Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ - 0trang

xác định là một trong những phương hướng của cải cách giáo dục ti ểu h ọc

và giáo dục phổ thơng từ những năm 1980. Đặc biệt gần đây có nhiều cơng

trình nghiên cứu sử dụng phương pháp dạy học tích cực nhằm phát huy

tính tích cực của HS trên nhiều khía cạnh khác nhau nh ư: Trần Bá Hồnh,

Nguyễn Đức Thành với “ Nâng cao chất lượng giảng dạy các ch ương trình

giảng dạy Sinh học đại cương lớp 11, 12 phổ thông” năm 1986; “ PPDH kỹ

thuật Nông nghiệp ở trường trung học cơ sở” của Nguyễn Đức Thành

(2000).

Thực tiễn và lí luận giáo dục cho thấy, đến nay, mới chỉ có PPDH là

thực sự được tập trung nghiên cứu trong thời gian dài và đã đạt đ ược

những thành tựu đáng kể. PTDH chưa được đầu tư nghiên cứu một cách

sâu sắc và đầy đủ, nhất là trong đào tạo nghề – lĩnh v ực mà các ph ương

tiện có vai trò cực kỳ quan trọng trong bảo đảm chất lượng ( Nguy ễn Viết

Quang, 2010)

Vì vậy, việc nghiên cứu và đưa vào sử dụng PHT ở tr ường THCN là

việc làm cần thiết cho ngành giáo dục.

Nghiên cứu về PHT đã có một số cơng trình của các tác giả sau:

- Trần Bá Hoành (1996) - Kỹ thuật dạy HS học, NXBGD. Tác gi ả trình

bày về lý thuyết và thiết kế PHT trong DH .

- Trần Bá Hoành (2000) – Phát triển các phương pháp tích c ực trong

bộ mơn Sinh học. Tác Giả đã đề cập tới xu hướng đổi m ới PPDH, đ ặc đi ểm

của phương pháp tích cực, hướng dẫn và thiết kế bài học cùng v ới kỹ thu ật

thực hiện các PPDH tích cực trong đó có sử dụng PHT.

- Nguyễn Đức Thành (2000) – PPDH kỹ thuật Nông nghiệp ở trung

học cơ sở. NXBGD, tập 1. Tác giả gợi mở sử dụng PHT trong PPDH chuyên

biệt.



1313



- Đặng Thành Hưng (2004), Thiết kế và sử dụng PHT trong DH h ợp

tác, Tạp chí Phát triển Giáo dục, số 8 – 2004.

- Hà Thị Thu (2004). Xây dựng và Sử dụng PHT để DH Công nghệ 10Phần Kỹ thuật chăn ni – THPT nhằm phát huy tính tích c ực trong h ọc t ập

của HS, luận văn tốt nghiệp, ngành SPKT trường Đại H ọc Nông Nghi ệp I.

Tác giả đã thiết kế PHT và đưa vào DH.

- Trần Văn Quyết (2004) – Thiết kế và sử dụng PHT để DH phần

Lâm nghiệp- Kỹ thuật Nông Nghiệp 10 – THPT, luận văn tốt nghiệp, ngành

SPKT trường Đại Học Nông Nghiệp. Tác giả đã thiết kế PHT và đ ưa vào s ử

dụng.

- Đặng Thị An (2005), Bước đầu xây dựng và sử dụng PHT để DH

chương I và Chương IV môn Giống và Kỹ thuật truyền giống thuộc bộ môn

chăn nuôi ở trường Trung học Kinh tế - Kỹ thuật Tô Hiệu – H ưng Yên, luận

văn tốt nghiệp, nghành SPKT trường Đại học Nông Nghiệp. Tác giả thiết kế

PHT và đưa vào sử dụng.

- Bài báo “Phương pháp sử dụng PHT trong DH Địa lý l ớp 10 nh ằm

phát huy tính tích cực và độc lập của HS” của tác giả Đậu Thị Hòa trong

Tạp chí Giáo dục số 195 tháng 8/2008. Tác giả đã trình bày nguyên t ắc và

phương pháp sử dụng PHT trong DH Địa lý lớp 10, trong đó tác gi ả chú

trọng trình bày phương pháp sử dụng PHT trong dạy bài m ới và c ủng c ố

bài học.

- Luận văn thạc sĩ của Trần Thùy Uyên “Thiết kế và sử dụng PHT

trong DH địa lí” và Hồng Châu Âu “Thiết kế và sử dụng PHT trong DH

chương Sóng ánh sáng và Lượng tử ánh sáng vật lí 12 nâng cao ” Các tác giả

đã trình bày định nghĩa, chức năng, các dạng PHT trong DH; xây d ựng đ ược

các nguyên tắc, quy trình thiết kế và sử dụng PHT trong DH bài m ới và

củng cố bài học.

1414



Các tác giả đã nghiên cứu về các PTDH sử dụng PHT vào q trình

dạy, cơng tác độc lập của HS trong học tập. Việc thiết kế và sử dụng PHT ở

THCN bước đầu đã có sự quan tâm nhưng chưa được đi sâu nghiên c ứu.

Trong khi đó việc DH ở bậc THCN đòi hỏi HS phải có tính đ ộc l ập cao. Vì

vậy trong đề tài này chúng tơi tiến hành nghiên cứu Thiết kế và S ử d ụng

PHT trong DH chương III: Năng lượng và ước tính giá trị năng l ượng c ủa

thức ăn – Môn Dinh dưỡng và Thức ăn vật nuôi , tr ường Trung h ọc Nơng

Nghiệp Hà Nội, góp phần phát huy tính tích cực, ch ủ đ ộng, l ấy ng ười h ọc

làm trung tâm, nâng cao chất lượng dạy và học.

2.2. CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.2.1. Một số khái niệm liên quan

2.2.1.1. Khái niệm về phương pháp dạy học

Phương pháp là con đường, cách thức tiến hành một việc gì đó.

Phương pháp dạy học là những con đường, cách th ức tiến hành hoạt

động DH.

PPDH là tổ hợp các cách thức làm việc của thầy và trò, trong đó th ầy

giữ vai trò chủ đạo, trò giữ vai trò tích cực chủ động nhằm th ực hiện t ốt

các nhiệm vụ DH. (Nguyễn Thị Ngọc Thúy, 2004)

2.2.1.2. Khái niệm phương tiện dạy học

Khi nói về PTDH thì có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm này:

Theo Nguyễn Ngọc Quang (1981) “ PTDH bao gồm mọi thiết bị kĩ

thuật từ đơn giản đến phức tạp được dùng trong quá trình DH đ ể làm d ễ

dàng cho truyền đạt và tiếp thu kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo”.

Theo Tô Xuân Giáp (2001) “PTDH là tập hợp những đối tượng v ật

chất mà người dạy sử dụng với tư cách là nh ững đ ối t ượng t ổ ch ức, đi ều

khiển hoạt động nhận thức của người học, là ph ương tiện nhận th ức của

người học, thông qua đó mà thực hiện những nhiệm vụ DH”

1515



Như vậy có thể hiểu một cách khái quát rằng PTDH là m ột tập h ợp

tất cả những phương tiện vật chất cần thiết mà người GV và HS s ử d ụng

trong q trình DH nhằm đạt được mục đích DH. Đó là nh ững cơng c ụ giúp

người GV tổ chức, điều khiển q trình DH và là những cơng c ụ giúp ng ười

HS lĩnh hội tri thức cũng như tổ chức hoạt động nhận thức của mình có

hiệu quả.

2.2.1.3. Khái niệm về tính tích cực trong học tập

Tính tích cực học tập

Theo L.V. Rebrova (1975): Tính tích cực học tập của HS là một hiện

tượng sư phạm, biểu hiện ở sự gắng sức cao về nhiều mặt trong hoạt

động học tập của trẻ.

Theo Kharlamop (2008) : Tính tích cực trong học tập có nghĩa là hồn

thành một cách chủ động, tự giác. Có nghị lực, có h ướng đích rõ r ệt, có

sáng kiến và đầy hào hứng, những hoạt động trí óc hay tay chân nhằm

nắm vững kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, vận dụng chúng vào học tập và th ực

tiễn.

2.2.1.4 Biểu hiện của tính tích cực học tập ( trích d ẫn c ủa Nguy ễn

Thị Ly Na, 2003)

Có trường hợp tính tích cực học tập biểu hiện ở nh ững hoạt động c ơ

bắp, nhưng quan trọng là sự biểu hiện ở những hoạt động trí tuệ. Hai

hình thức biểu hiện này thường đi liền với nhau. Nếu hoạt đ ộng c ơ b ắp

hăng hái mà đầu óc khơng suy nghĩ thì chưa phải là tích c ực h ọc t ập. Theo

G.I.Su kina (1979) có thể nêu những dấu hiệu của tính tích cực hoạt đ ộng

trí tuệ như sau :

- Dấu hiệu 1 : HS khao khát, tự nguyện tham gia trả lời câu hỏi

của GV, bổ sung các câu trả lời của bạn, thích được phát bi ểu ý

kiến của mình về vấn đề nêu ra.

- Dấu hiệu 2 : HS hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích những vấn

đề GV trình bày chưa đủ rõ.

1616



- Dấu hiệu 3 : HS chủ động vận dụng linh hoạt những kiến th ức,

kĩ năng đó, học để nhận thức các vấn đề mới.

- Dấu hiệu 4 : HS mong muốn được đóng góp với thầy, với bạn

những thơng tim mới lấy từ nguồn khác nhau, có khi v ượt ra

ngồi bài học, mơn học.

Ngồi những biểu hiện nói trên GV dễ nhận thấy, cón có nh ững

biểu hiện về mặt xúc cảm, khó nhận thấy hơn như thờ ơ hay hào

hứng, phớt lờ hay ngạc nhiên, hoan hỉ hay buồn chán tr ước một nội

dung nào đó của bài học, hoặc khi tìm ra lời giải cho một bài t ập.

Những dấu hiệu này biểu hiện khác nhau ở từng HS.

G.I.Sukina còn phân biệt những biểu hiện của tính tích c ực h ọc t ập

về mặt ý chí như sau :

- Tập trung chú ý vào vấn đề đang học

- Kiên trì làm cho xong các bài tập

- Khơng nản trước các tình huống khó khăn

- Thái độ phản ứng khi chuông báo hết tiết học, cố làm cho xong

hoặc vội vàng gấp vở chờ được lệnh ra chơi.

Trong hoạt động học, tính tích cực thể hiện ở chỗ: HS tích cực, hăng

hái phát biểu ý kiến tranh luận về vấn đề, tự trình bày một vấn đề nào đó,

người học ln là người đứng trước những tình huống có v ấn đ ề, gi ải

quyết mâu thuẫn. Vì vậy, bắt buộc người học phải có nh ững hoạt đ ộng

độc lập, tự giác, tự đọc, tự nghiêm cứu tìm tòi.

Như vậy, tính tích cực của HS là kết quả của q trình sư phạm đòi

hỏi sự tác động khéo léo của người GV.

2.2.1.5



Khái niệm PHT



PHT được coi là PTDH tích cực hóa học tập, hoạt hóa ng ười h ọc và

đưa người học vào trạng thái tích cực, chủ động lĩnh hội tri thức và kỹ năng

mới. PHT đặc trưng ở khát vọng học tập, gắng sức về trí tuệ và có ngh ị lực

cao trong lĩnh vực lĩnh hội tri thức.

1717



Trần Bá Hoành (1996), phiếu hoạt động học tập, gọi tắt là PHT, còn

gọi là phiếu hoạt động hay phiếu làm việc: “Đây là những tờ giấy rời in

sẵn những cơng tác độc lập hay làm theo nhóm nh ỏ, đ ược phát cho HS t ự

lực hoàn thành trong một th ời gian ng ắn c ủa ti ết h ọc. M ỗi PHT có th ể

giao cho HS một vài nhi ệm v ụ nh ận th ức c ụ th ể nh ằm d ẫn t ới m ột ki ến

thức, tập dược một kỹ năng , rèn luyện một thao tác tư duy ho ặc thăm dò

thái độ trước một vấn đề ”

Theo tác giả Đặng Thành Hưng (2000) thì “PHT là một trong những

PTDH cụ thể, đơn giản và có khả năng tương thích rất cao với tuyệt đại đa

số người học thuộc mọi lứa tuổi và trong lĩnh vực học tập. Đó là văn b ản

bằng giấy hoặc dạng giấy do GV tự làm, gồm một hoặc một số tờ, có vai trò

học liệu để bổ sung cho sách và tài liệu giáo khoa quy định, có chức năng hỗ

trợ học tập và giảng dạy vừa như công cụ hoạt động, vừa như đi ều ki ện

hoạt động của người học và người dạy, mà trước hết như một nguồn thông

tin học tập”.

Như vậy, qua xem xét một số định nghĩa trên, có th ể nh ận th ấy các

tác giả đều nhất trí với quan điểm PHT là PTDH do GV tự thiết kế, gồm

một hoặc một số tờ giấy rời có ghi những nhiệm vụ học tập mà HS ph ải

hoàn thành kèm theo những gợi ý, hướng dẫn hoặc thông tin bổ sung cho

bài học.

Trong DH bằng phương pháp tích cực, hoạt động của HS chiếm t ỷ

trọng cao so với GV cả về thời gian và cường độ làm việc trên l ớp. PPDH s ử

dụng PHT do cho cả lớp hoặc từng nhóm vừa bắt buộc HS phải hoàn thành

yêu cầu và đạt được nhiệm vụ nhận thức, tự lực hoạt động trên đối t ượng

theo chỉ dẫn thơng qua việc hồn thành PHT trên lớp GV v ừa tổ ch ức, đi ều



1818



khiển, chỉ đạo các hoạt động học tập của HS, vừa có thể là trọng tài v ề

kiến thức, trọng tài về đánh giá từng HS, yêu cầu HS.

Như vậy PHT là phương tiện giao tiếp của GV – HS và gi ữa HS- HS

thơng qua q trình thảo luận nhóm hoặc báo cáo kết quả nh ận đ ược t ừ

các nhiệm vụ nhận thức.



HS



Kiến thức, kỹ năng



GV



PHT



Sơ đồ 2.1 : Thể hiện mối liên hệ PHT

2.2.2 Cấu trúc chung của phiếu học tập

Mỗi PHT gồm hai phần chính :

- Phần chỉ dẫn nhiệm vụ cho HS hoàn thành (điều kiện đ ể HS hồn

thành). Đây có thể là : Một câu mệnh lệnh để HS dựa vào đó hồn thành

PHT, một sơ đồ, tranh vẽ, bảng số liệu…

- Phần công việc phải làm của HS. Phần này có th ể là : Một khoảng

trống thích hợp, một bảng so sánh, một sơ đồ câm, một bảng d ữ liệu…

1919



Ngồi ra còn một số phần phụ kèm theo như : Họ và tên, số thứ tự,

thời gian làm, mục tiêu của PHT (Nguyễn Tất Thắng, 2011)

2.2.3 Các dạng phiếu học tập

Theo Trần Bá Hồnh (2000), trong DH nói chung có thể sử dụng một

số dạng PHT như sau:

* PHT phát triển kỹ năng quan sát: Là những PHT mà GV có thể sử

dụng những hình vẽ trong SGK hoặc tự lập sơ đồ, cho HS quan sát m ẫu v ật

thật, trên màn hình đèn chiếu, tranh ảnh, quan sát thực tế để t ừ đó rút ra

kiến thức mới trong bài học như; Hình thành kỹ năng, củng cố, so sánh, rút

ra nhận xét về vấn đề đó…

* PHT phát triển kỹ năng phân tích: Là những PHT yều cầu HS phân

tích một quan điểm, một sơ đồ, một hình vẽ, một vấn đề ch ưa rõ, m ột h ọc

thuyết…HS phải hiểu được kiến thức của vấn đề đó.

* PHT phát triển kỹ năng so sánh: Là những PHT thường sử dụng để

củng cố và kiểm tra. Để thực hiện PHT này HS ph ải nắm đ ược bản ch ất

của các đối tượng cần so sánh qua phân tích, tổng h ợp, khái quát hóa các

đặc điểm của vấn đề từ đó rút ra điểm giống nhau và khác nhau gi ữa

chúng.

* PHT phát triển kỹ năng quy nạp, khái quát : Là PHT có thể sử dụng

để dạy bài mới, củng cố kiến thức bài học. Qua việc hoàn thành PHT này sẽ

hình thành cho HS một phương pháp tổng h ợp đi t ừ cái riêng, cái đ ơn l ẻ

đến cái chung, cái khái quát. HS lĩnh hội kiến th ức m ới t ự mình đ ưa ra

nhận xét và rút ra kết luận.

PHT dạng này gồm :

- Yêu cầu HS tóm tắt một đoạn SGK hoặc khái quát n ội dung chính

của một đoạn băng hình,…Đưa ra sơ đồ tóm tắt kiến th ức, nội dung nghiên

cứu.

2020



- Đưa ra bảng số liệu hoặc thí nghiệm,…để yêu cầu HS khái quát và

rút ra kết luận, nhận xét tập trung vào nội dung bài.

* PHT phát triển kỹ năng suy luận, đề xuất giả thuy ết : Là loại PHT

mà GV đưa ra một giả thuyết để HS suy luận. GV cũng có th ể cho HS quan

sát sơ đồ, hình vẽ rồi từ đó đề xuất giả thuy ết…Để hoàn thành PHT d ạng

này HS phải có kỹ năng tư duy logic.

* PHT phát triển kỹ năng vận dụng kiến thức : Loại PHT này yêu cầu

HS ứng dụng kiến thức về một vấn đề để giải quyết một vấn đề khác, vận

dụng kiến thức đã học vào thực tiễn để giải thích chứng minh m ột n ội

dung hay một vấn đề nào đó.

PHT dạng này có thể sử dụng với nhiều đối t ượng HS, cho k ết qu ả

kiểm tra đa dạng.



2121



PHT



Phát

triển kỹ

năng

quan sát



Quan

sát

hình

vẽ, sơ

đồ



Phát

triến kỹ

năng so

sánh



Phát

triển kỹ

năng

phân

tích



Quan

sát

mẫu

vật



Phân

tích

quan

điểm,

1 vấn

đề



So

sánh 2

quan

điểm,

2 học

thuyết



So

sánh 2

q

trình,

2 sự

vật



Phát

triển kỹ

năng

quy nạp

khái

qt



Phân

tích sơ

đồ

hình

vẽ

SGK



Tóm

tắt 1

đoạn

SGK,

sơ đồ

hóa



Phát

triển kỹ

năng suy

luận đế

xuất giả

thuyết



Phát triển

kỹ năng

vận dụng

kiến thức



Suy

luận 1

vấn đề

qua 1

vấn đề



Đề

xuất

giả

thuyết

từ một

tình

huống

cụ thể



Qua

sơ đồ

rút ra

nhận

xét kết

luận



Chứng

minh

giải thích

dựa vào

kiến

thức đã

học



Vận

dụng

kiến

thức

thực

tiễn



Sơ đồ 2.2 : Các dạng PHT

2222



( Nguyễn Tất Thắng, 2011)

2.2.4 Các biện pháp sử dụng phiếu học tập trong dạy h ọc

Hiệu quả của việc DH sử dụng PHT được quyết định một phần bởi

biện pháp sử dụng PHT. PHT có thể sử dụng vào các khâu của quá trình DH

khác nhau như: dạy bài mới, củng cố, kiểm tra.

* PHT sử dụng để dạy bài mới: Là cách sử dụng PHT theo hình th ức

phát PHT cho HS trước khi vào nội dung bài m ới, ph ần m ới… Đ ể h ọc sinh

tự nghiên cứu tài liệu ( tài liệu, SGK) rồi rút ra kiến th ức c ần lĩnh h ội qua

trả lời ( hoàn thành phiếu).

PHT sử dụng trong trường hợp này thường yêu cầu HS:

- Đọc một đoạn SGK rồi tóm tắt, sơ đồ hóa, rút ra kết luận.

- Nghiên cứu tài liệu hoặc vận dụng kiến thức vào thực tiễn.

- Quan sát hình vẽ, sơ đồ…

* Sử dụng PHT để củng cố kiến thức: Phát cho HS sau khi đã h ọc

xong một đoạn, một phần hay một bài, một nội dung nào đó. Thơng qua

PHT sẽ khắc sâu kiến thức cho HS, đánh giá được mức đ ộ lĩnh h ội kiến

thức của HS và quá trình DH của HS.

PHT sử dụng trong trường hợp này thường yêu cầu HS:

- Điền vào sơ đồ câm do GV lập ra.

- So sánh, khái quát, kết luận sau khi học xong, một n ội dung.

- Vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn.

- Sơ đồ hóa nội dung bài học.

- Phân tích sơ đồ hoặc nội dung nào đó.

- Phân tích sơ đồ hoặc nội dung nào đó.

* Sử dụng PHT để kiểm tra : PHT dạng này phát cho HS khi cần thiết

kiểm tra lấy điểm (15 phút, 45 phút), kiểm tra chất l ượng. N ếu s ử d ụng

phiếu kiểm tra ngay trong bài dạy sẽ đánh giá mức độ tiếp thu ki ến th ức

2323



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×