Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ - 0trang

5



b. Căn cứ theo thời hạn cho vay

-



Cho vay ngắn hạn.



-



Cho vay trung hạn.



-



Cho vay dài hạn.



c. Căn cứ vào phương thức cho vay

-



Cho vay theo món;



-



Cho vay theo hạn mức tín dụng;



-



Cho vay theo hạn mức thấu chi.



d. Căn cứ vào phương pháp hoàn trả

-



Cho vay trực tiếp.



-



Cho vay gián tiếp: theo các loại sau:







Chiết khấu thương mại;







Mua máy móc trả góp;







Nghiệp vụ bao thanh tốn.



Ngồi các hình thức cho vay trên, ngân hàng còn thực hiện các nghiệp vụ

bảo lãnh cho khách hàng bằng uy tín của mình.

1.2. HỆ THỐNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG

1.2.1. Khái niệm hệ thống xếp hạng tín dụng

Xếp hạng tín dụng (XHTD) là việc đưa ra nhận định về mức độ tín nhiệm đối

với trách nhiệm tài chính; hoặc đánh giá mức độ rủi ro tín dụng phụ thuộc các yếu

tố bao gồm năng lực đáp ứng các cam kết tài chính, khả năng dễ bị vỡ nợ khi các

điều kiện kinh doanh thay đổi, ý thức và thiện chí trả nợ của người đi vay. Khái

niệm rủi ro được xét đến ở đây là một sự khơng chắc chắn hay một tình trạng bất ổn

có thể ước đốn được xác suất xảy ra.

Hệ thống XHTD là một công cụ giám sát và kiểm tra tín dụng quan trọng

nhằm hỗ trợ cho ngân hàng trong việc ra các quyết định tín dụng.

1.2.2. Vai trò của hệ thống xếp hạng tín dụng

-



Đây là cơng cụ để phân loại tài sản tín dụng theo thơng lệ quốc tế.



-



Là căn cứ để tính tốn và trích lập quỹ dự phòng rủi ro.



6



-



Hệ thống này sẽ giúp xác định một cách hợp lý, chính xác nhất chất



lượng tín dụng và mức độ rủi ro theo từng dòng sản phẩm hoặc lĩnh vực hay ngành

kinh tế. Đây là điều kiện vô cùng quan trọng để xây dựng chiến lược trong hoạt

động tín dụng.

-



Là căn cứ vào để xây dựng chính sách khách hàng và qui trình tín dụng



một cách đồng bộ, chi tiết và cụ thể, nhờ đó tiết giảm được chi phí quản lý, nâng

cao hiệu quả hoạt động tín dụng.

-



Kết quả xếp hạng khách hàng được sử dụng làm căn cứ ra quyết định tín



dụng; ngồi ra nó còn giúp cho q trình kiểm sốt và đo lường chính xác mức độ

rủi ro của từng danh mục tín dụng ở các chi nhánh.

1.2.3. Các yêu cầu cơ bản đối với hệ thống xếp hạng tín dụng

Các tổ chức tài chính tùy thuộc vào quan điểm, định hướng của mình, dựa

trên đặc điểm của danh mục cho vay, tính chất hoạt động, mục tiêu của việc xếp

hạng và các nhân tố khác có liên quan mà xây dựng cấu trúc hệ thống xếp hạng tín

dụng khác nhau, tuy nhiên một chương trình xếp hạng tín dụng phải thỏa mãn các

u cầu về:

a. Xác lập được mơ hình xếp hạng khoa học

Mơ hình xếp hạng là quy trình đánh giá định tính và định lượng một cách có

hệ thống trong việc ấn định các thứ hạng, các mơ hình này sử dụng thơng tin tài

chính và các thơng tin khác về sự tín nhiệm của cơng ty để xác định thứ hạng một

cách khách quan. Có nhiều loại mơ hình bao gồm những mơ hình sử dụng thơng tin

về các điều kiện tài chính của cơng ty, đó là các mơ hình đánh giá thống kê, và các

mơ hình điểm số. Việc sử dụng các dữ liệu tài chính cũng rất đa dạng. Trong một số

trường hợp, dữ liệu có thể đặt trực tiếp vào các cơng thức tính toán. Trong các

trường hợp khác, các khoản mục của dữ liệu tài chính được phân tích, xử lý và

chuyển thành điểm số tín nhiệm sau đó mới được đưa vào cơng thức tính tốn.

Các tổ chức tài chính có thể chọn lựa bất kỳ mơ hình nào trong các mơ hình

nói trên. Tuy nhiên, để đạt được độ chính xác cao, các tổ chức tài chính có thể lựa

chọn cùng lúc nhiều mơ hình khác nhau cho phù hợp với quy mô hoạt động và đặc



7



điểm danh mục cho vay. Ngược lại, một số tổ chức tài chính khác lại chỉ sử dụng

một mơ hình nhằm duy trì sự ổn định, thống nhất. Mỗi tổ chức tài chính nên chọn

một mơ hình thích hợp nhất cho mình, có cân nhắc tới các ưu điểm và nhược điểm

liên quan đến rủi ro cho danh mục cho vay của mình.

Mơ hình điểm số là trung tâm, là công cụ quan trọng nhất của các hệ thống

chấm điểm xếp hạng tín nhiệm khách hàng nội bộ. Vì thế, các ngân hàng cần tăng

cường tính chính xác của chúng thơng qua việc kiểm định thường xun ngay trong

q trình các mơ hình xếp hạng này đang được thiết lập cũng như trong khi chúng

đang hoạt động.

Việc kiểm định các mơ hình được thực hiện theo các bước chủ yếu sau:

− Tại giai đoạn thiết lập, tính hợp lý của mơ hình và sự đầy đủ dữ liệu cho

việc thiết kế mơ hình cần được kiểm tra và xác nhận.

− Giai đoạn tiếp theo là sự kiểm tra việc hoạt động của mơ hình dựa trên các

điều kiện về khả năng vỡ nợ của các cơng ty đi vay trong mỗi hạng. Ví dụ, dự liệu

về các công ty vỡ nợ và các công ty không vỡ nợ được thu thập để kiểm tra sự chính

xác của đánh giá sử dụng các mơ hình điểm số.

Tùy từng trường hợp các phương pháp khác nhau sẽ được vận dụng trong

q trình kiểm định các mơ hình xếp hạng một cách thích hợp. Thơng thường

phương pháp kiểm định thống kê được sử dụng để kiểm tra mô hình. Tuy nhiên,

trong thực tế phân tích, đánh giá rủi ro tín dụng, phương pháp này thường gặp khó

khăn vì thiếu cơ sở dữ liệu về vỡ nợ của doanh nghiệp. Do vậy, trong truờng hợp

này có thể bổ sung bằng đánh giá định tính và liên tục kiểm tra xác nhận.

− Bước cuối cùng là quyết định việc điều chỉnh mơ hình xếp hạng phù hợp

với u cầu được đặt ra từ kết quả kiểm định việc thực hiện mơ hình. Vấn đề quan

trọng là xem xét phần nào của mơ hình nên được điều chỉnh và mức độ điều chỉnh.

Sự điều chỉnh thường xuyên rất tốn kém và làm phá vỡ tính liên tục của mơ hình.

Do vậy, điều chỉnh mơ hình cần được xem xét một cách thận trọng. Trong thực tế

các tổ chức tài chính chỉ thay đổi tồn bộ mơ hình trong trường hợp hiệu quả của nó

bị giảm sút rõ nét, còn trong các trường hợp khác chỉ có sự thay đổi nhỏ.



8



Khi mơ hình có những thay đổi lớn về tính logic và các tham số của nó,

chẳng hạn như các chỉ số tài chính hoặc khi mơ hình được thay thế bằng một mơ

hình khác, do một bên thứ ba tạo nên, thì cần có sự so sánh cẩn thận về kết quả của

các mơ hình cũ với các mơ hình mới.

NHTM áp dụng các mơ hình khác nhau tùy theo đối tượng xếp hạng là cá

nhân, doanh nghiệp hay tổ chức tín dụng. Trong luận văn này chỉ đề cập đến nhóm

khách hàng được xếp hạng là doanh nghiệp. Các mơ hình này được sử dụng ổn định

và có thể điều chỉnh sau vài năm sử dụng khi thấy có nhiều sai sót lớn giữa xếp

hạng với thực tế.

b. Có quy trình xếp hạng và kiểm tra lại kết quả xếp hạng

Một hệ thống định hạng nhất thiết phải thiết lập được một quy trình hoạt

động. Về cơ bản một quy trình có thể gồm các cơng đoạn :

(1) Thu thập thông tin liên quan đến các chỉ tiêu sử dụng trong phân tích

đánh giá.

(2) Phân tích bằng mơ hình để đánh giá tín nhiệm người vay. Sử dụng đồng

thời chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu phi tài chính. Đặc biệt đối với những chỉ tiêu phi

tài chính phải được sử dụng hết sức linh hoạt, khách quan, phù hợp với từng loại

hình doanh nghiệp, từng mặt hàng kinh doanh.

(3) Điều chỉnh kết quả đánh giá dựa trên các nhân tố.

(4) Theo dõi tình trạng tín dụng của đối tượng được xếp hạng để điều chỉnh

mức xếp hạng. Các thông tin điều chỉnh được lưu giữ. Tổng hợp kết quả xếp hạng

so sánh với thực tế rủi ro xảy ra, và dựa trên tần suất phải điều chỉnh mức xếp hạng

đã thực hiện đối với khách hàng để xem xét điều chỉnh mơ hình xếp hạng.

Tùy vào tổ chức của mỗi định chế tài chính mà kết quả xếp loại theo quy

trình này sẽ được bộ phận quản lý tín dụng, Ban Giám Đốc hoặc Bộ phận có chức

năng đánh giá lại. Kết quả xếp hạng phải thỏa mãn yêu cầu phản ánh đúng các rủi ro

liên quan đến người vay. Vì thế, việc đánh giá lại là cần thiết để phản ánh những

thay đổi về khả năng trả nợ của người vay. Q trình đó bao gồm việc đánh giá lại

theo định kỳ vào thời gian công khai báo cáo tài chính hoặc đánh giá lại đột xuất



9



khi có thay đổi lớn về khả năng trả nợ của người vay, ví dụ sự vỡ nợ của các đối tác

thương mại lớn.

c. Thông tin cuối cùng về kết quả định hạng

Mục tiêu cuối cùng của công tác nhập thông tin khách hàng, nhập các nhân

tố định tính-định lượng…là để cho ra kết quả cuối cùng về chất lượng tín dụng của

khách hàng thông qua điểm, các chỉ số, thứ hạng. Bất kỳ một hệ thống xếp hạng nào

cũng phải thỏa mãn yêu cầu này, bằng không, hệ thống xếp hạng tín dụng trở nên vơ

nghĩa.

1.3. HỆ THỐNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP

Tùy theo mỗi định chế tài chính mà cấu trúc hệ thống xếp hạng tín dụng đối

với doanh nghiệp sẽ khác nhau. Tuy nhiên, việc đánh giá và xếp hạng tín dụng đối

với doanh nghiệp thơng thường được thực hiện thông qua một số nội dung cơ bản :

1.3.1. Loại hình doanh nghiệp

Loại hình doanh nghiệp là một trong những căn cứ để đánh giá và xếp hạng

tín dụng. Ngân hàng phân loại doanh nghiệp theo ngành kinh tế, loại hình sở hữu và

theo quy mơ. Dựa vào ngành kinh tế có thể phân loại doanh nghiệp thành doanh

nghiệp thuộc các ngành như sau: Nông, lâm và ngư nghiệp; Thương mại và dịch vụ;

Xây dựng và vật liệu xây dựng; Sản xuất công nghiệp và Ngành khác. Thông

thường ngành kinh tế được xác định căn cứ vào hoạt động sản xuất kinh doanh

chính của khách hàng. Hoạt động sản xuất kinh doanh chính là hoạt động đem lại từ

50% doanh thu trở lên trong tổng doanh thu hàng năm của khách hàng. Trong

trường hợp doanh nghiệp hoạt động đa ngành thì doanh thu của ngành nào được

đánh giá có tiềm năng nhất sẽ được chọn là ngành chính.

Dựa theo loại hình sở hữu có thể phân loại doanh nghiệp thành doanh nghiệp

nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp khác. Trong mỗi

loại khách hàng, ngân hàng sẽ có qui định riêng đối với trường hợp khách hàng có

quan hệ tín dụng hoặc khách hàng mới chưa có quan hệ tín dụng.

Dựa vào quy mơ có thể phân loại doanh nghiệp thành doanh nghiệp có quy

mơ lớn, trung bình và nhỏ. Các tiêu thức đánh giá quy mô bao gồm vốn kinh doanh,



10



lao động, tài sản, doanh thu ròng,…Mỗi nhóm quy mơ sẽ được chấm điểm theo các

chỉ tiêu tài chính tương ứng với với bốn nhóm ngành nơng - lâm - ngư nghiệp,

thương mại và dịch vụ, xây dựng và vật liệu xây dựng, sản xuất công nghiệp và

ngành khác.

1.3.2. Các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính

Mơ hình xếp hạng định lượng thường được sử dụng để đánh giá người vay

căn cứ vào báo cáo tài chính của họ. Các chỉ số tài chính được sử dụng trong mơ

hình phải có mối liên hệ thống kê với khả năng vỡ nợ của người vay.

Một số chỉ tiêu mang tính định lượng

Chỉ tiêu

Quy mơ hoạt động



Ví dụ

Mức vốn và tài sản ròng.

Tỷ số thanh tốn ngắn hạn, tỷ số thanh tốn chung, tỷ



Tính thanh khoản



số thanh tốn tức thời.

Vòng quay VLĐ, vòng quay hàng tồn kho, vòng quay



Chỉ tiêu hoạt động



các khoản phải thu.

Lợi nhuận trên tổng tài sản, lợi nhuận trên doanh thu,



Khả năng tạo lợi nhuận



lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, hệ số hoàn trả lãi vay.



Các chỉ tiêu khác



Tốc độ tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận.



Do dữ liệu tài chính định lượng khơng đủ để đo lường chính xác độ tín

nhiệm của người vay, nên cần phải sử dụng phân tích định tính để thể hiện tổng hợp

được tồn cảnh tình hình tài chính và hoạt động của khách hàng. Các chỉ tiêu định

tính cũng được xây dựng bằng những tiêu chí cụ thể và được chấm điểm dựa trên

đánh giá định lượng hoặc định tính và được điều chỉnh tăng giảm để phản ánh đầy

đủ rủi ro tín dụng của doanh nghiệp.



11



Một số chỉ tiêu mang tính định tính

Chỉ tiêu



Ví dụ

Khả năng trả nợ từ lưu chuyển tiền tệ, khả năng trả



Khả năng trả nợ



nợ theo đánh giá của CBTD.

Trình độ năng lực, học vấn kinh nghiệm của người



Trình độ quản lý và mơi

trường nội bộ của khách hàng



Mối quan hệ với ngân hàng

Ngành



đứng đầu doanh nghiệp; mơi trường kiểm sốt nội

bộ, mối quan hệ với cơ quan hữu quan,….

Lịch sử quan hệ vay trả nợ với ngân hàng, tình hình

nợ quá hạn, tỷ trọng chuyển doanh thu qua ngân

hàng, mức độ sử dụng dịch vụ,….

Tiềm năng tăng trưởng, mức độ biến động thị

trường, khả năng xuất hiện các sản phẩm thay thế,…

Mối quan hệ với công ty mẹ, sự phụ thuộc nhà cung



Đặc điểm của doanh nghiệp



cấp đầu vào, người tiêu thụ sản phẩm đầu ra,….



Việc đánh giá định tính cần phải có các tiêu chí đánh giá cụ thể vì thường rất

khó để đảm bảo tính khách quan và nhất quán. Do vậy, tiêu chuẩn đánh giá phải rõ

ràng, khó có thể gây nhầm lẫn; đồng thời các tiêu chuẩn đánh giá phải được lập

thành văn bản có tính chất “khung” thật chi tiết để để hướng dẫn thực hiện, tránh sự

đánh giá chủ quan.

1.3.3. Tổng hợp điểm và xếp hạng tín dụng khách hàng

Kết quả cuối cùng về chất lượng tín dụng của khách hàng doanh nghiệp sẽ

được xác định thông qua điểm, các chỉ số, thứ hạng.

-



Tổng hợp điểm của khách hàng doanh nghiệp.



Điểm của KH = Điểm các chỉ tiêu tài chính * Trọng số phần tài chính

+ Điểm các chỉ tiêu phi tài chính * Trọng số phần phi tài chính

-



Xếp hạng tín dụng khách hàng (AAA,AA,A, BBB…..)



1.4. CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG

KHÁCH HÀNG CỦA DOANH NGHIỆP

1.4.1. Tính hợp lý của hệ thống chỉ tiêu và trọng số

Các chỉ tiêu đưa vào hệ thống xếp hạng tín dụng phải bao qt được tình



12



hình tài chính, khả năng hoạt động và kết quả kinh doanh của khách hàng, dự đoán

được triển vọng hoạt động trong thời gian tới. Điều này giúp Ban lãnh đạo Ngân

hàng đánh giá đầy đủ mức độ rủi ro tín dụng khách hàng doanh nghiệp bao gồm

năng lực đáp ứng các cam kết tài chính, khả năng dễ bị vỡ nợ khi các điều kiện kinh

doanh thay đổi, ý thức và thiện chí trả nợ của người đứng đầu doanh nghiệp.

Với chỉ tiêu phi tài chính được nỗ lực lượng hóa tối đa, chỉ tiêu tài chính

được tính tốn sau khi dữ liệu đã điều chỉnh để có thể so sánh với các doanh nghiệp

tương đồng hoặc các doanh nghiệp trong ngành.

Mặt khác, mỗi chỉ tiêu tàì chính và phi tài chính đều có tầm quan trong khác

nhau trong việc tính điểm để xếp hạng tín dụng khách hàng doanh nghiệp. Chính vì

vậy mà khi xếp hạng thì điểm số của các chỉ tiêu phải nhân với trọng số. Những chỉ

tiêu có tầm quan trọng hơn sẽ có trọng số lớn hơn những chỉ tiêu ít quan trọng.

Thơng thường người ta sử dụng các mơ hình hồi quy để kiểm định tính hợp

lý của hệ thống chỉ tiêu và trọng số của nó.

1.4.2. Tính khả thi và tính thực tế của hệ thống xếp hạng tín dụng khách

hàng của doanh nghiệp

- Tính khả thi : Hệ thống xếp hạng tín dụng được xây dựng có thể triển khai

áp dụng được tùy theo tình hình hoạt động tín dụng của các Ngân hàng thương mại

ở từng quốc gia hay không? Cụ thể, đối với các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam

thì việc xây dựng hệ thống này phải phù hợp với đặc thù hoạt động tín dụng ở Việt

Nam và hướng đến tuân thủ các chuẩn mực quốc tế.

- Tính thực tế : Một hệ thống xếp hạng tín dụng sẽ mang tính hình thức nếu

nó khơng được sử dụng cho các mục đích quản trị ngân hàng liên quan đến hoạt

động tín dụng. Cụ thể, cho các mục đích liên quan đến việc ra quyết định tín dụng,

phân loại tài sản khách hàng, trích lập dự phòng rủi ro, chính sách tín dụng đối với

từng khách hàng (lãi suất, giới hạn tín dụng, tài sản đảm bảo,...).

1.4.3. Có khả năng đo lường chính xác rủi ro về tình hình tài chính của

doanh nghiệp

Thực tế cho thấy, trong q trình thu thập các thông tin liên quan đến khách

hàng vay (bao gồm các thơng tin định tính và định lượng), cán bộ chun mơn có



13



thể phụ thuộc nhiều vào các mối quan hệ tương quan với các doanh nghiệp khi vận

dụng vào thực tế xếp hạng tín dụng do thiếu kiến thức và kỹ năng phân tích đánh

giá chun mơn về khách hàng, các lĩnh vực hoạt động của các khách hàng thì kết

quả xếp hạng khách hàng cũng sẽ hạn chế. Do đó, hệ thống xếp hạng tín dụng phải

được thiết kế để có những kiểm sốt chặt chẽ đối với ảnh hưởng của yếu tố chủ

quan của người đánh giá.

Tỷ lệ nợ xấu của từng nhóm khách hàng theo xếp hạng là một chỉ tiêu cho

phép đánh giá khả năng đo lường mức độ tín nhiệm về khả năng tài chính của

Doanh nghiệp. Ví dụ, nếu tỷ lệ nợ xấu phát sinh của nhóm AAA cao hơn nhóm

BBB thì có nghĩa là hệ thống xếp hạng khơng đánh giá chính xác mức độ tín nhiệm

về khả năng tài chính của Doanh nghiệp.

1.5. KINH NGHIỆM VỀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH

NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.5.1. Kinh nghiệm xếp hạng tín dụng đối với doanh nghiệp trên thị

trường tài chính của Mỹ

Nghiên cứu này tiếp cận một lý thuyết rất nổi tiếng của Altman về chỉ số khả

năng vỡ nợ đối với doanh nghiệp, đây là mô hình tốn học về chỉ số tín dụng gồm

nhiều biến số có thể dự báo tương đối chính xác trên 90% các trường hợp vỡ nợ trên

thị trường tài chính ở những nước phát triển như Mỹ và Anh, qua đó, luận văn đề

xuất hướng nghiên cứu vận dụng nhằm bổ sung cho mơ hình tính điểm xếp hạng tín

nhiệm một biến số đang sử dụng tại các tổ chức tín nhiệm và các NHTM Việt Nam.

1.5.1.1. Mơ hình điểm số tín dụng doanh nghiệp của Edward I. Altman

Các chỉ số tài chính riêng biệt thường được sử dụng trong chấm điểm XHTD

khơng thể dự báo chính xác xu hướng khả năng xảy ra khó khăn về tài chính của

doanh nghiệp vì phụ thuộc vào nhận thức riêng của từng người.

Nhằm tăng cường tính dự báo nguy cơ vỡ nợ của doanh nghiệp trong các mơ

hình chấm điểm XHTD, các NHTM có thể sử dụng những mơ hình dự báo nhiều

biến số. Có nhiều phương pháp dự báo nguy cơ vỡ nợ của doanh nghiệp đã được

xây dựng và công bố. Tuy nhiên, ít có phương pháp được kiểm tra kỹ lưỡng và chấp

nhận rộng rãi như hàm thống kê Z-score của Altman.



14



Mơ hình điểm số tín dụng phân biệt nhiều biến số do Altman (1981) phát

triển đầu tiên. Sau đó được Steele (1984), Morris (1997) và các nhà nghiên cứu

khác phát triển thêm. Dạng tổng qt của mơ hình là Z=c+∑c iri (Trong đó : c là

hằng số, ri là các tỷ suất tài chính và chỉ tiêu phi tài chính được sử dụng như những

biến số, ci là các hệ số của mỗi biến số trong mơ hình). Các biến số trong hàm thống

kê Z-Score của Altman bao gồm:

CA



= Tài sản lưu động.



TA



= Tổng tài sản.



SL



= Doanh thu thuần.



IN



= Lãi vay.



TL



= Tổng nợ.



CL



= Nợ ngắn hạn.



MV



= Giá thị trường của vốn chủ sở hữu



BV



= Giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu.



ET



= Thu nhập trước thuế.



RE



= Thu nhập giữ lại.



Mơ hình điểm số dự báo nguy cơ vỡ nợ của doanh nghiệp được Altman xây

dựng áp dụng cho doanh nghiệp cổ phần thuộc ngành sản xuất như sau :

Z = 1,2X1 + 1,4X2 + 3,3X3 + 0,6X4 + 0,999X5. Nếu Z >2,99 là khu vực an toàn; 1,8

< Z < 2,99 là khu vực cảnh báo có nguy cơ vỡ nợ; Z < 1,8 là khu vực nguy hiểm có

nguy cơ vỡ nợ cao. Trong đó:

CA - CL

X1 



TA



:



Đo lường tỷ trọng tài sản lưu động ròng của doanh

nghiệp trong tổng tài sản.

CA - CL là vốn lưu động



X2 



RE

TA



:



Đo lường khả năng sinh lời



X3 



ET  IN

TA



:



Đây là hệ số quan trọng nhất.



Lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu và là động lực xác định sự sống còn của

doanh nghiệp. Lãi vay được cộng vào vì chi phí này cũng thể hiện khả năng tạo thu

nhập của doanh nghiệp.

MV



15



X4 



TL



:



X5 



SL

TA



:



Cho biết khả năng chịu đựng của doanh nghiệp đối với

những sụt giảm trong giá trị tài sản.

Cho biết khả năng tạo doanh thu của tài sản.



Cần lưu ý rằng các hệ số lớn hơn 3:1 có thể làm sai lệch kết quả dự báo vì

doanh nghiệp đang sử dụng quá ít vốn chủ sở hữu trong mối tương quan với doanh

thu đạt được. Người phân tích có thể hạn chế giá trị cao nhất của hệ số này là 3:1 nếu

doanh nghiệp có điểm Z-score quá cao trong mối tương quan với các chỉ báo khác.

Đối với doanh nghiệp chưa cổ phần hóa thuộc ngành sản xuất thì:

Z’ =0,717X1 + 0,847X2 + 3,107X3 + 0,42X4 + 0,998X5.

Nếu Z’ > 2,9 là khu vực an toàn; 1,23 < Z’ < 2,9 là khu vực cảnh báo có nguy

cơ vỡ nợ; Z’ <1,23 là khu vực nguy hiểm có nguy cơ vỡ nợ cao.

Các biến số X1, X2, X3, X5 tính như trên, riêng



X4 



BV

TL



Đối với các doanh nghiệp không thuộc ngành sản xuất, do sự khác nhau khá

lớn của X5 giữa các ngành, nên X5 đã được bỏ ra. Cơng thức tính chỉ số Z” như sau :

Z” = 6,56X1 + 3,26X2 + 6,72X3 + 1,05X4. Nếu Z” > 2,6 là khu vực an toàn; 1,1
< 2,6 là khu vực cảnh báo có nguy cơ vỡ nợ; Z” <1,1 là khu vực nguy hiểm có nguy

cơ vỡ nợ cao. Các biến số X1, X2, X3 tính như trên, riêng X4 nếu doanh nghiệp đã cổ



phần thì tính theo cơng thức



X4 



MV

BV

X4 

TL ; nếu doanh nghiệp chưa cổ phần thì

TL



Chỉ số Z (Hoặc Z’ và Z”) càng cao, thì người vay có xác suất vỡ nợ càng

thấp. Để tăng được chỉ số này cần phải nâng cao năng lực quản trị, rà soát để giảm

những tài sản khơng hoạt động, tiết kiệm chi phí, xây dựng thương hiệu. Đó chính

là sự kết hợp gián tiếp nhiều yếu tố tài chính và phi tài chính trong mơ hình mới tạo

được chỉ số an tồn. Cần lưu ý trường hợp doanh nghiệp ghi tăng vốn chủ sở hữu

đồng thời ghi tăng nợ phải thu hoặc tăng khoản đầu tư dài hạn…điều này làm tăng

chỉ số Z nên cần điều chỉnh số liệu bất thường trước khi tính toán các chỉ tiêu.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×