Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
b. Đối với người xuất khẩu

b. Đối với người xuất khẩu

Tải bản đầy đủ - 0trang

21



sẽ đặt trách nhiệm thanh tốn khơng những cho NHPH mà còn cho NHXN, do đó,

nó cung cấp sự an tồn tốt nhất cho người XK.

- Để có ưu thế trong việc ký kết hợ đồng ngoại thương, nhà xuất khẩu có thể

đồng ý để nhà nhập khẩu trả chậm trên cơ sở NHPH chấp nhận thanh toán hối phiếu

kỳ hạn. Nhà xuất khẩu có thể mang hối phiếu đã chấp nhận đến ngân hàng phục vụ

mình để chiết khấu nhận tiền tức thời.

- Để đảm bảo quyền lợi của mình, nhà xuất khẩu phải ký được hợp đồng ngoại

thương có các điều khoản, điều kiện khả thi và trong tầm khả năng thực hiện của

mình.

* Rủi ro:

- Đòi hỏi người bán phải có kinh nghiệm trong giao dịch L/C. Những thay đổi

trong hợp đồng ngoại thương giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu phải tiến hành

làm thủ tục sửa đổi, bổ sung L/C.

- Nếu nhà xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ phù hợp với L/C, thì mọi khoản

thanh tốn/chấp nhận có thể chậm trễ, thậm chí bị từ chối thanh toán, và nhà xuất

khẩu phải tự xử lý hàng hoá như dỡ hàng, lưu kho cho đến khi vấn đề được giải

quyết hoặc phải tìm người mua mới, bán đấu giá hay chở hàng quay về nước.

- Trong trường hợp L/C khơng có xác nhận, nếu NHPH mất khả năng thanh

tốn, thì cho dù bộ chứng từ xuất trình là hồn hảo thì cũng khơng được thanh toán.

Tương tự, nếu NHPH đã chấp nhận hối phiếu nhưng bị phá sản trước khi hối phiếu

đến hạn, thì hối phiếu cũng không được trả tiền.

- Nếu nhà xuất khẩu nhận được một L/C trực tiếp từ NHPH (không gửi thơng

qua NHTB), thì đó có thể là một L/C giả. Nhà xuất khẩu phải yêu cầu có một ngân

hàng trong nước xác nhận L/C hay phải được ngân hàng phục vụ mình xác minh

L/C là thật.

c. Đối với NHPH

*Lợi ích :

- Thu phí từ phát hành L/C và các khoản phí khác liên quan đến giao dịch L/C;

các khoản thu nhập liên quan đến chuyển đổi ngoại tệ.

- Thông qua việc cung cấp dịch vụ thanh toán giúp khách hàng phát triển kinh

doanh, thì các hoạt động khác của ngân hàng cũng phát triển theo. Ví dụ, tăng được



21



22



tài khoản ký quỹ, hoặc tăng được quan hệ tín dụng với nhà nhập khẩu, tăng được

doanh số mua bán ngoại tệ...

- Tăng cường mối quan hệ với các ngân hàng đại lý, làm tăng tiềm năng kinh

doanh đối ứng giữa các ngân hàng với nhau.

* Rủi ro:

- Hệ số tín nhiệm của người mở: NHPH phải thực hiện thanh toán cho người

thụ hưởng theo qui định của L/C ngay cả trong trường hợp nhà nhập khẩu chủ tâm

khơng hồn trả hoặc khơng có khả năng hồn trả.Với lý do này, rủi ro tín dụng đối

NHPH là rất hiện hữu, do đó, trước khi chấp nhận phát hành L/C, ngân hàng cần áp

dụng một qui trình thẩm định khách hàng chặt chẽ giống như việc cấp tín dụng cho

khách hàng.

- Rủi ro nghiệp vụ: Khi L/C khơng có xác nhận, NHđCĐ có thể yêu cầu NHPH

chấp nhận thanh toán cho người thụ hưởng mà chưa nhìn thấy bộ chứng từ. Trong

trường hợp này, nếu khơng có sự chấp thuận trước của người nhập khẩu về việc

hồn trả, thì NHPH sẽ gặp rủi ro khi bộ chứng từ có sai sót, nên nhà nhập khẩu

khơng chấp nhận, do đó ngân hàng sẽ khơng truy hoàn được tiền từ nhà nhập khẩu.

- Rủi ro chủ quan: Nếu NHPH chấp nhận thanh toán hối phiếu kỳ hạn, mà

khơng có sự kiểm tra một cách thích đáng bộ chứng từ, để bộ chứng từ có lỗi, nhà

nhập khẩu khơng chấp nhận, thì khơng thể đòi tiền nhà nhập khẩu được.

d. Đối với NHTB/NHCĐ/NHXN

*Lợi ích:

- Thu phí từ việc thơng báo/thanh tốn/xác nhận L/C và các khoản thu nhập

khác liên quan đến chuyển đổi tiền tệ.

- Thông qua việc cung cấp dịch vụ thơng báo/thanh tốn/chấp nhận giúp khách

hàng phát triển kinh doanh, thì các hoạt động khác của ngân hàng cũng phát triển

theo. Ví dụ, mở rộng khoản tín dụng xuất khẩu, chiết khấu bộ chứng từ...

- Tăng cường mối quan hệ với các ngân hàng đại lý, làm tăng tiềm năng kinh

doanh đối ứng giữa các ngân hàng với nhau.



22



23



*Rủi ro:

- Đối với NHTB: NHTB chịu trách nhiệm phải có sự “quan tâm hợp lý” để bảo

đảm rằng L/C là chân thật, bao gồm cả việc xác minh chữ ký, khoá mã, mẫu điện

trước khi gửi thông báo cho nhà xuất khẩu.

- Đối với NHCĐ: Trừ khi là NHXN, các NHCĐ khơng có một trách nhiệm nào

phải thanh toán cho người xuất khẩu với điều kiện truy đòi để trợ giúp nhà xuất

khẩu, do đó, ngân hàng này phải tự chịu rủi ro tín dụng đối với NHPH hoặc nhà

xuất khẩu.

- Đối với NHXN:

+ Nếu bộ chứng từ là hồn hảo, thì NHXN phải trả tiền cho người xuất khẩu

bất luận là có truy hồn được tiền từ NHPH hay không. Như vậy, NHXN chịu rủi

ro tín dụng đối với NHPH, cũng như rủi ro chính trị và rủi ro cơ chế (hạn chế ngoại

hối) của nước NHPH.

+ Nếu NHXN trả tiền hay chấp nhận thanh tốn hối phiếu kỳ hạn, mà khơng có

sự kiểm tra một cách thích đáng bộ chứng từ, để bộ chứng từ có lỗi, NHPH khơng

chấp nhân, thì khơng thể đòi tiền NHPH.

1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG

TÍN DỤNG CHỨNG TỪ

1.3.1. Các tiêu chí đánh giá việc mở rộng tín dụng chứng từ

- Thỏa mãn tối đa nhu cầu khách hàng về thanh toán quốc tế: Dịch vụ ngân

hàng do ngân hàng cung ứng là để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Nếu như chất

lượng của dịch vụ ngày càng hồn hảo, có chất lượng cao thì khách hàng sẽ gắn bó

lâu dài và chấp nhận ngân hàng. Không những vậy, những lời khen, sự chấp nhận,

thoả mãn về chất lượng của khách hàng hiện hữu họ sẽ thơng tin tới những người

khác có nhu cầu dịch vụ tìm đến ngân hàng để giao dịch.

Do vậy để mở rộng dịch vụ L/C thì ngân hàng cần phải đáp ứng nhu cầu

khách hàng về L/C, số lượng, qui mô, địa điểm, thời gian trong hoạt động thanh

toán quốc tế.

- Thu hút tối đa khách hàng cho hoạt động thanh tốn quốc tế bằng tín dụng

chứng từ nói riêng và cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung.



23



24



- Đảm bảo an tồn, hiệu quả trong hoạt động thanh tốn quốc tế bằng tín

dụng chứng từ tại ngân hàng.

- Nâng cao uy tín, vị thế của ngân hàng đối với khách hàng và các đối tác

nước ngoài.

1.3.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến mở rộng hoạt động thanh tốn TDCT

1.3.2.1. Các nhân tố có tính chất vĩ mô

a. Sự phát triển của hoạt động ngoại thương

Đây là nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới hoạt động thanh tốn tín dụng

chứng từ của ngân hàng. Sự phát triển của kinh tế đối ngoại và đặc biệt là hoạt

động ngoại thương sẽ làm phát sinh nhiều nhu cầu thực hiện nghĩa vụ tiền tệ của

quốc gia này với một quốc gia khác. Đây chính là điều kiện để các Ngân hàng

thương mại mở rộng và phát triển nghiệp vụ thanh tốn tín dụng chứng từ.

b. Tỷ giá hối đối

Trong hoạt động thanh tốn quốc tế, thơng thường người ta không sử dụng

đơn vị tiền tệ trong nước mà sử dụng ngoại tệ mạnh tự do chuyển đổi. Để xác

định giá trị quy đổi của đồng tiền nước này sang đồng tiền nước khác, người ta sử

dụng khái niệm tỷ giá hối đoái.

Tỷ giá hối đoái là một nhân tố rất nhạy cảm, được xác định bởi mối quan hệ

cung cầu trên thị trường tiền tệ. Không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập

khẩu, biến động của tỷ giá hối đối còn ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh

ngoại tệ của ngân hàng.

Giá trị thanh tốn xuất nhập khẩu được tính bằng ngoại tệ, do đó tỷ giá

thường biến động sẽ gây thiệt hại cho các bên.

c. Môi trường pháp lý

Để tạo khả năng hội nhập với cộng đồng quốc tế cũng như trong thanh tốn

quốc tế nói chung và thanh tốn tín dụng chứng từ nói riêng, khung pháp lý của

mỗi quốc gia đòi hỏi phải được bổ sung, hoàn thiện theo hướng chuẩn mực quốc

tế. Do hoạt động thanh tốn tín dụng chứng từ một mặt thực hiện theo các quy

chuẩn quốc tế, mặt khác phải tuân thủ các quy định pháp luật liên quan của mỗi

quốc gia.



24



25



Chính vì vậy, đứng về góc độ quản lý của mỗi nhà nước, các văn bản pháp

lý của mỗi nhà nước phải được ban hành đồng bộ, tránh chồng chéo, bất cập dẫn

đến buông lỏng hoặc sơ hở, đồng thời phải đảm bảo phù hợp với quy chuẩn quốc

tế, tạo ra khung cơ sở pháp lý đầy đủ và hồn chỉnh cho hoạt động thanh tốn.

d. Chính sách kinh tế vĩ mơ

Phương thức thanh tốn tín dụng chứng từ được sử dụng chủ yếu trong

thanh toán xuất nhập khẩu, mà quan hệ xuất nhập khẩu lại phụ thuộc vào môi

trường vĩ mô của hai nước xuất khẩu và nhập khẩu. Cụ thể, nó phụ thuộc vào

chính trị, xã hội, mơi trường kinh tế, tình hình an ninh... của hai nước. Ví dụ như

Chính phủ nước nhập khẩu mới ban bố các chính sách hạn chế nhập khẩu sẽ cản

trở q trình thanh tốn của hợp đồng kinh tế.

Các chính sách kinh tế vĩ mơ của mỗi nước được đưa ra nhằm mục đích điều

tiết, định hướng phát triển nền kinh tế của nước đó. Trong các chính sách này, có

một số chính sách ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động ngoại thương và ảnh hưởng

gián tiếp đến hoạt động Thanh tốn quốc tế nói chung và thanh tốn tín dụng

chứng từ nói riêng, như chính sách về thuế, chinh sách quản lý hàng hoá xuất

nhập khẩu, chính sách kinh tế đối ngoại, chính sách quản lý ngoại hối,…

1.3.2.2. Nhân tố thuộc về khách hàng

Người xuất khẩu và người nhập khẩu có ảnh hưởng rất lớn đến q trình

thanh tốn. Họ được xem là chủ thể của các hợp đồng và chủ thể trong thanh toán

quốc tế. Thanh toán quốc tế được coi là quyền lợi và đồng thời là trách nhiệm của

bên xuất khẩu và nhập khẩu. Thanh toán diễn ra tốt đẹp khi mà các bên tham gia

tôn trọng hợp đồng đã ký và thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình trong cả chu

trình đó.

a. Về phía người nhập khẩu

Người nhập khẩu có ảnh hưởng lớn tới q trình thanh tốn, bởi chính họ là

người phải trả tiền cho người xuất khẩu (người hưởng lợi) thông qua các Ngân

hàng. Nghĩa vụ của họ trong hợp đồng thương mại quốc tế là phải thông qua

Ngân hàng để mở thư tín dụng hợp lệ, chủ động trong việc thanh toán, nhận



25



26



hàng, mua bảo hiểm, thuê tàu (nếu có). Nếu người nhập khẩu khơng thực hiện tốt

các nghĩa vụ trên thì q trình thanh tốn sẽ diễn ra khơng thuận lợi.

b. Về phía người xuất khẩu

Người xuất khẩu thường được coi là gặp nhiều vấn đề nhất trong việc thực

hiện hợp đồng thương mại quốc tế. Nghĩa vụ của người xuất khẩu khi thực hiện

hợp đồng thương mại quốc tế là kiểm tra thư tín dụng do người nhập khẩu mở,

giao hàng đúng chất lượng, số lượng, đúng thời gian và địa điểm... và đặc biệt

quan trọng là phải lập được bộ chứng từ đúng theo yêu cầu của thư tín dụng. Đây

được coi là một vấn đề gặp nhiều trở ngại nhất. Nếu người xuất khẩu thực hiện

không tốt một trong các điều khoản của thư tín dụng thì có thể dẫn tới việc thanh

tốn chậm lại, có khi còn phải huỷ bỏ hợp đồng đã ký.

Người nhập khẩu và người xuất khẩu có kiến thức và có kinh nghiệm tham

gia quan hệ thương mại quốc tế thì trách nhiệm của Ngân hàng sẽ nhẹ hơn và

thanh tốn theo phương thức tín dụng chứng từ sẽ diễn ra thuận lợi hơn, có chất

lượng cao hơn.

1.3.2.3. Các nhân tố thuộc về bản thân NHTM

a. Uy tín và khả năng cạnh tranh của ngân hàng

Bản thân các Ngân hàng tham gia có ảnh hưởng mạnh tới q trình thanh

tốn được thực hiện nhanh hay chậm, chính xác hay có sai sót... trong đó trình độ

chun mơn, nghiệp vụ cũng như phong cách phục vụ khách hàng của cán bộ

Ngân hàng đóng vai trò quyết định.

Nếu các Ngân hàng tham gia đều có uy tín và trách nhiệm trong việc thực

hiện đúng đắn những điều khoản của thư tín dụng thì cơng tác thanh tốn sẽ có

chất lượng cao. Quá trình thực hiện các nghiệp vụ sẽ được rút ngắn nếu các cán

bộ Ngân hàng hướng dẫn đầy đủ cho khách hàng. Thêm vào đó, trách nhiệm và

chun mơn của cán bộ Ngân hàng trong khâu kiểm tra chứng từ có ảnh hưởng

lớn tới chất lượng của dịch vụ thanh toán.

Nếu Ngân hàng bên mua và Ngân hàng bên bán có quan hệ đại lý thì sẽ thu

hẹp phạm vi thanh toán chỉ trong hai hoặc ba Ngân hàng. Điều này sẽ tiết kiệm



26



27



chi phí cho khách hàng và rút ngắn thời gian thanh toán. Như vậy, nếu các Ngân

hàng tham gia thiết lập được quan hệ đại lý rộng rãi thì chất lượng của thanh tốn

tín dụng chứng từ sẽ được nâng cao.

Khả năng cạnh tranh của ngân hàng cũng ảnh hưởng khơng nhỏ tới thanh

tốn theo phương thức tín dụng chứng từ. Hiện nay, trong giao dịch tín dụng

chứng từ, hầu hết các khách hàng có nhiều sự lựa chọn vì hệ thống ngân hàng

phát triển, cơng nghệ hiện đại, các mức phí của ngân hàng hấp dẫn....nên thị phần

thanh toán sẽ bị ảnh hưởng.

b. Chiến lược kinh doanh của ngân hàng

Việc ngân hàng xây dựng chiến lược kinh doanh triển khai nghiệp vụ kinh

doanh đối ngoại sớm sẽ tạo ra cho ngân hàng có được lợi thế ban đầu, tạo được

bề dầy về kinh nghiệm và chiếm lĩnh được thị phần phục vụ doanh nghiệp kinh

doanh xuất nhập khẩu.

Địa bàn hoạt động cũng là yếu tố quan trọng, hầu hết doanh nghiệp kinh

doanh xuất nhập khẩu đều tập trung tại các thành phố lớn nơi vốn diễn ra sự cạnh

tranh gay gắt giữa các ngân hàng trong việc tiếp thị khách hàng. Do vậy nếu

chậm đưa hoạt động Thanh toán quốc tế vào những địa bàn này, ngân hàng sẽ

không thu hút được khách hàng nếu khơng có đội ngũ cán bộ chun mơn cao,

cơng nghệ ngân hàng hiện đại và nguồn lực tài chính đủ lớn.

c. Khả năng nguồn lực của ngân hàng

Để đáp ứng yêu cầu của hoạt động Thanh toán quốc tế, Ngân hàng thương

mại phải có hệ thống ngân hàng đại lý đủ để đáp ứng nhu cầu dịch vụ của khách

hàng, là điều kiện để ngân hàng mở rộng hoạt động Thanh toán quốc tế ở cả hai

chiều Thanh toán xuất khẩu và Thanh tốn nhập khẩu.

Ngồi ra ngân hàng phải có nguồn vốn, nguồn ngoại tệ đủ lớn, có các hoạt

động tín dụng và kinh doanh ngoại tệ phát triển, có điều kiện cung ứng dịch vụ

linh hoạt, lãi suất, phí, tỷ giá, điều kiện bảo lãnh, vay vốn,…

Đội ngũ cán bộ chun trách phải có chun mơn cao về lĩnh vực thanh

tốn quốc tế, nhiệt tình, năng động và có trách nhiệm.



27



28



Về cơng nghệ, Cơng nghệ ngân hàng tiên tiến sẽ góp phần phát triển thêm

các dịch vụ ngân hàng mới, nâng cao chất lượng dịch vụ, đẩy nhanh q trình

Thanh tốn quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi trong giao dịch với khách hàng. Hiện

nay, để có thể thực hiện chức năng Thanh toán quốc tế, Ngân hàng thương mại

phải tham gia ít nhất vào một mạng truyền tin có bảo mật cao như SWIFT. Ngồi

ra có thể sử dụng một số mạng khác như Telex…

d. Chính sách khách hàng của ngân hàng

Để duy trì và phát triển các hoạt động ngân hàng nói chung, hoạt động

Thanh tốn quốc tế nói riêng, ngân hàng cần phải có tầm nhìn chiến lược trong

xây dựng chính sách khách hàng. Lựa chọn đối tượng khách hàng, tạo dựng quan

hệ bền chặt, áp dụng chính sách linh hoạt và tạo uy tín ngày càng cao. Việc xếp

loại khách hàng không chỉ căn cứ vào chất lượng quan hệ tín dụng, thanh tốn

mà còn xét đến uy tín của khách hàng trong thanh tốn.

***



28



29



CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TỐN TÍN DỤNG CHỨNG

TỪ TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG

THÔN CHI NHÁNH TP ĐÀ NẴNG

2.1. SƠ LƯỢC SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA

NHNo&PTNT TP ĐÀ NẴNG

2.1.1. Sự ra đời và phát triển của NHNo&PTNT TP ĐN

Chi nhánh NHNo & PTNT Thành phố Đà Nẵng được thành lập năm 1988 với

tên gọi lúc bây giờ là Ngân hàng Nông nghiệp tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, nhằm

thực hiện cơ chế mới chuyển từ Ngân hàng một cấp sang Ngân hàng hai cấp, nhằm

tách bạch chức năng quản lý với chức năng kinh doanh.

Năm 1991, tại quyết định số 66/ NH – QĐ, ngày 21/4/1991 của Thống đốc

Ngân hàng Nhà Nước thành lập thêm Sở giao dịch III – Ngân hàng Nông nghiệp

Việt Nam đóng tại Đà Nẵng làm nhiệm vụ quản lý và điều hoà vốn cho 11 tỉnh khu

vực miền Trung và Tây Nguyên. Lúc này trên địa bàn có hai chi nhánh trực thuộc

Ngân hàng Nông Nghiệp Việt Nam:

Tại quyết định số 267/ QĐ – HĐBT, ngày cấp 10/1992 của Chủ tịch Hội

đồng quản trị NHNo VN đa sát nhập Chi nhánh NHNo Tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng

với Sở Giao Dịch III – NHNo VN tại Đà Nẵng

Chi nhánh NHNo & PTNT TP Đà Nẵng ra đời trên cơ sở quyết định số 424 /

HĐBT – TCHC, ngày 26/10/2000 của Chủ tịch Hội đồng quản trị NHNo & PTNT

Việt Nam, về việc hợp nhất Sở giao dịch III – NHNo VN tại Đà Nẵng và chi nhánh

NHNo & PTNT TP Đà Nẵng thành Chi nhánh NHNo & PTNT TP Đà Nẵng.

Hiện nay, tại Chi nhánh NHNo&PTNT trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng có

35 Chi nhánh và Phòng giao dịch trực thuộc.

2.1.2. Mơ hình và bộ máy tổ chức quản lý

(Xem sơ đồ trang 30)



29



30



GIÁM ĐỐC

:

PHĨ GIÁM ĐỐC



Phòng

tín

dụng



Phòng

kinh

doanh

ngoại

hối



Phòng

điện

tốn



PHĨ GIÁM ĐỐC



Phòng

dịch

vụ

marketing



Các phòng giao dịch



Chú thích:

Quan hệ trực tuyến



Phòng

kế

hoạch

tổng

hợp



Phòng

kế

tốn

ngân

quỹ



Phòng

hành

chínhnhân

sự



Phòng

kiểm

tra

kiểm

sốt

nội bộ



Chi nhánh cấp 3



Các phòng giao dịch



Quan hệ chức năng

Sơ đồ 2.1: Mơ hình bộ máy tổ chức của NHNo&PTNT chi nhánh TP ĐN



30



31



Chức năng, nhiệm vụ của mỗi bộ phận:

Ban giám đốc: gồm 03 người – 1 giám đốc và 2 phó giám đốc.

+ Giám đốc phụ trách chung, đồng thời phụ trách chuyên đề tổ chức cán bộ

và kiểm tra, kiểm tốn nội bộ.

+ Một phó giám đốc: Phụ trách về kế tốn và hành chính.

+ Một phó giám đốc: Phụ trách về kinh doanh, Phụ trách về kế hoạch và điện

tốn.

Các phòng ban tại Chi nhánh:

+ Phòng kế hoạch tổng hợp:

Nghiên cứu xây dựng kế hoạch kinh doanh, thực hiện phương án.

+ Phòng tín dụng

Thực hiện các hoạt động tín dụng đối với khách hàng

+ Phòng kế tốn – Ngân quỹ:

Có nhiệm vụ chuyên sâu các hoạt động hạch toán kinh doanh và thu chi tiền

mặt, bao gồm các bộ phận: Hạch toán kinh doanh, thanh toán tiền hàng, bù trừ,

chuyển tiền qua Ngân hàng, thu chi và quản lý an tồn kho quỹ.

+ Phòng kinh doanh ngoại hối:

Thực hiện các hoạt động thanh toán quốc tế, mua bán ngoại tệ

+ Phòng Điện tốn:

Xây dựng các chương trình điện tốn nhằm phục vụ cho cơng tác kinh

doanh, báo cáo thống kê của ngành.

+ Phòng Hành chính nhân sự:

Có nhiệm vụ tham mưu về cơng tác đào tạo, bố trí cán bộ và phục vụ hậu cần

trong kinh doanh.

+ Phòng kiểm tra, kiểm tốn nội bộ:

Có nhiệm vụ kiểm sốt các hoạt động trong nội bộ Ngân hàng.

+ Phòng Dịch vụ và Marketing:

Tiếp cận và phân tích nhu cầu thị trường; xây dựng các phương án, đề án cụ

thể để triển khai các dịch vụ ngân hàng mới có nhu cầu trên thị trường.



31



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

b. Đối với người xuất khẩu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×