Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
a. Giải pháp về thị trường và tiêu thụ sản phẩm

a. Giải pháp về thị trường và tiêu thụ sản phẩm

Tải bản đầy đủ - 0trang

77



Làng nghề nên nhắm vào sản xuất sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường bậc

trung.

- Tìm hiểu, kiếm thơng tin về các nhà phân phối và thiết lập quan hệ

với những nhà phân phối, nhà buôn sĩ, bán lẻ. Để đa dạng kênh phân phối,

thông qua họ nắm bắt được thị hiếu và nhu cầu thị trường. Việc yêu cầu các

cơ quan hỗ trợ xúc tiến thương mại của thành phố, các hiệp hội, các công ty

tư vấn, môi giới, các đơn vị cung cấp dịch vụ hỗ trợ tìm kiếm khách hàng là

hết sức quan trọng vì nhân lực ở làng nghề còn thiếu, yếu, nhất là ngoại ngữ

và thơng tin.

- Đối với thị trường nước ngồi

+ Xây dựng bộ tài liệu sản phẩm (catalogue) và thiết kế, in ấn đẹp hoặc

đóng gói vào CDROM. Hồ sơ làng nghề, sản phẩm cần chú trọng các yếu tố

cần thiết như giới thiệu về lịch sử, quá trình hình thành và phát triển của làng

nghề; đặc điểm cần nhấn mạnh (về văn hoá, truyền thống, chất liệu); giới

thiệu về tổ chức, nhân lực, thiết bị, nhà xưởng… bán sản phẩm gì, sản lượng

hàng tháng, năm, hình ảnh mẫu sản phẩm... sức thuyết phục khách hàng tuỳ

thuộc vào việc LN cung cấp thơng tin chính mình và làm cho người mua thấy

lợi ích của họ trong việc kinh doanh những mặt hàng này. Tuy nhiên cũng cần

cho thấy sự khác biệt của sản phẩm.

+ Lập trang thông tin trên internet (website). Đây là công cụ quan trọng

để cung cấp, cập nhật thông tin, bán hàng rất hiệu quả và tiết kiệm kinh phí in

ấn, cước điện thoại.

+ Áp dụng các kỹ thuật, học các kỹ năng bán hàng hiện đại để từng

bước chun nghiệp hóa cơng tác xúc tiến bán hàng và chinh phục khách

hàng.

+ Xây dựng một phòng trưng bày, giới thiệu sản phẩm chung cho cả

LN (showroom). Sản phẩm trưng bày đều có thuyết minh rõ ràng (tên sản



78



phẩm, chất liệu, cơ sở sản xuất…). Đây vừa là công cụ tiếp thị và cũng là nơi

để bán hàng, giao dịch, ký kết hợp đồng, là điểm tham quan du lịch.

- Đối với thị trường trong nước

+ Xem tổ chức hội chợ làng nghề là hoạt động văn hóa - kinh tế thường

niên. Quảng bá bằng các phương tiện, mọi cơ hội sản phẩm LN. Đầu tư xây

dựng các chợ, khu kiốt, chuỗi cửa hàng, trung tâm xúc tiến thương mại ở địa

phương làng nghề hoặc ở những điểm du lịch, sân bay. Phát huy hiệu quả của

hoạt động các trung tâm giao dịch, mua bán sản phẩm tại các thành phố lớn.

Tổ chức trung tâm thông tin tại làng nghề nhằm cung cấp các thông tin về thị

trường, khoa học cơng nghệ, phổ biến các chính sách xã hội. Hiệp hội làng

nghề là trung tâm tiếp nhận và cung cấp thông tin.

+ Đẩy mạnh thương mại điện tử, hỗ trợ LN xây dựng hệ thống thông

tin nhằm giới thiệu quảng bá sản phẩm làng nghề, xây dựng thương hiệu, sở

hữu trí tuệ. Tư vấn thành lập trang website cho làng nghề.

+ Làng nghề cần xác định, phát triển du lịch cũng là hình thức mở rộng

thị trường xuất khẩu tại chỗ.

b. Khả năng đảm bảo và phương thức cung cấp các yếu tố đầu vào cho sản



xuất tại làng nghề

- Nguồn nguyên liệu

Muốn đảm bảo nguồn nguyên liệu đầu vào ổn định trước hết bản thân

làng nghề cần xây dựng cho mình một kế hoạch sản xuất cụ thể, nhu cầu về

nguồn nguyên liệu và trên cơ sở đó khai thác và ký kết hợp đồng thu mua với

những địa phương có nguồn nguyên liệu đó về số lượng, thời gian, giá cả. Cụ

thể, làng nghề có thể thu mua cá cơm nguyên liệu ở Hội An, Quảng Ngãi vào

thời vụ cá và mua muối ở Cà Ná,…. Như vậy, làng nghề sẽ đảm bảo được sự

ổn định nguồn nguyên liệu cho sản xuất.



79



- Vùng biển Đà Nẵng có ngư trường rộng trên 15.000km 2, có các động

vật biển phong phú trên 266 giống lồi, trong đó hải sản có giá trị kinh tế cao

gồm 16 lồi (tơm, mực, rong biển), có các loại cá như: cá thu, cá ngừ, cá bạc

má,cá nục, cá trích, cá cơm than, cá mối...), ngồi ra còn có các loại cua,

nghêu, sò ... Đây là nguồn tài nguyên rất lớn góp phần tạo nguồn nguyên liệu

cho công nghiệp chế biến , xuất khẩu hải sản của thành phố Đà Nẵng, góp

phẩn giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho ngư dân.

- Đà Nẵng có những tụ điểm hoạt động lâu đời của nghề cá, có điều

kiện kinh doanh tổng hợp bao gồm đánh bắt nuôi trồng, chế biến, công nghiệp

hóa nghề cá để tạo ra sản phẩm hàng hóa lớn trong tương lai.

Đây là những điều kiện thuận lợi để đảm bảo nguồn nguyên liệu cho

hoạt động chế biến nước mắm và các sản phẩm phụ khác của làng nghề.

- Đảm bảo nguồn nhân lực cho phát triển bền vững làng nghề

Trước tiên, muốn đảm bảo PTBV làng nghề thì đòi hỏi đầu tiên là yếu

tố đầu vào cho sản xuất của làng nghề phải đảm bảo được tính bền vững. Do

đó vấn đề cần quan tâm trước hết là nguồn nhân lực cho phát triển sản xuất.

Tuy nhiên, trong giải pháp này khơng chỉ một mình làng nghề nỗ lực là có thể

đạt được kết quả mà cần có sự hỗ trợ của Phòng Kinh tế cấp Quận, Huyện,

Trung tâm khuyến công, Sở Công thương Đà nẵng và các cơ quan có liên

quan cùng phối hợp thực hiện.

+ Đào tạo nguồn nhân lực cho làng nghề

Đào tạo nghề trong LN từ trước đến nay vẫn chủ yếu là theo lối truyền

nghề, thầy kèm “cầm tay chỉ việc”. Những người được truyền nghề theo

cách này thường có tay nghề vững vàng để sản xuất ra một số loại sản

phẩm nhất định. Nhưng lại bị hạn chế về kiến thức thẩm mỹ, về khả năng

sáng tạo mẫu, về kiến thức khoa học. Vì vậy, họ “ngại” áp dụng các tiến

bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất.



80



- Mơ hình kết hợp và hài hoà giữa đào tạo theo cách truyền nghề và

đào tạo trong nhà trường, đang được thực hiện tại một số địa phương và tỏ ra

là có hiệu quả trong giai đoạn hiện nay. Để mở rộng và nâng cao hiệu quả

trong đào tạo nghề cho LN, nhằm tạo ra một đội ngũ những người thợ có tay

nghề cao.

- Thường xuyên bồi dưỡng kiến thức cho người lao động tại các cơ sở,

làng nghề xem như là giải pháp khả thi nhất hiện nay. Để LN phát triển trong

điều kiện cạnh tranh và hội nhập như hiện nay. Vấn đề đào tạo kỹ năng, nhận

thức của người lao động là rất quan trọng. Vì vậy, cần tăng cường công tác

đào tạo bồi dưỡng kỹ năng lao động, nâng cao tay nghề và năng lực sáng

tạo của người lao động. Muốn nhanh chóng có được đội ngũ lao động có

chất lượng ở làng nghề truyền thống một mặt cần sự hỗ trợ của Nhà nước và

tiến tới cần phải xã hội hóa cơng tác đào tạo lao động ở LN.

- Khuyến khích và hỗ trợ mức cao nhất chi phí cho các cơ sở ngành

nghề nơng thơn, nghệ nhân trực tiếp mở lớp truyền nghề; mở các lớp đào

tạo thợ giỏi, thợ lành nghề, thợ thiết kế mẫu mã, kiểu dáng sản phẩm hoặc tư

vấn phát triển sản phẩm tại làng nghề.

- Lao động nông thôn khi tham gia học nghề được hỗ trợ kinh phí đào

tạo theo chính sách hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn theo quy định hiện hành.

- Khuyến khích và hỗ trợ cho các làng nghề truyền thống tự tổ chức

trường lớp, trung tâm đào tạo nghề.

- Phát triển nguồn nhân lực thông qua công tác đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ quản lý cấp phường, làng và đào tạo tay nghề cho lao động nông thôn.

Tổ chức giao lưu học hỏi kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh ở trong nước

và quốc tế.

+ Phát triển nguồn nhân lực cho làng nghề

Một thực tế khá mâu thuẫn đang xảy ra tại các làng nghề trên cả nước



81



và ở Đà Nẵng là ở những làng nghề khi chưa phát triển, khi đời sống còn

nhiều khó khăn, nhiều học sinh đã bỏ học để tham gia vào nghề truyền thống

của gia đình. Tuy nhiên, khi sản xuất phát triển có xu hướng ổn định, đời sống

kinh tế khấm khá thì nhu cầu đi học và học lên bậc cao của các em trong làng

nghề ngày càng tăng. Đặc biệt hầu hết trong số họ đều mong muốn theo học

các ngành nghề khác không gắn liền với các ngành nghề của gia đình. Và như

vậy, trong tương lai khơng xa các làng nghề sẽ khơng có đội ngũ lao động trẻ

có trình độ văn hố và chum mơn cao kế cận. Vì vậy, nếu khơng có kế

hoạch phát triển nguồn nhân lực ngay từ bây giờ thì trong thời gian đến làng

nghề sẽ bị hụt hẫng về nhân lực. do vậy, trong công tác phát triển nguồn nhân

lực cần lưu ý:

Thứ nhất là phát triển nguồn nhân lực về số lượng

Tăng cường công tác giáo dục hướng nghiệp trong các trường phổ

thơng cơ sở, khuyến khích học sinh phổ thơng học nghề truyền thống của địa

phương, đồng thời phải chú trọng đến việc tăng cường đầu tư cho công tác

đào tạo kỹ thuật, tay nghề. Hoạt động giáo dục hướng nghiệp này một mặt sẽ

kích thích sự say mê tìm hiểu các nghề truyền thống của địa phương nơi học

sinh, lực lượng lao động kế cận trong làng nghề; mặt khác giáo dục hướng

nghiệp sẽ cung cấp một nền tảng ban đầu cho người lao động, làm cơ sở để

đào tạo nghề sau này được thuận lợi. Làm được công việc này, mỗi học sinh

học nghề sẽ tự ý thức được ý nghĩa của cơng việc ở địa phương mình, đồng

thời có tâm huyết hơn với nghề.

Thứ hai là phát triển nguồn nhân lực về chất lượng

Các cơ quan quản lý nhà nước ở thành phố cần nhanh chóng xây dựng

tiêu chuẩn và quy chế công nhận danh hiệu nghệ nhân, danh hiệu làng nghề

văn hố và khuyến khích các hoạt động nhằm bảo tồn và phát huy văn hoá

làng nghề. Bên cạnh việc công nhận về mặt danh hiệu, cần có những chính



82



sách khuyến khích vật chất cụ thể như bảo hiểm, phần thưởng... xứng đáng

cho các nghệ nhân. Việc công khai các tiêu chuẩn để được công nhận nghệ

nhân và những khuyến khích về vật chất cụ thể sẽ làm một cơ sở quan trọng

để kích thích, động viên người lao động phấn đấu cống hiến nhiều hơn cho

làng nghề.

Tóm lại, duy trì, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là giải pháp đầu

tiên và quan trọng nhất để PTBV làng nghề, bởi vì trình độ, kỹ năng, tay nghề

của người lao động và trình độ, năng lực quản trị kinh doanh của các chủ cơ

sở quyết định đến mức độ tinh xảo, sự khác biệt, khả năng tiêu thụ sản phẩm

do đó quyết định hiệu quả sản xuất của cơ sở sản xuất. Tuy nhiên, với tiềm

lực hiện nay làng nghề nước mắm Nam Ô để thực hiện thành cơng những giải

pháp này cần phải có sự liên kết, hỗ trợ chặt chẽ của các cơ quan quản lý nhà

nước, các DN đào tạo nghề cũng như các nhà khoa học làm công tác giáo dục

đào tạo tại địa phương.

- Giải pháp về vốn đầu tư

Ở LNNM Nam Ơ hiện nay, bao gồm nhiều hình thức tổ chức kinh

doanh nhưng phổ biến là kinh tế hộ gia đình. Hộ kinh tế gia đình có nhiều

hạn chế về vốn nên khó đổi mới cơng nghệ, hạn chế mở rộng sản xuất, tiếp

cận thị trường. Để LN đi vào sản xuất hàng hoá, cần đẩy mạnh thực hiện đa

dạng hóa các hình thức cho vay vốn.

Thành phố cần tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển hộ sản xuất

LN như việc cho thuê đất, mở lớp bồi dưỡng năng lực quản lý cho các chủ

hộ sản xuất; hộ sản xuất vay vốn theo đơn đặt hàng sản xuất. Cải tiến thủ

tục cho vay vốn để phù hợp sản xuất kinh doanh nghề truyền thống; tạo

cơ hội cho mọi hộ sản xuất được tiếp cận nguồn vốn khuyến cơng, nguồn

vốn từ các chương trình về phát triển LN của Nhà nước... Các hộ sản xuất ở

LN có thể tự tạo nguồn vốn thông qua liên kết để tăng thêm sức mạnh trong



83



cạnh tranh. Liên kết trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm; liên kết

giữa các hộ sản xuất LN với các doanh nghiệp lớn, với các cơ sở chế biến;

liên kết với các tổ chức tài chính tín dụng, các tổ chức tài trợ để tận dụng các

nguồn vốn ưu tiên phát triển bền vững, trong đó có phát triển bền vững làng

nghề

c. Nâng cao năng lực cạnh tranh của làng nghề

Để nâng cao năng lực cạnh tranh của làng nghề, bản thân làng nghề

cũng như hiệp hội làng nghề cần tiến hành hàng loạt các công việc sau:

- Xây dựng thương hiệu cho làng nghề

Dưới góc độ marketing, mỗi làng nghề với những sản phẩm truyền

thống và bí quyết sản xuất là yếu tố định vị quan trọng tạo ra lợi thế cạnh

tranh. Nhằm biến những lợi thế cạnh tranh này thành yếu tố PTBV, bên cạnh

việc quy hoạch, phát triển nhân lực và chính sách bảo vệ mơi trường, còn có

một nhân tố chính quyết định đó là thương hiệu. Một thương hiệu cho làng

nghề là điều kiện cần thiết giúp sản phẩm vươn xa, tránh bị sao chép và cạnh

tranh thiếu lành mạnh.

Tuy nhiên, xây dựng thương hiệu là một quá trình lâu dài, phức tạp và

rất tốn kém; hơn nữa tuỳ vào mức độ và trình độ phát triển khác nhau của

làng nghề mà tiến hành xây dựng thương hiệu cho phù hợp.

Đối với thành phố Đà Nẵng, hiện có hai làng nghề cần được xây dựng

thương hiệu cho mình đó là đá mỹ nghệ Non Nước và nước mắm Nam Ô.

Trong quá trình xây dựng thương hiệu cho làng nghề khơng chỉ mình làng

nghề tiến hành cơng việc này mà cần có sự tham mưu, hỗ trợ của Hiệp hội

làng nghề, Sở Công thương,….

- Xây dựng hệ thống thông tin thị trường

Trong nền kinh tế thị trường, làng nghề phải xác định cho mình là “sản

xuất ra cái thị trường cần chứ khơng phải sản xuất ra cái mà mình có”. Nhu



84



cầu thị trường sẽ quyết định người lao động trong làng nghề nên sản xuất cái

gì, sản xuất cho an, sản xuất như thế nào. Muốn làm được điều đó tất yếu phải

có thơng tin thị trường. Trong điều kiện hiện nay, làng nghề xây dựng riêng

cho mình một hệ thống thu thập thơng tin là điều rất khó, nằm ngoài khả năng

của làng nghề. Nhưng nếu tận dụng các kênh thơng tin sẵn có từ những tổ

chức, cơ quan quản lý nhà nước thì điều đó hồn tồn có thể thực hiện được.

- Tăng cường hoạt động quảng cáo, xúc tiến thương mại

Đây là khâu có tác động thực tiếp hoặc gián tiếp đến hành vi mua của

khách hàng, làm cho khách hàng biết đến sản phẩm nhiều hơn, hiểu rõ về sản

phẩm hơn. Nhưng thực tế các chủ cơ sở sản xuất chưa nhận thức hết tầm quan

trọng công việc này. Hiện tại, nhiều người dân ở Đà Nẵng họ chưa biết nhiều

và chưa dùng nhiều nước mắm Nam Ô.

Trước tiên cần xác định đúng mục tiêu của hoạt động quảng cáo và xúc

tiến thương mại, theo đó để lựa chọn hình thức quảng cáo cho phù hợp với

mục đích, yêu cầu, đặc điểm và khả năng kinh phí của làng nghề. Có thể thực

hiện theo các hình thức sau:

+ Định kỳ tham gia hội chợ triển lãm, trưng bày, giới thiệu sản phẩm

cho làng nghề trong các dịp tổ chức trên cả nước.

+ Xây dựng điểm trưng bày, giới thiệu sản phẩm tại các trung tâm

thương mại, điểm du lịch trong thành phố và các vùng phụ cận tập trung dân

cư đông đúc.

Ngày nay đã là thời đại của thông tin, làng nghề cần xây dựng cho

riêng mình những trang website để giới thiệu về làng nghề và sản phẩm của

làng nghề. Đây là hình thức quảng bá sản phẩm rẻ tiền nhưng lại có thể vươn

xa nhất.

3.2.2. Các giải pháp để phát triển bền vững làng nghề về xã hội

- Quy hoạch phát triển làng nghề cùng với quá trình chuyển dịch cơ



85



cấu kinh tế của địa phương và q trình đơ thị hóa

Mỗi nghề, mỗi sản phẩm đều có đặc trưng và q trình để làm ra sản

phẩm khác nhau nên để có được làng nghề thực sự phát triển và PTBV đòi hỏi

cần tập trung quy hoạch hệ thống làng nghề, trong đó có xác định một cách cụ

thể, chi tiết tiến độ thực hiện. Tuỳ theo mỗi đặc điểm của làng nghề trên cơ sở

đó tiến hành quy hoạch.

Đối với làng nước mắm Nam Ô, dựa trên điều kiện thuận lợi của đặc

tính sản phẩm, vị trí nằm ngay trên quốc lộ 1A tiến hành quy hoạch trước hết

về mặt không gian, xem đó như điểm đến đầu tiên của khách tham quan, du

lịch đối với Đà Nẵng khi họ đi qua khỏi đèo Hải Vân. Đầu tư xây dựng cơ sở

hạ tầng, chú trọng quy hoạch cảnh quan làng nghề để kết hợp sản xuất và du

lịch làng nghề.

- Phát triển làng nghề trên cơ sở đánh giá đúng vai trò làng nghề đối

với định hướng phát triển kinh tế - xã hội thành phố Đà Nẵng

Thành phố Đà Nẵng sau khi trở thành đơn vị hành chính trực thuộc

Trung ương đã có những thay đổi rất lớn cơ cấu kinh tế và định hướng phát

triển; làng nghề là một động lực quan trọng để phát triển công nghiệp nông

thôn. Do đó, thành phố cùng địa phương cần thực hiện nội dung định hướng

phát triển làng nghề nước mắm Nam Ô theo quy hoạch phát triển các làng

nghề trên địa bàn thành phố.

- Phát triển làng nghề trên cơ sở sử dụng lao động tại địa phương và

chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang công nghiệp

Tốc độ đô thị hoá rất cao của thành phố Đà Nẵng trong thời gian qua đã

đặt ra nhu cầu giải quyết chuyển đổi ngành nghề đối với lao động nông thôn.

Đối với lao động là thanh niên, việc học nghề và chuyển sang lao động tại khu

vực cơng nghiệp khơng gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên với một bộ phận nông

dân rất lớn ở độ tuổi trung niên và lớn hơn, việc chuyển đổi ngành nghề là rất



86



khó khăn. Do đó, phát triển làng nghề là một giải pháp quan trọng để giải

quyết việc làm cho nông dân chưa thể chuyển ngay sang lao động cơng

nghiệp, tạo điều kiện để trong q trình đơ thị hố thực hiện được phương

châm “ly nơng bất ly hương”. Vì vậy, khi đầu tư phát triển làng nghề phải đưa

mục tiêu giải quyết lao động địa phương thành mục tiêu xã hội để xem xét.

PTBV LN khi lực lượng tham gia làm nghề, thu nhập ngày càng tăng

góp phần xóa đói giảm nghèo và gia tăng sự đóng góp cho xã hội.

Bảng 3.1: Lao động tham gia làm nghề và thu nhập bình quân của làng nghề

năm 2015



Năm



2015 (dự kiến)

Chỉ tiêu

Lao động tham gia làm nghề (người)

600

Thu nhập bình quân (triệu đồng/người/tháng)

4,0 – 6,0

Khi đầu tư phát triển làng nghề phải đưa mục tiêu giải quyết lao động

địa phương thành mục tiêu xã hội để xem xét.

- Phát triển làng nghề theo hướng phục vụ du lịch

+ Tạo dựng làng nghề truyền thống thành các điểm tham quan du

lịch, khai thác triệt để dịch vụ làng nghề với mơ hình trình diễn và mua

sắm cho khách tham quan.

- Xây dựng cơ chế quản lý và chia sẻ quyền lợi hợp lý giữa các bên

tham gia vào khu làng nghề.

- Có cơ chế ưu đãi, khuyến khích sự tham gia của các nghệ nhân, của

các doanh nghiệp có uy tín tại làng nghề của địa phương vào khu làng

nghề tập trung.

- Phối hợp với hiệp hội làng nghề thành phố phát hành các ấn phẩm

giúp thông tin, tuyên truyền, quảng bá về làng nghề và lưu giữ lại những

thơng tin khoa học và bí quyết của làng nghề lại một cách lâu dài và bền vững

nhất.



87



- Chú trọng đến việc giới thiệu và thuyết minh cho khách du lịch về

yếu tố lịch sử và văn hoá của làng nghề, cũng như tính độc đáo của sản phẩm.

- Phát triển làng nghề du lịch trên cơ sở kế thừa và bảo tồn không gian

làng nghề truyền thống. Phát triển không gian làng nghề truyền thống nhằm

đưa các cơ sở hoạt động sản xuất kinh doanh ra khu công nghiệp để giải

quyết vấn đề ô nhiễm, đồng thời xây dựng các khu vực hành chính, văn

hố, kinh tế, xã hội,… dần hình thành các khu phố nghề bên cạnh làng nghề.

Thành phố Đà Nẵng có rất nhiều lợi thế về tự nhiên và vị trí địa lý để

phát triển du lịch. Mối quan hệ giữa phát triển làng nghề và phát triển du lịch

là mối quan hệ hỗ trợ lẫn nhau. Đối với sản phẩm nước mắm Nam Ơ có thể

được đầu tư để trở thành sản phẩm đáp ứng nhu cầu của du khách

- Phát triển làng nghề để đẩy mạnh cơng nghiệp hố, hiện đại hố

nơng thơn đồng thời phải gìn giữ bản sắc văn hố dân tộc và bảo vệ mơi

trường

+ Trong q trình phát triển sản xuất của làng nghề, nhu cầu đầu tư

công nghệ mới, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và tổ chức lại quy trình sản

xuất là tất yếu. Sự phát triển của sản xuất công nghiệp ở làng nghề sẽ đem lại

những ảnh hưởng nhất định về văn hoá truyền thống và môi trường. Mục tiêu

phát triển của làng nghề là vừa phát triển sản xuất vừa bảo tồn và phát triển

các giá trị văn hoá truyền thống của làng nghề. Chính vì vậy, thành phố cũng

như các cấp chính quyền địa phương cần có chủ trương áp dụng cơng nghệ

hiện đại vào hoạt động sản xuất của làng nghề để đảm bảo “bí quyết cổ truyền

trên dây chuyền hiện đại”.

+ Tuyên truyền nâng cao nhận thức về nghề truyền thống ở làng

nghề truyền thống. Nghề truyền thống ở LN hiện nay ít được quan tâm và

đang mai một dần. Một phần là do chúng ta chưa có chính sách về việc giáo

dục ý thức coi trọng nghề thủ công truyền thống. Nghề truyền thống chưa



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

a. Giải pháp về thị trường và tiêu thụ sản phẩm

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×