Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
5 Một số kiến nghị

5 Một số kiến nghị

Tải bản đầy đủ - 0trang

95



giải đáp thắc mắc của họ về hoạt động tín dụng. Từ đó, ngân hàng có thể đưa ra

những biện pháp tích cực để khắc phục những hạn chế, đồng thời đưa ra những

chính sách, dịch vụ hợp lý hơn để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của các khách hàng

([02], PGS.TS Đinh Văn Sơn, 2009).

b. Huy động và cân đối vốn đảm bảo phục vụ nhu cầu vay vốn của khách

hàng

Sự phát triển của dịch vụ tín dụng ngân hàng chịu sự tác động trực tiếp bởi

khả năng cung ứng vốn. Ngân hàng nào có tiềm lực tài chính mạnh, khả năng huy

động vốn tốt, nguồn vốn khả dụng cao, lãi suất huy động thấp sẽ có điều kiện tiếp

cận với nhiều hợp đồng vay. Chính vì vậy, huy động vốn và cân đối vốn nội tệ và

ngoại tệ là công việc đầu tiên một ngân hàng phải thực hiện để tạo điều kiện cho

hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Nguồn vốn ngân hàng phải dồi dào, tăng

trưởng vững chắc thì ngân hàng mới đáp ứng được nhu cầu vay vốn của các doanh

nghiệp. Để làm được điều này ngân hàng cần thực hiện tốt các biện pháp sau:

Một là: Chính sách lãi suất

Một chính sách lãi suất linh hoạt và hợp lý sẽ là điều kiện tốt cho ngân hàng

huy động vốn. Cụ thể lãi suất phải phù hợp với thời hạn của nguồn tiền huy động;

phải có mục tiêu trọng điểm hướng tới đối tượng khách hàng cụ thể đó như: khách

hàng sử dụng nhiều sản phẩm dịch vụ của ngân hàng, có uy tín với ngân hàng, có

mối quan hệ lâu dài với ngân hàng sẽ được ưu đãi về lãi suất tiền gửi: ví dụ như

khách hàng có số dư tiền gửi cao ngân hàng nên có chính sách ưu đãi hợp lý về lãi

suất, phí dịch vụ; áp dụng tỷ giá ưu tiên và lãi suất thích hợp với khách hàng xuất

khẩu có nguồn thu ngoại tệ lớn bán cho ngân hàng…

Thứ hai: Chính sách sản phẩm và dịch vụ

Ngân hàng cần tăng cường việc cung ứng các dịch vụ tín dụng cho khách

hàng, đa dạng hóa về chủng loại sản phẩm dịch vụ nhằm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu

khách hàng, cụ thể: tăng cường thêm các dịch vụ ủy thác, bảo quản tài sản, tư

vấn…; đa dạng về thời hạn huy động, phương thức huy động. Đồng thời, tuyên



96



truyền, quảng cáo, tư vấn cho các khách hàng làm quen và hiểu rõ lợi ích từ các

dịch vụ này.

Bên cạnh đó, ngân hàng cần tích cực triển khai các hoạt động chăm sóc

khách hàng như gửi quà tặng, thiệp chúc mừng dịp lễ, tết, kỷ niệm ngày thành lập

doanh nghiệp, ngày sinh nhật của các cán bộ quản lý doanh nghiệp, khách hàng cá

nhân….để gia tăng sự hiểu biết, thân thiện với khách hàng.

Thứ ba: Chính sách về mạng lưới thơng tin và con người

Muốn phát triển được các sản phẩm dịch vụ, thì ngân hàng cần tổ chức tốt

hơn nữa việc xây dựng các mạng lưới thông tin, tăng cường chất lượng thơng tin.

Phát triển và hồn thiện hệ thống các cơng cụ hỗ trợ hoạt động tín dụng cho khách

hàng thông qua các trang Web của ngân hàng, với mục đích để truyền tải thơng tin,

rút ngắn khoảng cách giữa ngân hàng và khách hàng…

Đi đôi với việc ứng dụng công nghệ tiên tiến hiện đại ngân hàng cần phải

làm tốt cơng tác cán bộ, nâng cao năng lực trình độ cán bộ ngân hàng để tránh lãng

phí nguồn vốn đầu tư, đặc biệt là những ứng dụng của công nghệ thơng tin.

Bên cạnh đó, hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh khá phức tạp,

liên quan đến lợi ích của khách hàng thuộc các thành phần khác nhau về điều kiện

sản xuất kinh doanh, năng lực tài chính, đạo đức kinh doanh, nhu cầu về loại hình

dịch vụ. Do đó ngân hàng cần xây dựng được phong cách giao tiếp văn minh, lịch

sự trong đội ngũ cán bộ: nhiệt tình, chu đáo với khách hàng đồng thời vẫn chấp

hành các quy trình nghiệp vụ và quy định về bảo mật thông tin của ngân hàng.

c. Cải thiện các điều kiện vay vốn và thủ tục hành chính

Thơng thường, một sản phẩm dịch vụ ngân hàng được coi là hồn thiện và có

chất lượng tốt nếu nó đáp ứng được tốt nhất, nhiều nhất nhu cầu mong muốn của

khách hàng. Khi đánh giá mức độ hoàn thiện của một dịch vụ tín dụng ngân hàng,

khách hàng thường dựa vào các tiêu chí như: điều kiện và thủ tục sử dụng dịch vụ

đơn giản hay phức tạp, tốc độ xử lý nhanh hay chậm, mức độ an tồn, chính xác cao

hay thấp, thái độ phục vụ của nhân viên ngân hàng như thế nào, chi phí lãi vay, phí



97



dịch vụ cao hay thấp và lợi ích khách hàng đạt được ra sao…về phía ngân hàng,

một dịch vụ tín dụng hồn thiện trước hết phải là những dịch vụ đáp ứng nhu cầu

của khách hàng tốt hơn đối thủ cạnh tranh, tiếp đó là phải đem lại lợi ích cho chính

ngân hàng thể hiện ở thu nhập hoạt động cho vay và tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn trên

tổng dư nợ. Để đạt được điều đấy ngân hàng cần thực hiện các vấn đề sau:

Một là: làm cho việc sử dụng dịch vụ tín dụng ngày càng trở nên dễ dàng

hơn, thuận tiện hơn, hấp dẫn hơn và đem lại cho khách hàng những giá trị và tiện

ích mới bằng cách hồn thiện quy trình nghiệp vụ, đơn giản thủ tục và điều kiện sử

dụng dịch vụ.

Đặc biệt quan tâm tới cơng tác thẩm định dự án nhằm có những quyết định

đúng đắn nhất trong việc lựa chọn khách hàng và dự án đầu tư. Trong đó, quan

trọng nhất là ngân hàng phải thiết lập một hệ thống thu nhập thơng tin tín dụng đa

chiều trên cơ sở có chọn lọc. Bởi việc thu thập thơng tin tốt, chính xác, kịp thời

không những giúp cho ngân hàng đánh giá một cách chính xác năng lực của khách

hàng mà còn giúp cho việc đưa ra quyết định tín dụng một cách nhanh chóng,

khơng bỏ lỡ những khách hàng tiềm năng của ngân hàng cũng như không làm mất

cơ hội kinh doanh của khách hàng.

Thứ hai: Ngân hàng khơng ngừng hồn thiện, bổ sung và cải tiến hệ thống

đánh giá, chấm điểm xếp hạng khách hàng sao cho phù hợp với thực trạng doanh

nghiệp về mọi mặt như tài sản thế chấp, hệ thống kế tốn….để làm tăng hiệu quả,

giảm chi phí nhờ việc tự động hóa một phần q trình ra quyết định.

Thứ ba: ngân hàng nên xem xét và nới lỏng điều kiện cho vay, quan tâm chủ

yếu đến tính khả thi, hiệu quả của dự án và kế hoạch sản xuất kinh doanh. Đối với

tài sản bảo đảm, việc đinh giá phải tương xứng với giá trị thị trường và hợp lý để

giúp khách hàng có thể vay được số tiền sát với nhu cầu vốn của mình nhất. Đối với

các khách hàng được đánh giá là có tiềm năng phát triển mà chưa có đủ điều kiện về

tài sản thế chấp thì có thể tạo điều kiện cho họ được vay khơng có tài sản làm bảo



98



đảm một cách an toàn và hiệu quả, bảo lãnh hay thế chấp, cầm cố từ chính những tài

sản hình thành từ vốn vay hoặc cho vay có một phần tài sản làm bảo đảm.

Thứ tư: Coi trọng việc hoàn thiện sản phẩm truyền thống theo hướng bổ sung

những tính năng mới – thực chất là gia tăng giá trị sử dụng của dịch vụ và phát triển

các sản phẩm mới phù hợp hơn với các khách hàng. Thay vì một sản phẩm dịch vụ

chỉ đáp ứng được một nhu cầu, nay một sản phẩm dịch vụ có thể đáp ứng được

nhiều nhu cầu cho khách hàng. Ứng dụng công nghệ mới hiện đại để có thể cung

cấp các sản phẩm dịch vụ trọn gói cho các khách hàng, vừa gia tăng được các tiện

ích, vừa có điều kiện hạ thấp chi phí trên một đơn vị sản phẩm.

Việc cải thiện các điều kiện vay vốn và các thủ tục hành chính, sẽ giúp cho

ngân hàng có thể giảm thời gian cung cấp các sản phẩm dịch vụ, từ đó nâng cao sự

thỏa mãn và gia tăng số lượng khách hàng mới.

d. Nâng cao năng lực và hiệu suất làm việc của nhân viên

Cơng tác tổ chức, cán bộ là chìa khố thành cơng cho ngân hàng, chính vì

vậy nhân viên ngân hàng cần phải là người hiểu biết rộng, am hiểu về luật pháp và

thị trường, về khách hàng, chuyên sâu kiến thức về các khách hàng, có phương pháp

làm việc khoa học, có kỹ năng giao tiếp và chăm sóc khách hàng tốt, biết nhận định

thị trường và tư vấn cho khách hàng, giúp khách hàng lựa chọn được dịch vụ thích

hợp và mang lại hiệu quả cao cho khách hàng. Để thực hiện được điều này, ngân

hàng cần thực hiện các giải pháp sau:

Thứ nhất: Cần tiếp tục nâng cao trình độ cán bộ tín dụng, tăng cường cơng

tác đào tạo và đào tạo lại để cán bộ tín dụng có đủ kiến thức chun mơn cũng như

kiến thức về kinh tế thị trường. Ngân hàng thường xuyên có nhiều hình thức đào tạo

khác nhau với cán bộ nhân viên như: đào tạo tại chỗ, gửi đi học tập ở các tổ chức

trong và ngoài nước, mời giáo viên về tập huấn theo chuyên đề.... Trước mắt, cần

thường xuyên phối hợp với các ngân hàng thương mại khác và các cơ quan thuộc

Chính phủ tổ chức các cuộc hội thảo, tập huấn cho các cán bộ về nghiệp vụ, kỹ

năng trong quan hệ với các khách hàng như: phương pháp đánh giá tài sản thế chấp



99



vay vốn ngân hàng, các thơng số thẩm định kết quả tài chính, kết quả hoạt động của

doanh nghiệp, vấn đề thơng tin phòng chống và cảnh báo rủi ro; tổ chức cuộc thi

cán bộ tín dụng giỏi nhằm khuyến khích cán bộ tín dụng học hỏi kinh nghiệm từ các

ngân hàng bạn đồng thời cập nhật được những thông tin mới và bổ ích.

Thứ hai: Tổ chức thi tuyển một cách công bằng, nghiêm túc, khách quan

tuyển chọn những người có năng lực, tâm huyết với nghề, ưu tiên những người có

kinh nghiệm. Quy trình tuyển chọn cán bộ khơng nên cứng nhắc mà phải dựa trên

năng lực thực tế để quyết định bố trí sắp xếp cơng việc cũng như thu nhập một cách

thỏa đáng.

Thứ ba: Chương trình hợp tác giáo dục với trường đại học trong cả nước, đặc

biệt là các trường đại học trên địa bàn hoặc tổ chức các đợt thực tập là phương pháp

chiêu mộ hữu hiệu không chỉ giúp ngân hàng có thể tuyển chọn những sinh viên tốt

nghiệp đạt loại giỏi, suất xắc, mà bên cạnh đó giúp ngân hàng có thể tiết kiệm được

nhiều chi phí và qng bá được hình ảnh thương hiệu cho mình.

Thứ tư: Bố trí sắp xếp sử dụng đội ngũ cán bộ tín dụng phải phù hợp với vị

trí yêu cầu của từng công việc và phải đảm bảo đúng tiêu chuẩn, phù hợp với sở

trường. Phân rõ trách nhiệm pháp lý của từng vị trí cơng tác, đảm bảo quyền lợi gắn

với trách nhiệm.

Thứ năm: Xây dựng chính sách tiền lương, thưởng theo cơ chế động lực

công bằng, thỏa đáng nhằm thu hút được người tài, khuyến khích được cán bộ yêu

nghề, tận tâm, tận lực với công việc, gắn bó với cơ quan, nâng cao năng suất, chất

lượng lao động và giảm cạnh tranh về chất xám trong thị tài chính ngân hàng.

Thứ sáu: Cần chú trọng xây dựng và gắn kết mối quan hệ với hiệp hội doanh

nghiệp của Trung ương, của từng tỉnh, thành phố, các quỹ bảo lãnh tín dụng dành

cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hiệp hội doanh nghiệp trẻ, các hiệp hội lành

nghề, các phòng cơng nghiệp và thương mại của thành phố để nắm bắt các hoạt

động sản xuất kinh doanh và nhu cầu của các doanh nghiệp.

3.5.2 Giải pháp khắc phục và hạn chế điểm yếu



100



Để đạt được các mục tiêu chiến lược thì ngồi việc tăng cường và phát huy

các điểm mạnh thì Agribank Đà Nẵng cũng cần phải triển khai các giải pháp để hạn

chế và khắc phục các điểm yếu, cụ thể:

a. Phát triển các sản phẩm dịch vụ trọn gói phục vụ cho khách hàng

Việc phát triển các sản phẩm dịch vụ sẽ giúp cho ngân hàng có thể tăng

doanh thu ngồi tín dụng, hạn chế tối đa thời gian và các chi phí trong việc phát

triển các sản phẩm mới, đồng thời nâng cao sự thỏa mãn khách hàng, củng cố lòng

trung thành của khách hàng truyền thống và gia tăng các khách hàng mới.

Hiện nay ngân hàng mới chỉ dừng lại ở việc cung cấp một số sản phẩm cho

các khách hàng như: cho vay, bảo lãnh, chiết khấu bộ chứng từ, thanh toán quốc tế

và dịch vụ tài khoản. Trong khi đó, một trong những mong muốn của các khách

hàng nói chung là được sử dụng những sản phẩm trọn gói, đa tiện ích cho hoạt

động kinh doanh của mình được tiến hành một cách hiệu quả, tiện lợi và nhanh

chóng. Mặt khác tín dụng và dịch vụ là hai hoạt động gắn kết với nhau, sản phẩm

tín dụng – dịch vụ trọn gói bao gồm cung ứng tín dụng và các dịch vụ bảo hiểm,

kinh doanh ngoại tệ, thanh toán quốc tế…sẽ cho phép khai thác toàn diện các tiềm

năng hợp tác với các khách hàng.

Ngân hàng có thể áp dụng một số sản phẩm trọn gói như:

Sản phẩm “tài trợ dự án trọn gói" cung cấp dịch vụ trọn gói bao gồm bảo

lãnh (bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh tạm ứng, bảo lãnh

thanh toán, bảo lãnh bảo hành...), vay vốn, thanh toán quốc tế/trong nước cho các

khách hàng là doanh nghiệp theo trình tự phát sinh nhu cầu của khách hàng khi thực

hiện dự án/phương án kinh doanh. Khách hàng yên tâm thực hiện dự án trên cơ sở

ngân hàng cam kết hỗ trợ cấp bảo lãnh, cho vay, các dịch vụ thanh toán quốc tế và

trong nước cho tồn bộ q trình thực hiện dự án ngay sau khi khách hàng trúng

thầu hoặc ký kết hợp đồng; Khách hàng được hưởng các ưu đãi về tỷ lệ ký quỹ bảo

lãnh, mức vay tối đa do sử dụng dịch vụ tài trợ trọn gói; Chính sách lãi suất hợp lý,

cạnh tranh.



101



Sản phẩm “Xuất nhập khẩu trọn gói” là sự kết hợp giữa ba đơn vị độc lập:

công ty vịch vụ về Cảng, công ty bảo hiểm và ngân hàng về dịch vụ xuất nhập khẩu

hàng hóa. Trong đó từng đơn vị với những lợi thế chun mơn riêng của mình sẽ

cùng hợp tác với nhau để hỗ trợ cho khách hàng khi sử dụng sản phẩm dịch vụ này.

Dịch Vụ “Xuất nhập khẩu trọn gói” bao gồm các nghiệp vụ liên thanh toán quốc tế

qua ngân hàng và các dịch vụ đi kèm như: thủ tục giao nhận hàng hóa từ cảng, lưu

giữ hàng hóa, thủ tục khai báo hải quan... liên quan đến lĩnh vực xuất nhập khẩu

hàng hóa, hỗ trợ khách hàng mua bảo hiểm hàng hóa liên quan L/C mở. những

nghiệp vụ chuyên môn do ngân hàng đảm trách như hướng dẫn tư vấn mở L/C, nhờ

thu chứng từ xuất nhập khẩu, các thủ tục và phương thức thanh tốn... những khâu

còn lại như: khai báo hải quan, giao nhận hàng, bốc xếp và vận chuyển hàng hóa,

lưu kho ngoại quan và làm thủ tục xin giấy phép nhập khẩu, mua bảo hiểm hàng

hóa liên quan L/C mở… sẽ do cơng ty dịch vụ về cảng và công ty bảo hiểm đảm

nhận.

Ưu điểm cơ bản của giải pháp này là việc giảm chi phí của dịch vụ thơng qua

việc kết hợp các loại hình cụ thể cho các khách hàng thành một giải pháp hay dịch

vụ trọn gói. Chi phí cho cả gói dịch vụ do vậy sẽ thấp hơn tổng chi phí của từng

dịch vụ cộng lại và cũng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các khách hàng trong việc

tiếp cận và sử dụng.

b. Nâng cao năng lực quản trị rủi ro

Xu hướng tự do, tồn cầu hóa kinh tế và quốc tế hóa các luồng tài chính đã

làm thay đổi căn bản hệ thống ngân hàng. Hoạt động kinh doanh trở nên phức tạp

hơn và áp lực cạnh tranh giữa các ngân hàng lớn hơn và cùng với nó, mức độ rủi ro

cũng tăng lên ngày càng mạnh mẽ, chính vì vậy đòi hỏi ngành ngân hàng phải có

những cải cách mạnh mẽ để nâng cao năng lực quản trị rủi ro trong từng hoạt động

dịch vụ, đặc biệt chủ trọng đến quản trị rủi ro tín dụng.

Để làm được điều này, cần thực hiện tốt đồng bộ 9 giải pháp dưới đây:



102



Thứ nhất: Phải xây dựng và hoàn thiện chiến lược chính sách quản trị rủi ro

đúng đắn. Thực hiện cải tổ tồn diện các yếu tố có ảnh hưởng tác động đến năng lực

quản trị rủi ro, bao gồm hoạch định và xây dựng chiến lược và chính sách quản trị

rủi ro; đẩy mạnh áp dụng các công cụ đo lường…

Thứ hai: Tái cơ cấu bộ máy tổ chức quản trị rủi ro theo hướng bộ phận

chuyên trách quản lý, tách bạch bộ máy quản trị rủi ro độc lập với kinh doanh; tiến

tới thực hiện quản trị rủi ro theo ngành dọc, giảm dần mức độ ủy quyền phân cấp

theo hàng ngang.

Thứ ba: Thực hiện quy trình, quy chế hóa mọi hoạt động trong ngân hàng,

thực hiện nguyên tắc hạn chế rủi ro, như nguyên tắc phân tách chức năng, nguyên

tắc “hai tay bốn mắt”, nguyên tắc tuân thủ hạn mức...ở mọi khâu trong ngân hàng.

Đặc biệt trong hoạt động quản trị rủi ro tín dụng ngân hàng cần phải thực hiện kỹ

trên các khâu như: tiếp xúc khách hàng, phân tích tín dụng, thẩm định tín dụng,

đánh giá rủi ro, quyết định cho vay, thủ tục giấy tờ hợp đồng, đánh giá chất lượng,

xem lại khoản vay.

Thứ tư: Nâng cao chất lượng các công cụ đo lường rủi ro và tiếp tục áp dụng

các công cụ đo lường rủi ro mới, giúp phát hiện sớm các dấu hiệu rủi ro, nhận biết

chính xác các nguyên nhân chủ yếu gây ra rủi ro để có giải pháp kịp thời và hữu

hiệu.

Công cụ đo lường cần phải thể hiện được chất lượng phân tích tình hình tài

chính và phát triển hệ thống cảnh báo sớm những tiềm ẩn trong hoạt động của ngân

hàng, bao gồm việc phân tích báo cáo tài chính và xác định các “điểm” nhạy cảm;

xây dựng cách tiếp cận tới công việc đánh giá chất lượng quản lý rủi ro trong nội bộ

ngân hàng; nâng cao đòi hỏi kỹ thuật trong việc trích lập dự phòng rủi ro; xây dựng

hệ thống và các biện pháp kiểm soát luồng vốn.

Thứ năm: Thực hiện minh bạch và cơng khai hóa thơng tin. Chức năng này

chính là cơ sở, động lực để nâng cao chất lượng quản trị rủi ro. Việc minh bạch và



103



công khai thông tin không chỉ được thực hiện giữa ngân hàng với Ngân hàng Nhà

nước trên địa bàn thành phố, mà còn phải thực hiện ngay trong nội bộ ngân hàng.

Thứ sáu: Giám sát tình hình sử dụng vốn vay của khách hàng thơng qua cơng

tác kiểm tra, kiểm sốt trước, trong và sau khi cho vay cũng như xác định dòng tiền

vào và dòng tiền ra của khách hàng để lên phương án cho vay, tiến độ thu nợ phù

hợp. Thường xuyên giám sát chặt chẽ từng lần giải ngân, theo dõi quá trình chu

chuyển vốn của khách hàng để thu nợ đúng hạn và để phát hiện sớm những dấu hiệu

rủi ro để có giải pháp ứng phó kịp thời. Bên cạnh đó, cũng cần kiểm tra, giám sát

thực hiện quy trình nghiệp vụ của cán bộ tín dụng nhằm đảm bảo an tồn trong kinh

doanh vì chất lượng tín dụng cũng là một tiền đề quan trọng để thực hiện mở rộng

tín dụng vững chắc, an tồn, lâu dài.

Thứ bảy: Xây dựng một nền tảng công nghệ hiện đại, đảm bảo các yêu cầu

về quản lý nội bộ của ngân hàng, thỏa mãn yêu cầu phát triển của các giao dịch kinh

doanh ngày càng đa dạng, yêu cầu quản lý rủi ro, quản lý thanh khoản, có khả năng

kết nối với các ngân hàng khác trên địa bàn và trong cả nước. Phát triển các dịch vụ

ngân hàng hiện đại trên cơ sở đảm bảo phòng chống được rủi ro, bảo mật và hoạt

động an toàn.

Thứ tám: Đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực ngân hàng với những tiêu chí

như năng lực, trình độ, khả năng hội nhập, hiệu quả công tác và phẩm chất đạo đức

tốt. Thực tế cho thấy, dù các quy định pháp lí, quy trình nghiệp vụ có chặt chẽ đến

đâu nhưng các cán bộ ngân hàng nếu vì lợi ích cá nhân vẫn có thể thơng đồng, cố

tình lách luật, làm sai quy chế, dẫn đến những rủi ro khó lường. Trên thực tế đã xảy

ra khơng ít những vụ thất thốt nghiêm trọng do rủi ro đạo đức của cán bộ ngân

hàng. Do đó, cần phải thường xuyên giáo dục giá trị đạo đức ngề nghiệp đến từng

cán bộ ngân hàng.

Thứ chín: Từng bước xây dựng và định vị thương hiệu của ngân hàng, chú

trọng phát triển những sản phẩm, dịch vụ mới, tăng thu phí dịch vụ, giảm dần tỷ lệ

thu từ các sản phẩm dịch vụ tín dụng truyền thống.

c. Tăng cường giao lưu nội bộ



104



Như chúng ta đã phân tích ở trên, để nâng cao hiệu suất làm việc cho nhân

viên, thì ngồi việc ngân hàng cần xây dựng một cơ chế thưởng xứng đáng với kết

quả làm việc. Bên cạnh những chính sách thưởng về vật chất, thì cần có nhiều hơn

nữa những chương trình về mặt tinh thần để động viên, cổ vũ, kích thích nhân viên

làm việc hăng hái, hiệu quả hơn. Trong đó, có thể tổ chức nhiều dịp vui chơi, hội

họp...

 Những chuyến tham quan du lịch trong nước, hội hè giã ngoại vào các dịp lễ

như: ngày Quốc tế phụ nữ 8-3, ngày Quốc khánh 2-9, ngày thành lập Đoàn...

 Tổ chức các chương trình hội thao cho nội bộ, giao lưu với các ngân hàng

khác và cơ quan đoàn thể trên thành phố và trong cả nước.

 Tổ chức các cuộc hội thảo, giao lưu gặp gỡ trong nội bộ ngân hàng,

 Tổ chức mừng sinh nhật cho các nhân viên sinh trong cùng một tháng.

Việc tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí khơng những nâng cao năng suất

làm việc, mà còn tạo điều kiện cho các nhân viên có thể giao lưu, tiếp xúc, gần gũi

với nhau hơn, đồng thời cũng góp phần tạo mơi trường thuận lợi cho nhân viên

mạnh dạn hơn trong việc tham gia đóng góp các ý kiến và mong muốn của mình.

Từ đó, ngân hàng có thể điều chỉnh các hoạt động để nâng cao sự thỏa mãn của

khách hàng nội bộ - là nguồn gốc để có thể thỏa mãn khách hàng bên ngồi.

3.5.3 Một số kiến nghị cho những nghiên cứu tiếp theo

Tuy nhiên, việc thực hiện áp dụng hệ thống thẻ điểm cân bằng cho Agribank

Đà Nẵng nó chỉ phản ảnh được thực trạng hoạt động của một chi nhánh riêng lẻ, vì

vậy để phản ảnh một cách tồn diện và bao quát hơn được thực trạng hoạt động của

Agribank Việt Nam thì các nghiên cứu sâu hơn nên thực hiện cho tất cả các chi

nhánh và tiến hành thực hiện cho Agribank Việt Nam.

Hiện nay tại Việt Nam chưa có số liệu thống kê về các chuẩn mực của ngành,

đặc biệt là một ngành rất quan trọng và được nhắc đến nhiều như ngành Tài chính

ngân hàng. Vì thế, khi tiến hành định chuẩn để xác định điểm mạnh và điểm yếu

của ngân hàng chỉ được thực hiện trên sự định chuẩn của ban giám đốc, nên nó chỉ

có thể có một mức độ chính xác nhất định. Qua đây, cũng xin được đề nghị các ban

ngành chức năng nhanh chóng thực hiện các thống kê về các chỉ số tiêu chuẩn hoặc



105



các chuẩn mực ngành cho ngành Tài chính ngân hàng. Để qua đó, hỗ trợ các ngân

hàng có đầy đủ cơ sở để quản lý và phát triển chiến lược của ngân hàng mình.

Việc thực hiện một hệ thống thẻ điểm cân bằng cho ngân hàng sẽ mất rất

nhiều thời gian cũng như là chi phí cho việc tính tốn và hiệu chỉnh. Vì vậy để hạn

chế được điều đó thì các nghiên cứu tiếp theo nên kết hợp với việc phát triển các

phần mềm để hỗ trợ cho việc triển khai BSC.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

5 Một số kiến nghị

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×