Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
L/C trả chậm dưới 1 năm

L/C trả chậm dưới 1 năm

Tải bản đầy đủ - 0trang

54



thanh toán, rủi ro lớn nhất đối với ngân hàng lúc này là mất vốn khi khách hàng bị

phá sản, hồn tồn khơng còn khả năng thanh tốn.

Tuy là phương thức ưu việt nhất và chiếm tỷ trọng lớn trong thanh tốn quốc tế

tại chi nhánh song thanh tốn tín dụng chứng từ vẫn không tránh khỏi việc gây ra

rủi ro cho các bên tham gia. Rủi ro tại Chi nhánh rất đa dạng nhưng tựu chung lại

đều bắt nguồn từ một trong những nguyên nhân sau:

Thứ nhất, do bản thân phương thức thanh tốn tín dụng chứng từ cũng còn

một số tồn tại như: căn cứ trả tiền duy nhất là bộ chứng từ nhưng nhiều khi bộ

chứng từ không phù hợp, không thống nhất. Điều này dễ dẫn đến tranh chấp, hiểu

lầm giữa các ngân hàng có trách nhiệm kiểm tra bộ chứng từ, gây ra rủi ro cho

chính các ngân hàng và cả hai bên xuất nhập khẩu. Ngân hàng tiến hành thanh toán

dựa trên sự phù hợp về bề mặt của các chứng từ chứ không dựa vào tình hình giao

hàng thực tế và tính chân thực của bộ chứng từ. Điều này đã và đang tạo ra kẽ hở

cho việc thực hiện hành vi gian lận, lừa đảo, gây rủi ro cho ngân hàng và người

nhập khẩu.

+ Đối với L/C xuất khẩu, việc xác định tính chân thực của L/C thơng qua mẫu

chữ ký còn gặp nhiều khó khăn, dễ dẫn tới việc thơng báo phải một L/C giả hoặc

chưa có hiệu lực. Điều này sẽ gây rủi ro cho ngân hàng thông báo và thiệt hại cho

nhà xuất khẩu khi đã giao hàng. Bên cạnh đó, việc chỉnh sửa một L/C cũng có thể

làm cho thời gian thông báo bị kéo dài, ảnh hưởng tới tiến độ thanh toán và gây

đọng vốn cho các bên tham gia.

+ Đối với L/C nhập khẩu, khi ngân hàng thiếu ngoại tệ bán cho khách hàng

hoặc bên nhập khẩu chưa muốn thanh tốn thì trong vòng 7 ngày sau khi nhận được

chứng từ, ngân hàng sẽ cố tình tìm ra những sai biệt dù là rất nhỏ để từ chối thanh

toán, ảnh hưởng tới tốc độ thu hồi vốn của bên xuất khẩu thậm chí thua lỗ nếu giá

cả trên thị trường biến động theo chiều hướng xấu.

Thứ hai, sai sót từ phía khách hàng: Đây là một trong những nguyên nhân chủ

yếu gây nên rủi ro trong q trình thanh tốn tín dụng chứng từ tại Chi nhánh cũng

như tại nhiều ngân hàng khác. Những sai sót đó hầu hết đều bắt nguồn từ trình độ



54



55



yếu kém của khách hàng. Hiện nay, theo thống kê thì giám đốc doanh nghiệp kinh

doanh xuất nhập khẩu chưa qua đào tạo chính quy về nghiệp vụ chiếm tỷ trọng lớn.

Thêm vào đó, khả năng hiểu biết về pháp luật quốc tế cũng như ngoại ngữ còn hạn

chế dẫn tới việc chấp nhận các điều kiện hợp đồng bất lợi để rồi sau đó khơng thực

hiện được làm cho đối tác có cơ sở để kéo dài thời gian thanh tốn, giảm giá hoặc từ

chối thanh tốn khiến cho q trình thanh tốn gặp nhiều khó khăn. Cũng vì sự yếu

kém về nghiệp vụ mà khách hàng đã thực hiện không đúng quy định của L/C, lập

những bộ chứng từ có cả những sai sót nhỏ như lỗi chính tả, tên, địa chỉ, số lượng

đến những sai sót lớn như thiếu chứng từ, chứng từ không thống nhất... làm cho tốn

kém rất nhiều thời gian và tiền bạc để sửa chữa. Trong trường hợp này tưởng chừng

rủi ro chỉ thuộc về người xuất khẩu nhưng thực tế nó lại ảnh hưởng rất nhiều tới uy

tín của ngân hàng với tư cách là người cố vấn và bảo vệ quyền lợi cho khách hàng.

Một rủi ro nữa xuất phát từ phía khách hàng là việc cố tình vi phạm các cam

kết với ngân hàng đặc biệt là các đơn vị vay thanh tốn L/C và L/C trả chậm. Có

nhiều trường hợp khách hàng yêu cầu ngân hàng phát hành thư bảo lãnh cho nhận

hàng trước khi nhận chứng từ giao qua ngân hàng và cam kết thanh tốn tiền hàng,

đồng thời khơng khiếu nại gì về bộ chứng từ sai sót và uỷ quyền cho ngân hàng tự

động ghi nợ vào tài khoản của mình để thanh tốn. Nhưng khi nhận hàng thì doanh

nghiệp đã bội ước. Sự bội ước này có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân song chủ

yếu là do bị thua lỗ, không tiêu thụ được hàng dẫn đến mất khả năng thanh toán.

Trong vài năm trở lại đây, Chi nhánh NHNo&PTNT Đà Nẵng nói riêng cũng

như nhiều ngân hàng thương mại khác đã chịu nhiều thiệt hại trong việc mở L/C

nhập hàng và bảo lãnh cho một số doanh nghiệp mà sau đó doanh nghiệp này làm

ăn thua lỗ, mất khả năng thanh toán hoặc đang trong vòng tố tụng. Trong những

trường hợp này, theo quy định của L/C, ngân hàng phải có trách nhiệm trả tiền cho

người bán. Vì vậy, để đảm bảo uy tín của mình và tn thủ thơng lệ quốc tế, ngân

hàng phải đứng ra trả tiền cho một số L/C quá hạn đồng thời với việc chấp nhận rủi

ro lớn là khả năng thu hồi vốn quá mong manh.



55



56



Thứ ba, là do nguyên nhân từ phía ngân hàng. Tuy phần các rủi ro trong thanh

tốn tín dụng chứng từ tại Chi nhánh xuất phát từ phía khách hàng nhưng ngân hàng

đơi khi cũng gây nên rủi ro mà chính mình phải gánh chịu. Có thể kể đến một số

nguyên nhân sau:

- Thời gian qua, hệ thống ngân hàng Việt Nam nói chung và Chi nhánh ngân

hàng nơng nghiệp Đà Nẵng nói riêng đã có nhiều cố gắng trong việc hiện đại hóa

cơng nghệ thanh tốn như trang bị máy vi tính cho từng thành viên, phát triển các

phần mềm ứng dụng, đặc biệt là thực hiện thanh toán theo hệ thống thanh tốn tập

trung của tồn bộ hệ thống ngân hàng nơng nghiệp, nối mạng SWIFT thanh tốn

quốc tế... Tuy nhiên, cơng nghệ này vẫn còn đang trong giai đoạn ứng dụng nên vẫn

chưa hoàn toàn đáp ứng đủ nhu cầu thanh toán và cập nhật các nghiệp vụ mới nảy

sinh ngày càng tăng của Chi nhánh. Đôi khi, việc truyền tin và nhận tin cũng như

việc hạch tốn còn trục trặc, gây chậm chễ chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn của

hoạt động thanh tốn nói chung và hoạt đơng thanh tốn tín dụng chứng từ nói

riêng.

- Một vấn đề nữa cũng phải bàn đến là khả năng thu thập thơng tin, đánh giá

tình hình doanh nghiệp còn nhiều bất cập. Do đó, việc phân loại khách hàng chưa

được đầy đủ và thiếu chính xác. Có khách hàng có hiện tượng vi phạm cam kết với

ngân hàng hoặc tình hình tài chính khơng lành mạnh nhưng vẫn được thực hiện bảo

lãnh. Các quy định an toàn trong ký quỹ đánh giá tài sản thế chấp, cầm cố, cam kết

của ngân hàng chưa được áp dụng chặt chẽ.

Thậm chí, đối với các L/C thế chấp bằng chính lơ hàng cũng chưa có sự giám

sát chặt chẽ của cán bộ ngân hàng khi hàng nhập về nên khi khách hàng đã bán và

sử dụng tiền vào mục đích khác mà ngân hàng không phát hiện ra.

Thứ tư, là vấn đề rủi ro đạo đức: đó là trường hợp cán bộ ngân hàng vì nể

nang trong quan hệ với khách hàng hoặc vì lợi ích riêng mà cố tình vi phạm thơng

lệ thanh tốn quốc tế hay các quy định trong quy trình thanh toán gây ra hậu quả

nghiêm trọng, làm giảm uy tín của ngân hàng.



56



57



Thứ năm, là mơi trường pháp lý cho hoạt động thanh tốn quốc tế nói chung

và thanh tốn theo phương thức tín dụng chứng từ nói riêng. Tầm quan trọng của

giao dịch tín dụng chứng từ đòi hỏi phải có hành lang pháp lý hồn thiện để các

ngân hàng thực hiện. UCP 600 thể hiện đầy đủ thông lệ và tập quán quốc tế và được

các ngân hàng thương mại trên thế giới chấp nhận và áp dụng nhưng tín dụng chứng

từ còn là giao dịch trong nước từ mối quan hệ giữa Ngân hàng - Người mở, Ngân

hàng - Người hưởng. Nó ln được chi phối bởi luật quốc gia. Như vậy, giao dịch

tín dụng chứng từ được tiến hành trên hành lang pháp lý quốc tế và quốc gia.

Hiện nay, hành lang pháp lý cho hoạt động này ở nước ta còn hẹp, bất cập và

chưa đồng bộ. Mặc dù đã có luật ngân hàng, nhưng đến tận bây giờ chúng ta vẫn

chưa có riêng một quy chế, văn bản pháp lý nào để hướng dẫn thực hiện giao dịch

thanh toán xuất nhập khẩu, chưa có văn bản pháp quy cơng nhận và hướng dẫn việc

áp dụng UCP, URR, URC, Incoterms... Bởi vậy, rất khó cho các đối tác Việt Nam

khi có sự khác biệt giữa luật quốc gia với các điều kiện và thông lệ quốc tế nếu có

tranh chấp.

Ngồi ra, chính sách thương mại chưa ổn định cũng là vấn đề gây khó khăn

lo lắng không chỉ cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu mà còn cho cả ngân hàng

bảo vệ lợi ích của họ. Chính sách thương mại khơng ổn định khiến các doanh

nghiệp sau khi đã ký hợp đồng nhập khẩu với nước ngồi mặt hàng năm nay cho

phép nhập thì đến năm sau lại không được phép nhập nữa, làm họ rơi vào thế tiến

thoái lưỡng nan.

Biểu thuế cũng liên tục thay đổi làm cho các doanh nghiệp gặp nhiều khó

khăn trong việc tính tốn hiệu quả kinh doanh. Từ đó dẫn đến nhiều trường hợp do

gặp lỗ trong kinh doanh vì thuế thay đổi mà các doanh nghiệp lừng chừng trong

việc thanh toán tiền cho đối tác, gây giảm sút uy tín cho ngân hàng phát hành.

Thủ tục hành chính trong quản lý xuất nhập khẩu còn rườm rà, mất nhiều

thời gian, gây phiền tối thậm chí lỡ mất cơ hội kinh doanh có các doanh nghiệp và

ngân hàng. Các bộ ngành liên quan phối hợp chưa chặt chẽ gây trở ngại cho hoạt

động thanh toán quốc tế.



57



58



Cuối cùng, chính sách tỷ giá hối đối cũng là ngun nhân gây rủi ro:

Những điều chỉnh về tỷ giá rất cần thiết đối với nền kinh tế, song sự thay đổi này đã

gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cho các doanh nghiệp nhập khẩu, đặc biệt là

đối với các doanh nghiệp mở L/C mua hàng trả chậm nước ngồi vì tiền hàng thu

được là VND, khi đến hạn thanh toán mới chuyển đổi ra USD để thanh toán với nhà

xuất khẩu nước ngồi. Do đó, rủi ro ngoại hối là khơng thể tránh khỏi.

2.2.4. Phân tích các tố ảnh hưởng đến thanh toán TDCT tại chi nhánh

NHN0&PTNT Đà Nẵng

Khảo sát các nhân tố ảnh hưởng đến thanh tốn tín dụng chứng từ tại chi

nhánh NHNo&PTNT ĐN

2.2.4.1. Mục tiêu khảo sát:

Qua tìm hiểu nhu cầu sử dụng dịch vụ L/C của các doanh nghiệp trên địa bàn

thành phố Đà Nẵng và các địa bàn lân cận để giúp chúng ta có thể xác định:

- Nguyên nhân vì sao doanh nghiệp đến với dịch vụ thanh toán L/C của chi

nhánh hay chưa được doanh nghiệp sử dụng.

- Thu thập ý kiến của khách hàng doanh nghiệp về dịch vụ thanh toán L/C do

chi nhánh NHNo&PTNT Đà Nẵng cung cấp.

Từ đó tìm ra giải pháp khắc phục, nhằm thúc đẩy sự mở rộng và phát triển của

hoạt động thanh toán L/C cũng như nâng cao hiệu quả cho hoạt động kinh doanh này

của ngân hàng.

2.2.4.2. Phương thức khảo sát:

a. Đối tượng khảo sát

Các Doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu đã, đang và chưa sử dụng dịch

vụ thanh tốn tín dụng chứng từ tại chi nhánh NHNo&PTNT trên địa bàn Đà Nẵng

và các địa bàn lân cận như TP Hội An, huyện Điện Bàn, huyện Đại Lộc.

b. Mẫu khảo sát:

Để xem xét rõ đánh giá về dịch vụ thanh toán L/C của Chi nhánh tại Đà Nẵng

và các địa bàn lân cận: TP Hội An, huyện Điện Bàn, huyện Đại Lộc, tác giả đã điều

tra lấy ý kiến đánh giá của 165 doanh nghiệp theo phương pháp chọn mẫu ngẫu



58



59



nhiên ở nơi có các khu vực, các khu công nghiệp, cụm công nghiệp thuận lợi để tiếp

cận và thu hút các khách hàng là doanh nghiệp XNK.

c. Phương pháp khảo sát và xử lý số liệu:

Thiết kế bản câu hỏi, điều tra, sàn lọc dữ liệu, số liệu được xử lý theo phương

pháp thống kê và phân tích tổng hợp.

d. Nội dung khảo sát: xem phần phụ lục 1

2.2.4.3. Kết quả khảo sát

Qua điều tra khảo sát cho thấy:

* Việc thông báo thư tín dụng / sửa đổi được ưu tiên sử dụng tại ngân hàng là

điện thoại (chiếm tỷ lệ 75%) vì tính tiện lợi nhanh chóng của điện thoại, các hình thức

còn lại là thư (chiếm 25%) và email (10%)

* Thời gian thông báo là “Trong ngày làm việc kể từ khi nhận được thư tín dụng

/ sửa đổi” (chiếm tỷ lệ 80%) cho thấy thời gian phục vụ khách hàng nhanh chóng ,

sau 1 ngày chiếm tỷ lệ 20% còn lại. Bởi vì đối với một số thư tín dụng khơng thể xác

định tính chân thật ngay được, ngân hàng phải nhờ ngân hàng đại lý của mình xác

định rồi mới thông báo cho khách hàng được .

- Khách hàng rất quan tâm đến uy tín ngân hàng, phí giao dịch, thủ tục đơn giản,

khả năng tư vấn của cán bộ TTQT (chiếm tỷ lệ trên 85%)

- Rất hài lòng: 69%

- Hài lòng: 20%

- Bình thường: 8%

- Khơng hài lòng: 3%

Theo quan điểm Marketing, bí quyết giúp cho ngân hàng có thể thu hút khách

hàng, mở rộng thị phần, gia tăng lợi nhuận đó là thỏa mãn được mong đợi của

khách hàng. Do đó, khi thỏa mãn được mong đợi của khách hàng thì ngân hàng có

thể mở rộng được thị phần của ngân hàng nói chung và dịch vụ nói riêng trong đó

có dịch vụ thanh tốn tín dụng chứng từ.

Tóm lại, qua điều tra dịch vụ hoạt động TDCT của 165 doanh nghiệp tại 4 địa

bàn cho thấy chất lượng dịch vụ mà các chi nhánh phụ thuộc NHNo&PTNT ĐN



59



60



cung cấp tốt nhưng vẫn chưa thu hút được nhiều khách hàng, thị phần hoạt động

thanh tốn L/C còn thấp.

2.2.4.4. Kết luận

Qua kết quả khảo sát cho thấy chi nhánh phải khắc phục những hạn chế sau

đây để có thể mở rộng hoạt động thanh tốn L/C:

- Chính sách thu hút khách hàng: Chưa mở rộng được nhiều hoạt động thanh

toán TDCT đến với các khách hàng ở các địa bàn.

Các khách hàng tham gia dịch vụ thanh toán TDCT chủ yếu là các khách hàng

trên địa bàn Đà Nẵng, các khu cơng nghiệp như khu cơng nghiệp Hòa Khánh, Khu

công nghiệp An Đồn. Chưa khai thác tốt khách hàng ở cụm cơng nghiệp Hòa Cầm,

và các địa bàn lân cận.

- Thời gian thông báo cho khách hàng vẫn còn chậm.

- Thủ tục giao dịch tại chi nhánh còn phức tạp, qua nhiều công đoạn và nhiều

bộ phận.

- Nhân viên tư vấn cho khách hàng chưa nhiệt tình.

- Thơng tin cung cấp cho khách hàng vẫn chưa kịp thời.

2.2.5. Đánh giá chung về hoạt động thanh tốn tín dụng chứng từ tại

NHNo&PTNT TP Đà Nẵng.

2.2.5.1. Những thành quả đạt được

- Hoạt động thanh tốn tín dụng chứng từ thu hút được nhiều khách hàng đến

giao dịch.

- Nâng cao uy tín của NHNo&PTNT trong lĩnh vực thanh tốn quốc tế trên

trường quốc tế: Từ một Ngân hàng chuyên hoạt động kinh doanh đối nội với phần

đông khách hàng nông dân giao dịch nội tệ, đến nay NHNo&PTNT ĐN đã quan

tâm nhiều đến hoạt động kinh doanh đối ngoại.

- NHNo&PTNT ĐN triển khai dự án hiện đại hố cơng nghệ ngân hàng

(IPCAS). Đến nay cán bộ ngân hàng sử dụng thành thạo trên hệ thống IPCAS và đủ

khả năng xử lý mọi vấn đề trở ngại trong phạm vi thẩm quyền, đồng thời thường

xuyên chuẩn hóa số liệu, chỉnh sửa kịp thời các sai sót.



60



61



- Có các chính sách thu hút khách hàng về mức ký quỹ mở L/C.

- Nhân viên thanh toán quốc tế xử lý tốt nghiệp vụ:

+ Đối với L/C xuất: Chưa có bộ chứng từ nào bị Ngân hàng nước ngồi từ chối

thanh tốn do lỗi lập và kiểm tra chứng từ.

+ Đối với L/C nhập: Kiểm tra nhanh chóng, chính xác và thơng báo kịp thời để

khách hàng nhận hàng, giảm thời gian lưu kho, bãi...

- Thủ tục thanh toán ngày càng được đơn giản và nhanh chóng, cải thiện về

chất lượng, thể hiện qua kỹ thuật nghiệp vụ phức tạp của L/C được xử lý ngày

càng nhanh chóng, chính xác.

-Trên cơ sở những bài học kinh nghiệm trong việc quản lý mở L/C trả chậm,

giải quyết tranh chấp trong q trình thanh tốn TDCT với nước ngồi ... của cả

hệ thống trong đó có chi nhánh NHNo&PTNT ĐN, NHNo&PTNT Việt Nam đã

ban hành, bổ sung, chỉnh sửa cơ bản và đồng bộ các cơ chế, quy chế, quy trình

liên quan đến thanh tốn L/C XNK.

2.2.5.2. Những hạn chế

a. Chưa mở rộng hoạt động tài trợ thương mại tạo cở sở mở rộng dịch vụ

thanh toán L/C

Hiện nay, NHNo&PTNT TPĐN vẫn chưa thu hút được nhiều khách hàng tại

các Khu công nghiệp, Khu kinh tế mở và các cụm công nghiệp. Lượng khách hàng

này rất tiềm năng trong việc phát triển hoạt động TTQT của ngân hàng cũng như

các hoạt động ngân hàng khác.

Thị phần thanh tốn quốc tế của chi nhánh còn thấp. Do đó ảnh hưởng đến

hưởng đến thị phần thanh tốn L/C.

b. Chính sách khách hàng về hoạt động TTQT nói chung và hoạt động tín dụng

chứng từ chưa hợp lý

Số lượng khách hàng của Chi nhánh vẫn còn ít, vẫn chỉ là khách hàng

thường xuyên của chi nhánh như Cty TNHH Hải Hà (Thủy sản), Cty Cổ phần

thủy sản Đà Nẵng, Cty TNHH dây và cáp điện Tân Cường Thành, Công ty cổ



61



62



phần XNK Đà Nẵng (Cotimex), công ty cổ phần thép Thành Lợi, Công ty Điện

lực 3,…

Đây là mảng hoạt động quan trọng trong chiến lược phát triển của ngân hàng,

song chưa được thực sự quan tâm đầy đủ. Các sản phẩm dịch vụ về thanh toán L/C

chưa đa dạng, chưa đáp ứng được đòi hỏi của khách hàng và nhu cầu phát triển của

thương mại trong quá trình hội nhập. Một số chi nhánh phụ thuộc chưa đánh giá hết

tầm quan trọng của hoạt động TTQT nói chung và thanh tốn L/C nói riêng, khơng

chú trọng, khơng quan tâm phát triển, thậm chí bỏ ngỏ mảng hoạt động này.

Chưa có chính sách thu hút khách hàng đến giao dịch tại Chi nhánh một cách

có hiệu quả, các hoạt động Maketing chưa được chú trọng đầu tư. Khách hàng đến

giao dịch tại ngân hàng chưa thấy được ưu điểm, sự khác biệt so với các ngân hàng

khác. Hoạt động L/C tuy đã phát triển và có nhiều tiềm năng, song việc đầu tư cho

hoạt động quảng cáo, tiếp thị vẫn chưa được chú trọng.

Công tác Marketing của Chi nhánh vẫn chưa thật hiệu quả và kịp thời nên

dẫn đến chưa giữ chân được một số khách hàng và thu hút thêm khách hàng mới.

Ngân hàng vẫn chưa bám sát thị trường cũng làm giảm khả năng cạnh tranh của

chi nhánh.

c. Các sản phẩm, dịch vụ của phương thức tín dụng chứng từ chưa phong phú,

đa dạng .

Loại thư tín dụng được áp dụng chủ yếu tại chi nhánh hiện nay là L/C trả ngay,

L/C chuyển nhượng. Các loại L/C đặc biệt đáp ứng được thực tế đa dạng như L/C

giáp lưng, L/C tuần hồn, L/C chuyển nhượng còn ít được mở thực hiện qua Chi

nhánh. Chưa phát triển dịch vụ tư vấn thanh toán XNK, chưa nối mạng giao dịch

với khách hàng để phụ vụ cho thanh toán L/C.

Nguồn ngoại tệ phục vụ khách hàng nhập khẩu chủ yếu dựa vào nguồn mua

từ Sở Giao dịch Kinh doanh vốn và ngoại tệ, hạn chế tính chủ động trong việc

thanh tốn, đồng thời chi nhánh phải chịu thêm chi phí để trả phí mua bán nội bộ.

d. Hoạt động thanh tốn quốc tế chỉ được thực hiện tại một số chi nhánh



62



63



Hầu hết các giao dịch về thanh toán L/C mới chỉ tập trung tại một số chi nhánh

như hội sở Chi nhánh và một số chi nhánh Liên Chiểu, Thanh Khê.

Hiện nay, trước tình hình cạnh tranh diễn ra gây gắt trên địa bàn TP Đà Nẵng

Chi nhánh phải phấn đấu nỗ lực hơn nữa để phát huy những thành quả đạt được,

nhanh chóng khắc phục nhược điểm và yếu kém để trở thành một ngân hàng thương

mại hiện đại nhằm hướng đến kinh doanh bền vững mang lại lợi nhuận.

e. Thời gian xử lý các giao dịch trong hoạt động thanh tốn chứng từ còn

chậm

Mức độ xử lý tự động các giao dịch chưa cao, giao dịch vẫn phụ thuộc nhiều

vào thao tác của con người. Thời gian từ khi bắt đầu đến khi giao dịch hoàn tất các

giao dịch vẫn chậm có khi phải từ 1 đến 2 ngày, thậm chí còn lâu hơn nếu gặp

trường hợp ách tắc đường truyền, lỗi hệ thống. Do khối lượng các giao dịch của

tồn hệ thống ngân hàng nơng nghiệp Việt Nam ngày càng tăng lên trong khi đó hệ

thống máy tính, đường truyền thông của các chi nhánh chưa được nâng cấp hoặc đã

được nâng cấp nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế nên thường hay xảy ra

tình trạng nghẽn mạch, làm giảm tốc độ thực hiện giao dịch thanh tốn.

Chưa có chương trình nối mạng trực tiếp giữa chi nhánh cấp 1 và các chi

nhánh phụ thuộc trong q trình chuyển báo có, báo nợ về ngoại tệ. Tất cả báo có

đều thực hiện thủ cơng, thơng qua máy Fax, gây chậm trễ trong việc ghi có vào tài

khoản cho khách hàng.

f. Cơng tác kiểm tra kiểm tốn chưa được thực hiện nghiêm túc, thường

xuyên

Công tác kiểm tra, kiểm toán chưa được thực hiện nghiêm túc và thường xuyên

nên chưa kịp thời phát hiện các sai sót để sửa chữa khắc phục hoặc rút kinh nghiệm.

Chi nhánh chưa làm được công việc là thu thập những vướng mắc phát sinh trong quá

trình hoạt động thực tiễn giao dịch hàng ngày tại các Chi nhánh của mình để nghiên

cứu rút ra hướng giải quyết hợp lý nhất, từ đó các chi nhánh khác sẽ có kinh nghiệm để

xử lý nếu tình huống đó xảy ra. Các quy định, cơ chế quản lý, kiểm soát rủi ro trong

hoạt động kinh doanh đối ngoại nhìn chung chưa đầy đủ nên khả năng phát hiện kịp



63



64



thời sai phạm và ngăn chặn rủi ro chưa tốt. Điều đó có thể tạo cơ hội cho các cán bộ cố

ý làm trái quy định, quy trình nghiệp vụ gây ra những bất lợi cho ngân hàng mình.

g. Chất lượng nguồn nhân lực về hoạt động thanh toán quốc tế chưa cao

Những cán bộ mới chưa được đào tạo, tập huấn bài bản về thanh toán quốc tế,

còn thiếu kinh nghiệm trong việc xử lý nghiệp vụ thanh tốn quốc tế. Chính vì thế,

việc tiếp thị khách hàng, giới thiệu sản phẩm cũng như chăm sóc khách hàng còn rất

nhiều hạn chế. Nhiều khách hàng là cá nhân, doanh nghiệp đến ngân hàng giao dịch

chỉ biết thực hiện một cách máy móc theo những yêu cầu do ngân hàng đưa ra,

trong khi đó các thanh tốn viên chỉ có thể cung cấp cho khách hàng một số điều cơ

bản ngắn gọn nhất. Nếu có sai sót xảy ra thì tạo nên một sự lãng phí rất lớn về thời

gian và chi phí đối với cả khách hàng và ngân hàng.

Cán bộ phụ trách kiêm nhiều công việc nên khó kiểm định, quản lý các

khoản vay xuất khẩu…, một số khâu quản lý còn khá lỏng. Sự kết hợp giữa ngân

hàng và nhà xuất khẩu chưa chặt chẽ, ngân hàng chưa tư vấn tốt cho khách hàng

để đảm bảo việc thanh toán L/C được thuận lợi

2.2.5.3. Nguyên nhân ảnh hưởng đến hoạt động thanh tốn tín dụng

chứng từ NHNo&PTNT ĐN

a. Nguyên nhân từ phía NHNo&PTNT ĐN

* Chưa xây dựng các điều kiện cạnh tranh hơn các điều kiện doanh nghiệp

xuất nhập khẩu đang hưởng ở các ngân hàng khác

Với vị thế là một chi nhánh đóng tại trung tâm là nơi tập trung nhiều ngân

hàng lớn làm cho chi nhánh gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp thị khách hàng do

không thể đưa ra các điều kiện cạnh tranh hơn các điều kiện mà doanh nghiệp

xuất nhập khẩu đang hưởng ở các ngân hàng thương mại khác. Những giải pháp

nâng cao năng lực cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường, thị phần chưa có kết quả tốt.

Cơng tác marketing, phát triển sản phẩm mới còn rất hạn chế, chưa có sự chuyên

nghiệp cao. Một phần do nhân viên mới, tuổi nghề chưa cao nên khả năng am

hiểu về các nghiệp vụ ngân hàng, hiểu rõ điểm mạnh, điểm yết của các đối thủ

cạnh tranh còn hạn chế, bên cạnh đó còn thiếu kinh nghiệm trong khả năng



64



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

L/C trả chậm dưới 1 năm

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×