đó còn là nghĩa vụ của khu vực này đối

với nền kinh tế.

Để phản ánh thu NSNN của doanh nghiệp người ta có thể dùng tiêu chí

đánh giá: Nộp NSNN doanh nghiệp

Để tăng thu ngân sách Nhà nước ngoài việc thực hiện tốt chính sách

Thuế của Nhà nước qui định, đồng thời giảm thời gian khai thuế làm thủ tục

thuế cho các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân. Ngồi ra thực hiện

chính sách thuế còn phải ra sự công bằng và tạo điều kiện cho các doanh

nghiệp hoạt động bình thường và ngày càng phát triển.



26



k. Hiệu quả kinh tế

Ở mỗi góc độ khác nhau, mỗi quan điểm có cách nhìn nhận về hiệu quả

kinh tế khác nhau. Hiện nay có khá nhiều quan điểm khác nhau bàn về hiệu

quả kinh tế, sau đây chúng ta sẽ xem xét hai hệ thống quan điểm:

Hệ thống quan điểm thứ nhất

Để hiểu được phạm trù hiệu quả kinh tế, chúng ta cần xem xét khái

niệm về phạm trù hiệu quả. Phạm trù hiệu quả đã hình thành nên nhiều quan

điểm và khái niệm khác nhau:

- Hiệu quả kinh tế: là phạm trù đề cập đến kết quả mà các doanh nghiệp

đạt được và toàn bộ các khoản chi phí phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp.

khi mà tỷ lệ giữa kết quả trên chi phí càng lớn, chứng tỏ doanh nghiệp làm ăn

càng đạt hiệu quả và ngược lại…

- Hiệu quả xã hội thể hiện mối tương quan so sánh giữa tồn bộ lợi ích

mà xã hội đạt được với tồn bộ chi chi phí mà xã hội bỏ ra.

- Hiệu quả kinh tế - xã hội: là phạm trù thể hiện mối tương quan so

sánh giữa chi phí bỏ ra và kết quả thu được cả về mặt kinh tế và xã hội.

Tóm lại, bản thân của hiệu quả kinh tế là so sánh giữa lợi ích đạt được

với chi phí bỏ ra, và trong sản xuất người ta ln mong muốn tỷ lệ giữa lợi

ích trên chi phí là lớn nhất.

Hệ thống quan điểm thứ hai

Về hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp đã được

nhiều nhà kinh tế học phân biệt ba khái niệm sau:

- Hiệu quả kỹ thuật (TE): là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên

một đơn vị chi phí đầu vào hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất trong những

điều kiện cụ thể về kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào sản xuất nông nghiệp.



27



- Hiệu quả phân bổ (AE): là chỉ tiêu hiệu quả trong các yếu tố giá sản

phẩm và giá đầu vào được đưa vào tính tốn, để phản ánh giá trị sản phẩm thu

thêm trên một đồng chi phí chi thêm về đầu vào hay nguồn lực.

- Hiệu quả kinh tế (EE): là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả

hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ.

EE = TE x AE (Với 0≤TE, AE, EE≤1) [30]

* Phương pháp xác định hiệu quả kinh tế

- Phương pháp thứ nhất: Hiệu quả kinh tế được tính bằng tỷ lệ giữa kết

quả thu được với toàn bộ chi phí bỏ ra.

EE = Q/C

EE: Hiệu quả kinh tế; Q: Các kết quả thu được ;C: Tồn bộ chi

phí bỏ ra

- Phương pháp thứ hai: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng mối quan

hệ tỷ lệ giữa kết quả tăng thêm với chi phí tăng thêm để đạt kết quả tăng thêm

đó, có nghĩa là nếu tăng thêm một đơn vị chi phí sẽ tăng thêm bao nhiêu đơn

vị kết quả thu được.

EE = ∆Q/∆C

EE: Hiệu quả kinh tế;

∆Q: Kết quả tăng thêm;

∆C: Chi phí tăng thêm.

- Phương pháp thứ 3: Hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số giữa

phần trăm tăng lên của kết quả thu được và phần trăm tăng lên của chi phí bỏ

ra, có nghĩa là nếu tăng thêm 1% chi phí thì sẽ tăng thêm bao nhiêu (%) kết

quả đầu ra.

%∆Q

EE =

%∆C



28



EE: Hiệu quả kinh tế; %∆Q: Phần trăm kết quả tăng thêm;

%∆C: Phầm trăm chi phí tăng thêm

1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ

TƯ NHÂN

Khu vực kinh tế tư nhân chỉ có thể tồn tại và phát triển khi có mơi

trường kinh doanh thích hợp. Một số nhân tố của môi trường kinh doanh ảnh

hưởng đến sự phát triển của từng doanh nghiệp nói riêng và khu vực kinh tế

tư nhân nói chung:

1.3.1. Về điều kiện tự nhiên

Những thuận lợi về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên đem lại lợi thế so

sánh không nhỏ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Việc

tận dụng tốt vị trí, điều kiện tự nhiên sẽ giúp doanh nghiệp giảm chi phí đầu

vào, đầu ra, chi phí sản xuất kinh doanh,... nâng cao năng lực cạnh tranh.

Ngày nay, vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên tuy khơng còn đóng vai trò quyết

định đối với sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân nhưng vẫn còn đóng

một vai trò hết sức quan trọng.

1.3.2 Về điều kiện xã hội

Nhóm nhân tố xã hội bao gồm dân số và tập quán, truyền thống, lao

động và trình độ lao động. Đây cũng là một trong những yếu tố quan trọng

của đầu vào ( nguồn nhân lực), thị trường tiêu thụ cũng như quyết định ngành

nghề trong sản xuất kinh doanh. Dân số càng đơng thì thị trường tiêu thụ càng

rộng lớn, thị trường lao động cũng phát triển về số lượng và ngày càng nâng

cao chất lượng.

1.3.3 Về điều kiện kinh tế

a. Các chính sách Nhà nước

Các chính sách của Nhà nước, các cấp chính quyền tác động tới các

đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc khu vực kinh tế tư nhân. Các doanh nghiệp



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phát triển thị trường là các doanh nghiệp tìm cách gia tăng sản phẩm trên thị trường và đưa ra các sản phẩm vào thị trường mới. Làm cho thị phần, khách hàng của sản phẩm ngày càng tăng.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×