Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHẦN 2: THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG TRẺ EM Ở VIỆT NAM

PHẦN 2: THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG TRẺ EM Ở VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ - 0trang

nề, ảnh hưởng đến sự phát triển hài hòa của trẻ em, tác động tiêu cực đến phát triển

kinh tế - xã hội, nhất là chất lượng nguồn nhân lực trong tương lai.

Từ ngày 14 đến 16/11/2017, một hội nghị tồn cầu về xóa bỏ lâu dài tệ nạn

lao động trẻ em đã diễn ra tại Buenos Aires, thủ đô Argentina, với gần 2000 đại

biểu tham dự đến từ 190 nước và vùng lãnh thổ. Sau ba ngày thảo luận, hội nghị

công bố bản “Tuyên bố Buenos Aires về cưỡng bức lao động trẻ em và việc làm

cho tuổi trẻ”. Theo đó, tệ nạn lao động trẻ em giảm rất chậm do sự gia tăng của làn

sóng người di cư và tị nạn vốn là hậu quả của các cuộc xung đột qn sự và biến

đổi khí hậu tồn cầu. Nếu khơng có những thay đổi quan trọng, thế giới sẽ khơng

xóa bỏ được tệ nạn trên vào năm 2025 như đã định trong Các mục tiêu Phát triển

bền vững (SDG) 2015-2030 do Liên Hiệp Quốc đề ra.

Một kết quả điều tra do các tổ chức xã hội dân sự thực hiện được công bố

dưới cái tên “It’s time to Talk” (tạm dịch: Đã đến lúc nói ra), với 1.822 trẻ em tuổi

từ 5-18 ở 30 quốc gia cho thấy đa số trẻ em lao động ở tuổi còn rất nhỏ là để phụ

giúp gia đình và điều kiện lao động của chúng rất đáng lo ngại. Những việc làm

này ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của trẻ, đặc biệt là cơ hội được hưởng

chế độ giáo dục phù hợp với nhu cầu phát triển tâm sinh lí.

II. Tại Việt Nam:

Trong thời gian vừa qua, vẫn có những nơi chưa thực hiện tốt các quy định

về cấm sử dụng lao động trẻ em, lao động cưỡng bức, nhất là trong khu vực phi

chính thức và các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, đặc biệt là trong các ngành

ăn uống, nhà hàng, chế biến gỗ, thủy hải sản, cao-su, sản xuất gạch.

Một số trẻ em vẫn tham gia vào những cơng việc có thời gian kéo dài, các

cơng việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, cơng việc có tính chất nhạy cảm, ảnh



6



hưởng đến sức khỏe, nhân cách, sự phát triển về thể chất, tinh thần và cơ hội học

tập của trẻ.

Một số nơi còn xảy ra tình trạng lao động cưỡng bức, vi phạm pháp luật Việt

Nam cũng như vi phạm các tiêu chuẩn lao động quốc tế mà Việt Nam đã hoặc

chuẩn bị tham gia.

Tính đến đầu năm 2017 theo ước tính tại Việt Nam hiện có tới 1,75 triệu lao

động là trẻ em, chiếm gần 10% trẻ em trên cả nước. Trẻ em bắt đầu làm việc sớm

phổ biến ở tuổi từ 12 cho đến dưới 17 tuổi, tuy nhiên vẫn có tới hơn 15% lao động

trẻ em ở nhóm 5 - 11 tuổi, đây là nhóm trẻ em nhỏ tuổi cần phải loại bỏ mọi hình

thức được coi là cưỡng bức hoặc khơng kiểm soát được.

Trong số trẻ em phải lao động sớm, gần 85% sinh sống ở khu vực nông thôn,

đây cũng là khu vực có tỷ lệ trẻ em tham gia lao động rất cao (chiếm 18,62% trong

dân số trẻ em nông thôn) và cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ trẻ em tham gia lao động

ở khu vực thành thị (7,56%) cho thấy các biện phòng ngừa lao động trẻ em cần

hướng vào khu vực nông thôn. Tỷ lệ tham gia hoạt động kinh tế (mọi hình thức)

của trẻ em trai cao hơn trẻ em gái.



7



Sơ đồ phân bố dân số trẻ em 5 - 17 tuổi theo tình trạng tham gia hoạt động

kinh tế của trẻ em (Theo Điều tra Quốc gia về lao động trẻ em)

Thực tế cho thấy, ở Việt Nam do khái niệm về lao động trẻ em vẫn chưa

được phổ biến trong cơng chúng, thì khi các bậc cha mẹ khơng thấy được lợi ích,

cơ hội cho trẻ để học cao hơn, họ thường có chung quan điểm là lao động có vẻ là

cách sử dụng thời gian của trẻ hiệu quả nhất. Thế nên mới dẫn đến điều đáng buồn

là trong số lao động trẻ em được khảo sát, có tới 52% trẻ đã từng đi học, 45,2%

đang đi học và 2,8% chưa bao giờ được cắp sách đến trường.

Có khoảng 67.1% trẻ em làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, 16,6% trẻ em

làm việc trong ngành công nghiệp/ xây dựng và 15,8% làm việc trong ngành dịch

vụ.

Theo Điều 163. Nguyên tắc sử dụng lao động là người chưa thành niên Luật lao động Việt Nam quy định:

8



 Thời giờ làm việc của người lao động chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến

dưới 18 tuổi không được quá 08 giờ trong 01 ngày và 40 giờ trong 01 tuần.

 Thời giờ làm việc của người dưới 15 tuổi không được quá 4 giờ trong 01

ngày và 20 giờ trong 01 tuần và không được sử dụng làm thêm giờ, làm việc

vào ban đêm.

 Người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi được làm thêm giờ, làm việc vào ban

đêm trong một số nghề và công việc theo quy định của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội.

Thế nhưng, theo điều tra chỉ ra 1/3 lao động trẻ em phải làm việc hơn 42 giờ

trong một tuần. Điều này có vẻ đi ngược lại với cam kết mà Việt Nam là một trong

những nước đầu tiên trên Thế giới kí cơng ước về quyền trẻ em từ năm 1990.

Đại diện của Bộ LĐ-TB-XH còn cho hay, việc trẻ em phải lao động sớm đã

và đang để lại hậu quả nặng nề, ảnh hưởng đến sự phát triển hài hòa của trẻ em, tác

động tiêu cực đến phát triển kinh tế, xã hội, nhất là chất lượng của nguồn nhân lực

trong tương lai. Việc tham gia lao động sớm không chỉ cản trở sự phát triển về thể

chất và tâm lý của trẻ em mà còn cản trở việc tiếp cận và thụ hưởng nền giáo dục

phù hợp, cản trở việc chuẩn bị một tương lai tốt hơn cho chính các em.

Do vậy các biện pháp phòng ngừa, can thiệp về lao động trẻ em cần hướng

vào đối tượng chính là các hộ gia đình và cha mẹ trẻ em.



9



PHẦN 3: NGUYÊN NHÂN, HẬU QUẢ

VÀ KHUYẾN NGHỊ VỀ VẤN ĐỀ LAO ĐỘNG TRẺ EM

I. Nguyên nhân dẫn đến lao động ở trẻ em

1. Kinh tế

- Nền kinh tế của quốc gia chưa phát triển:

Đói nghèo được xem là ngun nhân chính dẫn đến việc trẻ em tham gia các hoạt

động kinh tế và từ đó dẫn đến nguy cơ LĐTE. Sự chênh lệch mức sống giữa nông

thôn và thành thị dẫn đến làm gia tăng trẻ em lang thang kiếm sống, lao động trẻ

em ...

Cũng do mức sống dân cư tăng, chi phí cho các dịch vụ xã hội cơ bản như giáo

dục, y tế, vui chơi giải trí,... cho trẻ ngày càng tăng. Thêm vào đó, nghèo đói ngày

càng gay gắt, bộ phận dân cư nghèo không đủ điều kiện để đáp ứng nhu cầu của

trẻ, hiển nhiên những đứa trẻ này có xu hướng bỏ học và tìm kiếm việc làm.

- Về phía doanh nghiệp: Chi phí phải chi trả cho lao động trẻ em rất thấp, làm giảm

chi phí, tăng lợi nhuận, giá sản phẩm cạnh tranh.

2. Chính trị

- Bất cập trong pháp luật, chính sách như một số khái niệm, quy định, nội hàm về

lao động trẻ em chưa cụ thể, thống nhất, khó phân loại và dễ lẫn lộn cách hiểu.

- Thiếu quy định về xử phạt lao động trẻ em dưới 15 tuổi, ranh giới giữa việc nhà

và lao động trẻ em chưa rõ.

- Thanh tra, kiểm tra chưa tiếp cận được khu vực khơng chính thức nên khó phát

hiện, cưỡng chế xử phạt.

10



- Hạn chế trong cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng, thiếu hụt cơ sở dữ

liệu về lao động trẻ em và cán bộ làm công tác bảo vệ trẻ em.

- Mức xử phạt không đủ răn đe đối với những cá nhân, tổ chức lạm dụng lao động

trẻ em.

Cụ thể, theo Điều 15 Nghị định số 91 ngày 17-10-2011 của Chính phủ quy định

xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em nêu như sau:

Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ một triệu đồng đến năm triệu đồng đối với một

trong các hành vi: Cha, mẹ bắt con, người giám hộ bắt trẻ em mà mình giám hộ,

người nhận ni dưỡng trẻ em bắt trẻ em mà mình ni dưỡng làm cơng việc gia

đình quá sức, quá thời gian, ảnh hưởng việc học tập, vui chơi, giải trí, ảnh hưởng

xấu sự phát triển của trẻ em hoặc bắt trẻ em làm những công việc mà pháp luật

không cho phép. Người nhận dạy nghề cho trẻ em bắt trẻ em làm công việc quá

sức, nặng nhọc, quá thời gian, trong môi trường độc hại, nguy hiểm, ảnh hưởng

xấu sự phát triển của trẻ em.

Như vậy, cho thấy mức xử phạt còn quá nhẹ so với những lợi ích từ việc lạm dụng

lao động trẻ em.

3. Xã hội

- Lối sống thực dụng chạy theo đồng tiền làm một số giá trị đạo đức xã hội bị đảo

lộn: li dị, li thân, bỏ rơi con cái, mức độ quan tâm của cộng đồng, làng, xã đối với

trẻ em ngày càng giảm sút. Trẻ em thường rất nhạy cảm với sự thay đổi của môi

trường, do vậy tình trạng bỏ nhà ra đi, trộm cắp, tự tìm kiếm việc làm nuôi sống

bản thân ngày càng gia tăng ở lứa tuổi các em.

- Trong xã hội nhiều người vẫn còn chấp nhận việc sử dụng lao động trẻ em, họ

cho rằng đơn giản là mưu sinh.



11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHẦN 2: THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG TRẺ EM Ở VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×