Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Sử dụng vốn là hoạt động kinh doanh chủ yếu và quan trọng nhất của NHTM. Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động sử dụng vốn ngày càng đa dạng và được sử dụng dưới nhiều hình thức:

Sử dụng vốn là hoạt động kinh doanh chủ yếu và quan trọng nhất của NHTM. Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động sử dụng vốn ngày càng đa dạng và được sử dụng dưới nhiều hình thức:

Tải bản đầy đủ - 0trang

6



quốc tế được an tồn bởi vì hoạt động XNK luôn ẩn chứa các nguy cơ dẫn đến rủi

ro và thất bại.

Để đáp ứng nhu cầu XNK và sự phát triển ngoại thương của mỗi quốc gia, đòi

hỏi các NHTM tham gia vào hoạt động ngoại thương với chức năng tài trợ ngoại

thương thể hiện ở các loại hình dịch vụ như: cung cấp các khoản bảo lãnh hoặc tín

dụng, trung gian thanh toán, tư vấn, quản lý rủi ro tín dụng, cung cấp các phương

thức đảm bảo cho khả năng thanh tốn. Do mỗi nước có hệ thống tiền tệ riêng, năng

lực tài chính của người mua và người bán ở mỗi nước có đặc điểm riêng, ngồi ra

còn hạn chế về ngơn ngữ, mơi trường văn hóa, phong tục tập quán, môi trường pháp

lý của các quốc gia khác nhau…nên dịch vụ thanh toán quốc tế của NHTM ra đời

làm cho q trình thanh tốn diễn ra sn sẻ và thuận lợi hơn.

1.2. PHƯƠNG THỨC THANH TỐN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ

1.2.1. Khái quát phương thức thanh toán quốc tế

1.2.1.1. Khái niệm về TTQT

Trong xu thế hội nhập hiện nay, bất cứ một quốc gia nào muốn tồn tại và

phát triển đều phải tăng cường hợp tác với các nước trên thế giới. Quá trình tiến

hành các hoạt động quốc tế dẫn đến những nhu cầu chi trả, thanh toán giữa các chủ

thể ở các nước khác nhau, từ đó hình thành và phát triển hoạt động TTQT, trong đó

ngân hàng là cầu nối trung gian giữa các bên.

Vậy, TTQT là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiền

tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá

nhân nước này với tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức

quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan.[86;3]

Hoạt động TTQT có hai lĩnh vực rõ ràng là:

Thanh toán quốc tế trong ngoại thương (Thanh toán mậu dịch): Là thực hiện

việc thanh toán trên cơ sở hàng hoá xuất nhập khẩu và các dịch vụ thương mại cung

ứng cho nước ngoài theo giá cả thị trường quốc tế. Cơ sở để các bên tiến hành mua

bán và thanh toán cho nhau là hợp đồng ngoại thương.



6



7



Thanh toán phi ngoại thương (thanh toán phi mậu dịch): Là việc thực hiện

thanh tốn khơng liên quan đến hàng hoá xuất nhập khẩu, nghĩa là thanh toán cho

các hoạt động khơng mang tính thương mại.

1.2.1.2. Vai trò của TTQT

a. Vai trò của TTQT đối với nền kinh tế

- Hoạt động thanh toán quốc tế của Ngân hàng thương mại tạo điều kiện thúc

đẩy hoạt động ngoại thương phát triển hay hoạt động xuất nhập khẩu tăng.

- Hoạt động thanh toán quốc tế thúc đẩy hoạt động đầu tư nước ngoài trực tiếp

và gián tiếp.

- Thúc đẩy và mở rộng các hoạt động dịch vụ như du lịch, hợp tác quốc tế.

- Tăng cường thu hút kiều hối và các nguồn lực tài chính.

- Thúc đẩy thị trường tài chính quốc gia hội nhập quốc tế.

b.



Vai trò của TTQT đối với doanh nghiệp XNK



Phần lớn các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân đều không thể tự thực hiện

TTQT do có khó khăn về mặt địa lý, phong tục tập quán và rất nhiều khó khăn

khác, dẫn đến nhu cầu thanh toán hộ được thực hiện bởi các ngân hàng. Ngân hàng

với sức mạnh về năng lực, uy tín của mình có thể giúp các doanh nghiệp kinh doanh

xuất nhập khẩu hạn chế được rủi ro trong thanh tốn trực tiếp bằng tiền mặt. Ngồi

ra, cũng nhờ thanh toán qua ngân hàng mà các nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu có thể

tận dụng được các hình thức tín dụng hoặc tài trợ xuất nhập khẩu đi kèm hoạt động

thanh tốn để hỗ trợ về tài chính cho hoạt động bn bán, kinh doanh đó của mình.

c. Vai trò của hoạt động TTQT đối với NHTM

- Hoạt động thanh toán quốc tế phát triển giúp cho Ngân hàng thu hút thêm

nhiều khách hàng có nhu cầu thanh tốn quốc tế, phần lớn là các khách hàng hoạt

động trong lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu. Trên cơ sở đó, Ngân hàng có thể

mở rộng qui mơ và mạng lưới hoạt động.

- Nâng cao uy tín của ngân hàng trên trường quốc tế, trên cở sở đó phát triển

các quan hệ đại lý, khai thác được các nguồn vốn tài trợ của các ngân hàng nước



7



8



ngoài và nguồn vốn trên thị trường tài chính thế giới nhằm đáp ứng tốt hơn nhu

cầu vốn phát triển kinh tế - xã hội.

- Hoạt động TTQT phát triển tạo điều kiện cho NHTM tăng khả năng doanh

thu và lợi nhuận.

- Hoạt động TTQT phát triển tạo điều kiện cho ngân hàng phân tán bớt rủi

ro.

1.2.1.3. Các phương thức TTQT

Phương thức thanh toán quốc tế là tồn bộ q trình điều kiện quy định để

người mua trả tiền và nhận hàng, còn người bán nhận tiền và giao hàng trong

thương mại quốc tế. Trên thực tế, có nhiều phương thức thanh tốn khác nhau

nhưng các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay chủ yếu đang áp dụng các

phương thức thanh toán quốc tế như sau:

(1) Phương thức ứng trước - Advanced Payment

Đây là phương thức, trong đó người mua chấp nhận giá hàng của người bán

và chuyển tiền thanh toán cùng với đơn đặt hàng chắc chắn (không huỷ ngang),

nghĩa là việc thanh toán xảy ra trước khi hàng hoá được người bán gửi đi.

(2) Phương thức ghi sổ - Open Account

Là phương thức thanh tốn, trong đó nhà xuất khẩu sau khi hồn thành

giao hàng thì ghi Nợ tài khoản cho bên nhập khẩu vào một cuốn sổ theo dõi và

việc thanh tốn các khoản nợ này được thực hiện thơng thường theo định kỳ như

đã thoả thuận.

(3) Phương thức chuyển tiền- Remittance

Chuyển tiền là phương thức thanh tốn, trong đó khách hàng (người chuyển

tiền) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho một

người khác (người hưởng lợi) theo một địa chỉ nhất định và trong một thời gian

nhất định.

Việc chuyển tiền xem như hoàn tất khi thanh toán hết số tiền cho người thụ

hưởng; trước thời điểm này, số tiền trong tài khoản vẫn thuộc quyền sở hữu của

người chuyển tiền và người này có quyền hủy bỏ lệnh chuyển tiền, mà người thụ



8



9



hưởng không thể khiếu nại gì với ngân hàng. Như vậy, việc trả tiền phụ thuộc vào

thiện chí của người mua, quyền lợi của người xuất khẩu không đảm bảo. Ngược lại

nếu việc chuyển tiền được thực hiện trước khi giao hàng hóa thì việc giao hàng phụ

thuộc vào thiện chí của người bán, quyền lợi của người nhập khẩu không đảm bảo.

(4) Phương thức nhờ thu - Payment Collection

Nhờ thu là phương thức thanh tốn, trong đó, bên bán (nhà xuất khẩu) sau

khi giao hàng hay cung ứng dịch vụ, uỷ thác cho ngân hàng phục vụ mình xuất

trình bộ chứng từ thông qua Ngân hàng thu hộ cho bên mua (nhà nhập khẩu) để

được thanh toán, chấp nhận hối phiếu hay chấp nhận các điều kiện và điều khoản

khác.

Trong phương thức này, các ngân hàng tham gia vào quá trình thanh tốn

sâu rộng và tồn diện hơn các phương thức trên, mức độ tham gia của ngân hàng

vào quá trình nhờ thu phụ thuộc hoàn toàn vào nội dung các chỉ thị và những gì

mà người bán uỷ quyền cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ.

(5) Phương thức tín dụng chứng từ

Trong phương thức ứng trước và ghi sổ, ngân hàng đơn thuần chỉ thực hiện

chức năng chuyển tiền trên danh nghĩa người mua và nhận tiền trên danh nghĩa

người bán. Trong nhờ thu, các ngân hàng tham gia xử lý chứng từ do người bán

gửi đến và hành động với vai trò là đại lý của người bán. Ngoại trừ vai trò là đại

lý và chức năng giám sát, trong cả ba phương thức thanh toán nêu trên, các ngân

hàng khơng có bất kỳ cam kết, trách nhiệm hay nghĩa vụ nào. Tuy nhiên, trong

phương thức tín dụng chứng từ, các ngân hàng đã tham gia chủ động và tích cực

hơn nhiều, theo đó các ngân hàng thực hiện trả tiền theo cam kết của mình.Và

sau đây luận văn sẽ làm rõ về phương thức TDCT.

1.2.2. Phương thức tín dụng chứng từ

1.2.2.1. Cơ sở ra đời của phương thức tín dụng chứng từ

Khi hàng hố được mua hoặc bán ngồi lãnh thổ quốc gia, các giao dịch này

có thể trở nên rất phức tạp bởi rất nhiều lý do như: thời gian vận chuyển hàng, rủi

ro trên hành trình vận chuyển, các thủ tục hải quan, các quy định về xuất, nhập



9



10



khẩu, quản lý ngoại tệ và một thực tế là người bán và người mua ở cách xa nhau

bởi các đường biên giới. Thêm vào đó hai bên có thể chưa bao giờ gặp gỡ nhau

và vì vậy hoàn toàn lạ lẫm về thực trạng và sự trung thực trong kinh doanh của

nhau.

Do vậy, cái cần thiết cho nghiệp vụ này là một thể thức tiến hành đảm bảo

lợi ích của các bên liên quan. Người mua cần được biết rằng mình đã thanh tốn

và sẽ nhận được hàng hố phù hợp. Lợi ích của người bán là nhận được sự chắc

chắn trong thanh toán và muốn được thanh toán ngay lập tức. Để thỏa mãn cả

hai, tín dụng chứng từ đã được sử dụng rộng rãi, hình thức này được xử lý trong

mạng lưới các ngân hàng quốc tế, yêu cầu người xuất khẩu xuất trình cho ngân

hàng các chứng từ chứng minh sự giao hàng hoặc gửi các hàng hố đã u cầu,

qua đó, nếu các chứng từ hợp lệ, người bán sẽ được thanh tốn. u cầu sử dụng

thư tín dụng phải được ghi rõ trong hợp đồng mua bán.

1.2.2.2. Khái niệm, đặc trưng và vai trò của phương thức TDCT

a. Khái niệm về phương thức TDCT

Một cách khái quát, Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận,

trong đó, theo yêu cầu của khách hàng (người yêu cầu mở L/C), một ngân hàng

(ngân hàng phát hành L/C) sẽ phát hành một bức thư, gọi là L/C (Letter of

Credit), theo đó, NHPH cam kết trả tiền hoặc chấp nhận hối phiếu cho một bên

thứ ba (người thụ hưởng L/C) khi người này xuất trình cho NHPH bộ chứng từ

thanh tốn phù hợp với những điều kiện và điều khoản quy định của L/C [158;3]

Bằng ngơn ngữ luật, định nghĩa về Tín dụng chứng từ được nêu tại Điều 2,

UCP 600, 2007 như sau: “Tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận bất kỳ, cho dù

được mô tả hoặc gọi tên như thế nào, thể hiện một cam kết chắc chắn và khơng

huỷ ngang của NHPH về việc thanh tốn khi xuất trình phù hợp”[41;5].

b. Đặc trưng và vai trò của phương thức tín dụng chứng từ

* Đặc trưng



10



11



- TDCT là văn bản thể hiện sự cam kết trực tiếp của Ngân hàng (theo yêu

cầu của người NK) đối với người XK về việc thanh tốn tiền hàng. Người hưởng

lợi thư tín dụng khơng phải là người u cầu mở thư tín dụng.

Trong phương thức TDCT, Ngân hàng với tư cách không chỉ là trung gian

thu hộ và chi hộ, mà còn là đại diện của các bên. Ngân hàng phục vụ người NK

đại diện cho bên NK, thanh toán tiền hàng cho bên XK. Còn Ngân hàng đại diện

cho bên XK xem xét chứng từ và thu hộ tiền từ Ngân hàng người NK cho bên

XK. Ngân hàng có chức năng đảm bảo cho người NK nhận được hàng hóa cũng

như đảm bảo cho bên XK thu được tiền hàng.

- Việc chi trả có liên quan đến việc thể hiện chứng từ. Sự tồn tại của các

chứng từ này (bộ chứng từ) cũng như sự phù hợp của nó với các thời hạn tín

dụng tạo nên cơ sở nền tảng của phương thức TDCT.

- Thanh toán TDCT là một phương thức thanh toán dựa trên sự thỏa thuận

của bên NK và XK thông qua hợp đồng mua bán. Nhưng khi thực hiện thì nó lại

hồn tồn độc lập đối với hợp đồng mua bán cũng như hàng hóa và phương thức

thanh toán này chủ yếu chỉ dựa vào các chứng từ liên quan đến việc mua bán,

giao nhận hàng hóa.

* Vai trò thanh tốn tín dụng chứng từ

Đối với phương thức tín dụng chứng từ, quyền lợi của hai bên đều được bảo

đảm, người bán giao hàng và xuất trình chứng từ phù hợp với quy định của thư

tín dụng thì chắc chắn sẽ nhận được tiền, người mua thanh toán tiền và nhận

được hàng hoá như đã thỏa thuận trong hợp đồng.

Mặt khác, ở đây cam kết thanh tốn khơng phải từ phía người mua mà từ

một tổ chức trung gian tài chính là ngân hàng. Do vậy, cam kết thanh tốn đó là

chắc chắn và đầy đủ uy tín. Người bán không phải quan tâm nhiều đến khả năng

thanh tốn của tổ chức tín dụng đó. Nếu thấy uy tín của tổ chức tín dụng đó vẫn

chưa đảm bảo, người bán có thể yêu cầu có thêm một ngân hàng khác xác nhận

thư tín dụng, điều này làm tăng thêm gấp đơi mức độ bảo đảm trong thanh tốn

cho họ.



11



12



Phương thức TDCT hiện vẫn được coi là một trong những phương thức

thanh tốn an tồn nhất trong các phương thức TTQT hiện nay, đặc biệt là đối với

các đối tác ở các nước chưa thực sự có độ minh bạch cao về tài chính, chưa có sự

ràng buộc pháp lý chặt trẽ trong tranh chấp hợp đồng.

1.2.2.3. Cơ sở pháp lý của thanh tốn tín dụng chứng từ

- Quy tắc và Thực hành Thống nhất tín dụng chứng từ (UCP): mặc dầu chỉ

là những quy định được soạn thảo bởi phòng thương mại quốc tế (Paris) nhưng

được coi là Luật quốc tế về ngân hàng trong giao dịch tín dụng chứng từ và được

áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới. Điều này nói lên vai trò của nó trong việc kiến

tạo hành lang pháp lý cho mọi giao dịch quốc tế của ngân hàng, phục vụ nền

thương mại thế giới.

- eUCP- áp dụng cho xuất trình chứng từ điện tử theo L/C. eUCP có 12 điều

khoản.

- ISBP 681: Thực hành nghiệp vụ ngân hàng theo tiêu chuẩn quốc tế về

kiểm tra chứng từ theo L/C, phát hành 4/2007 có hiệu lực cùng thời điểm với

UCP600.

1.2.2.4.Thư tín dụng –Cơng cụ quan trọng của phương thức tín dụng

chứng từ.

a. Khái niệm thư tín dụng (Letter of Credit)

Thư tín dụng (gọi tắt là L/C) là văn bản pháp lý trong đó một ngân hàng

theo yêu cầu của khách hàng đứng ra xem xét sẽ trả cho người thụ hưởng hoặc

chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó nếu người

này xuất trình bộ chứng từ phù hợp với những qui định đã nêu trong văn bản

đó[246;2].

Điều 4 của UCP 600 nêu rõ: “Thư tín dụng về bản chất nó là một giao dịch

riêng biệt với hợp đồng mua bán hoặc hợp đồng khác, mà chính hợp đồng đó là

cơ sở cho ra đời thư tín dụng”[541;3];[45;5].

Như vậy, thư tín dụng là một văn bản pháp lý do Ngân hàng viết ra theo yêu

cầu của người NK (được gọi là người yêu cầu mở L/C) đảm bảo cam kết trả tiền



12



13



cho người XK (người hưởng lợi L/C) một số tiền nhất định trong một thời hạn

nhất định, quy định trong bức thư đó.

Hay nói một cách khác, L/C là văn bản thể hiện sự cam kết của Ngân hàng

phục vụ người mua đối với người bán để thực hiện nghĩa vụ trả tiền quy định

trong điều khoản thanh toán của hợp đồng mua bán.

b. Đặc điểm của L/C

* L/C là hợp đồng kinh tế hai bên

Thực tế, L/C là hợp đồng kinh tế độc lập chỉ của hai bên là NHPH và người

thụ hưởng, mọi yêu cầu và chỉ thị của người xin mở L/C đã do NHPH đại diện,

do đó, tiếng nói chính thức của người xin mở L/C không được thể hiện trong

L/C. Và bất kỳ một sự sửa đổi L/C đã được người XK và người NK đồng ý,

nhưng nếu NHPH không chấp nhận thì sửa đổi đó sẽ khơng bao giờ trở nên có

giá trị.

* L/C độc lập với hợp đồng cơ sở và hàng hóa

L/C có tính chất rất quan trọng, nó hình thành trên cơ sở của hợp đồng ngoại

thương, nhưng sau khi được thiết lập, nó lại hồn tồn độc lập với hợp đồng này.

Một khi L/C đã được mở và đã được các bên chấp nhận, thì cho dù nội dung của

L/C có đúng với hợp đồng ngoại thương hay không, cũng không làm thay đổi

quyền lợi và nghĩa vụ của các bên có liên quan đến L/C.

* L/C chỉ giao dịch bằng chứng từ và thanh toán chỉ căn cứ vào chứng từ

Các ngân hàng, chỉ trên cơ sở chứng từ, kiểm tra việc xuất trình để quyết

định xem trên bề mặt của chứng từ có tạo thành một xuất trình phù hợp hay

khơng. Việc nhà xuất khẩu có thu được tiền hay khơng, phụ thuộc duy nhất vào

xuất trình chứng từ có phù hợp; đồng thời, ngân hàng cũng chi trả tiền khi bộ

chứng từ xuất trình phù hợp, nghĩa là ngân hàng khơng chịu trách nhiệm về sự

thật của hàng hoá mà bất kỳ chứng từ nào đại diện.

Khi chứng từ xuất trình là phù hợp, thì NHPH phải thanh tốn vơ điều kiện

cho nhà xuất khẩu, mặc dù trên thực tế hàng hố có thể khơng được giao hoặc

được giao khơng hồn tồn đúng như ghi trên chứng từ. Như vậy, việc thanh toán



13



14



L/C khơng hề căn cứ vào tình hình thực tế của hàng hố, nếu hàng hố khơng

khớp với chứng từ, thì hai bên mua bán trực tiếp giải quyết với nhau trên cơ sở

hợp đồng mua bán, không liên quan đến ngân hàng.

* L/C yêu cầu tuân thủ chặt chẽ của bộ chứng từ

Vì giao dịch chỉ bằng chứng từ và thanh toán chỉ căn cứ vào chứng từ, nên

yêu cầu tuân thủ chặt chẽ của chứng từ là nguyên tắc cơ bản của giao dịch L/C.

Để được thanh toán, người xuất khẩu phải lập được bộ chứng từ phù hợp, tuân

thủ chặt chẽ các điều khoản và điều kiện của L/C, bao gồm số loại, số lượng mỗi

loại và nội dung chứng từ phải đáp ứng được chức năng của chứng từ yêu cầu.

c. Những nội dung cơ bản của một L/C

- Số hiệu của thư tín dụng (L/C)

- Địa điểm và ngày mở L/C

- Loại thư tín dụng

- Tên, địa chỉ của những người có liên quan đến phương thức tín dụng chứng

từ

- Số tiền của thư tín dụng

- Thời han hiệu lực của L/C

- Thời hạn trả tiền của L/C

- Thời han giao hàng

- Sự cam kết trả tiền của ngân hàng mở L/C

- Những điều khoản đặc biệt khác

- Chữ ký của ngân hàng mở thư tín dụng

- Các chứng từ mà người xuất khẩu phải xuất trình: các chứng từ tài chính và

các chứng từ thương mại quốc tế.

+ Chứng từ tài chính trong thanh tốn bằng L/C là hối phiếu

+ Chứng từ thương mại bao gồm các loại chứng từ sau: Hóa đơn thương mại,

chứng từ vận tải, các chứng từ bảo hiểm

d. Phân loại L/C

Mỗi loại L/C đều có tính chất, nội dung khác nhau, quyền lợi và nghĩa vụ của



14



15



các bên hữu quan cũng rất khác nhau. Do đó, cần phải xác định loại L/C cần mở.

(1) Các loại L/C cơ bản:

* L/C có thể huỷ ngang

Là loại L/C mà người mở có quyền đề nghị NHPH sửa đổi, bổ sung, hoặc

huỷ bỏ bất cứ lúc nào mà khơng cần có sự chấp thuận và thông báo trước của

người thụ hưởng.

Tuy nhiên, khi hàng hóa đã được giao, ngân hàng mới thơng báo lệnh huỷ

bỏ hoặc sửa đổi bổ sung thì lệnh này khơng có giá trị: Nghĩa là khi đó NHPH L/C

vẫn phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán như đã cam kết, coi như khơng có việc

huỷ bỏ xảy ra.

Vì tình trạng thanh toán bấp bênh, đặc biệt là quyền lợi người xuất khẩu

khơng được đảm bảo, do đó, loại L/C này hầu như không được sử dụng trong

thực tế mà chỉ tồn tại trên lý thuyết.

* L/C không thể huỷ ngang

Là loại L/C mà sau khi đã mở, thì NHPH không sửa đổi, bổ sung hay huỷ bỏ

trong thời hạn hiệu lực của L/C nếu khơng có sự đồng thuận của người thụ hưởng

và NHXN (nếu có).

Loại L/C này được sử dụng phổ biến nhất hiện nay trong thanh toán quốc tế

do quyền lợi của người xuất khẩu được đảm bảo.

* L/C khơng huỷ ngang có xác nhận

Là L/C khơng thể huỷ bỏ, theo yêu cầu của NHPH, một ngân hàng khác xác

nhận trả tiền cho L/C này, trách nhiệm trả tiền L/C của NHXN là giống như

NHPH, do đó NHPH phải trả phí xác nhận và thường là phải ký quỹ tại NHXN.

Tỷ lệ ký quỹ có khi lên tới 100% trị giá của L/C.

(2) Các loại L/C đặc biệt:

*L/C chuyển nhượng

Là L/C khơng huỷ ngang, theo đó, người hưởng lợi thứ nhất chuyển nhượng

một phần hay toàn bộ nghĩa vụ thực hiện L/C cũng như quyền đòi tiền mà mình



15



16



có được cho những người hưởng lợi thứ hai, mỗi người hưởng lợi thứ hai cho

mình một phần của thương vụ.

L/C chuyển nhượng chỉ được chuyển nhượng một lần, và chi phí chuyển

nhượng thường do người hưởng lợi ban đầu chịu, được sử dụng khi người hưởng

lợi thứ nhất khơng tự cung cấp được hàng hố mà chỉ là một người môi giới ,sự

chuyển nhượng phải được thực hiện theo L/C gốc

*L/C giáp lưng

Sau khi nhận được L/C do người nhập khẩu mở cho mình hưởng, nhà xuất

khẩu căn cứ vào nội dung L/C này và dùng chính L/C này để thế chấp mở một

L/C khác cho người khác hưởng với nội dung gần giống L/C ban đầu.

L/C được đem đi thế chấp gọi là L/C chủ hay L/C gốc: L/C sau gọi là L/C

giáp lưng hay còn gọi là L/C đối, L/C phụ; còn người xin mở L/C giáp lứng gọi

là trung gian.

Giữa L/C chủ và L/C đối khơng có mối liên hệ pháp lý nào. Người mở L/C

chủ khơng liên quan gì đến L/C đối, còn người thụ hưởng L/C đối cũng khơng có

liên quan gì đến L/C chủ.

*L/C tuần hồn

Là loại L/C khơng huỷ ngang mà sau khi đã sử dụng hết giá trị của nó hoặc

đã hết thời hạn hiệu lực thì nó lại (tự động) có giá trị như cũ và tiếp tục được sử

dụng một cách tuần hoàn trong một thời hạn nhất định cho đến khi tổng giá trị

hợp đông được thực hiện.

*L/C dự phòng

Để bảo vệ quyền lợi của nhà nhập khẩu trong trường hợp nhà xuất khẩu đã

nhận được L/C, tiền đặt cọc và tiền ứng trước, nhưng khơng có khả năng giao

hàng, hoặc khơng hồn thành nghĩa vụ giao hàng như đã qui định trong L/C, đòi

hỏi ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu phát hành một L/C trong đó cam kết với

người nhập khẩu là sẽ hồn trả lại số tiền đã đặt cọc, tiền ứng trước và chi phí mở

L/C cho nhà nhập khẩu.



16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Sử dụng vốn là hoạt động kinh doanh chủ yếu và quan trọng nhất của NHTM. Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động sử dụng vốn ngày càng đa dạng và được sử dụng dưới nhiều hình thức:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×