Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Ghi chú: Thất được khử cực bằng đường phụ nhiều hơn. Sóng delta rõ, phức bộ QRS giãn rộng

Ghi chú: Thất được khử cực bằng đường phụ nhiều hơn. Sóng delta rõ, phức bộ QRS giãn rộng

Tải bản đầy đủ - 0trang

23

* Những dấu hiệu ĐTĐ của hội chứng WPW điển hình có biểu hiện gồm , ,

:

+ Khoảng PR ngắn dưới 0,12s với sóng P bình thường.

+ Phức bộ QRS giãn rộng bất thường với thời gian ≥ 0,11s.

+ Có sóng delta là phần trát đậm ở phần đầu của phức bộ QRS.

+ Có thể có sự thay đổi thứ phát của đoạn ST và sóng T.

+ Thường hay có cơn nhịp nhanh kịch phát trên thất.

* Có hai dạng hội chứng WPW (kiểu A và kiểu B):

+ Kiểu A (typ A): Do ĐDTP ở bên trái, sóng delta dương hay đi lên ở

chuyển đạo V1 (vòng tròn đỏ), mũi tên chỉ sóng delta (Hình 1.5).

Hình 1.5. Điện tâm đồ typ A

* Nguồn theo Soo W.M. và cộng sự (2011)

-



Kiểu B (typ B): Do ĐDTP ở bên phải, sóng delta âm hay đi xuốngở



chuyển đạo V1 (vòng tròn đỏ), mũi tên chỉ sóng delta (Hình 1.6)..

Hình 1.6. Điện tâm đồ typ B

* Nguồn theo Soo W.M. và cộng sự (2011)



1.2.4.3. Chẩn đoán xác định hội chứng Wolff-Parkinson-White

Chẩn đoán xác định dựa vào đặc điểm của ĐTĐ với tiêu chuẩn chính

như sau :

+ Khoảng PR ngắn (< 0,12 s)

+ Phức bộ QRS giãn rộng (≥ 0,11 s)

+ Xuất hiện sóng delta trát đậm ở phần đầu phức bộ QRS.

1.2.4.4. Phương pháp chẩn đoán hội chứng Wolff-Parkinson-White bằng điện

tâm đồ

* Điện tâm đồ bề mặt:

Cho đến nay, việc chẩn đoán xác định hội chứng WPW điển hình vẫn là

chính yếu dựa vào dấu hiệu ĐTĐ bề mặt trên 12 chuyển đạo thường quy (mục

1.2.4.3) .



24

Trên thực tế lâm sàng, nhiều NC đã cho thấy việc phân tích hình ảnh

ĐTĐ 12 chuyển đạo thơng dụng còn có ý nghĩa vơ cùng quan trọng giúp sơ

bộ chẩn đốn được vị trí ĐDTP, đặc biệt là trong việc xác định ĐDTP ở bên

phải hay bên trái để lựa chọn đường vào thích hợp (đường tĩnh mạch hay

động mạch đùi) để lập bản đồ nội mạc và điều trị bằng RF .

* Nghiệm pháp gắng sức điện tâm đồ:

Là một phương pháp thăm dò tim mạch không chảy máu đã được Feil

và Siegel sử dụng để chẩn đoán bệnh tim thiếu máu cục bộ từ năm 1928, đầu

tiên bằng những phương pháp đơn giản như đứng lên ngồi xuống nhiều lần,

leo bậc thang,… rồi đến xe đạp cơ lực kế (bicycle ergometer), thảm chạy

(treadmill) , .

Trong các loại hình tiến hành, nghiệm pháp gắng sức ĐTĐ sử dụng

thảm chạy để chẩn đoán bệnh tim thiếu máu cục bộ hiện nay đã được sử dụng

rộng rãi ở các cơ sở tim mạch trên thế giới , .

Nghiệm pháp gắng sức ĐTĐ còn giúp để phát hiện và chẩn đoán

các RLNT: Suy yếu nút xoang, RL nhịp thất, Nhịp nhanh trên thất, có thể

phát hiện hội chứng WPW và những RLNT kèm theo, kể cả WPW cách

hồi , , .

* Holter ĐTĐ 24 giờ:

Holter ĐTĐ 24 giờ cũng là phương pháp thăm dò tim mạch khơng chảy

máu được sử dụng để phát hiện các RLNT và những bất thường về ĐTĐ

trong khoảng thời gian 24 giờ , .

Những trường hợp có triệu chứng lâm sàng như hồi hộp đánh trống

ngực, chóng mặt, mệt thỉu hoặc ngất, có thể được đánh giá bằng cách theo

dõi các sự kiện của ĐTĐ trong 24 giờ để phát hiện các RLNT như RL Nhịp

chậm hoặc nhịp nhanh, và (hoặc) có các rối loạn dẫn truyền (hội chứng

WPW,…) .

Phát hiện được các RLNT khác kèm theo mà nhất thời ĐTĐ bề mặt

không phát hiện được, chẩn đoán được Hội chứng WPW và đặc biệt có vai

trò trong những trường hợp phát hiện WPW cách hồi; tuy nhiên do số



25

chuyển đạo hạn chế, nên cũng khó để chẩn đốn được định khu vị trí ĐDTP ,

,.

Ngồi Holter ĐTĐ 24 giờ, còn có thể chẩn đoán bằng hệ thống Monitor

hoặc một số thiết bị ghi ĐTĐ khác .

* Thăm dò Điện sinh lý tim:

Trong những năm gần đây bằng phương pháp TD ĐSLT và lập bản đồ

nội mạc, người ta khơng chỉ chẩn đốn được chính xác hội chứng WPW mà

còn cho phép xác định được chính xác các vị trí ĐDTP và cơ chế của rối loạn

dẫn truyền cũng như những RLNT khác kèm theo ở bệnh nhân có hội chứng

WPW (kể cả những ĐDTP ẩn); từ đó có thể triệt bỏ những RLNT này bằng

năng lượng sóng RF .

1.2.4.5. Chẩn đốn định khu vị trí đường dẫn truyền phụ

Các NC điện sinh lý và lập bản đồ nội mạc (mapping) đã chỉ ra ĐDTP

nhĩ thất có thể ở bất cứ nơi nào dọc theo vòng van nhĩ thất hoặc vách ngăn , từ

kết quả TD ĐSLT đã xác định được chính xác vị trí ĐDTP, nhưng trên thực tế

lâm sàng người ta vẫn dựa vào ĐTĐ 12 chuyển đạo thông dụng để sơ bộ chẩn

đốn vị trí ĐDTP, đặc biệt là ở bên phải hay bên trái và lựa chọn đường vào

thích hợp để lập bản đồ nội mạc.

Dựa trên đặc tính dẫn truyền và vị trí vòng van nhĩ thất, nhiều tác giả

trên thế giới đã đồng quan điểm thường chia ra 3 vùng về định khu ĐDTP với

10 vị trí ĐDTP (Hình 1.7) , , .

+ Vùng thành tự do bên phải: bao gồm vùng trước bên bên phải; sau

bên bên phải, và thành bên bên phải.

+ Vùng thành tự do bên trái: bao gồm vùng trước bên bên trái, sau bên

bên trái, và thành bên bên trái.

+ Vùng vách: bao gồm vùng trước vách, giữa vách, và sau vách (bao

gồm sau vách bên phải và bên trái).

Trong chẩn đoán định khu vị trí ĐDTP, có thể định danh theo nhóm

định khu:

+ Nhóm bên phải (thành tự do bên phải, trước vách, giữa vách và sau

vách bên phải) và bên trái (thành tự do bên trái và sau vách bên trái).



26

+ Vùng thành trước (trước bên bên phải, trước bên bên trái và trước

vách) hay vùng thành sau (thành sau bên phải, thành sau bên trái, sau vách).

+ Vùng vách (trước vách, giữa vách và sau vách) hay vùng thành tự do

(thành tự do bên phải và thành tự do bên trái).



Van Ba lá



Van ba lá



Van Ba Lá



Van hai lá



Hình 1.7. Vị trí đường dẫn truyền phụ trên hình ảnh Xquang nghiêng

trước trái 300.

*Nguồn: theo Cosío F.G. (1999)



1.2.5. Điều trị hội chứng Wolff – Parkinson – White

Điều trị hội chứng WPW bao gồm điều trị các RLNT ở BN có hội

chứng này và triệt bỏ đường dẫn truyền phụ , .

1.2.5.1. Điều trị rối loạn nhịp tim thường gặp ở bệnh nhân Wolff – Parkinson

– White

* Điều trị nhịp nhanh vào lại nhĩ thất:

+ Nếu BN bị cơn NNVLNT có tình trạng huyết động không ổn định:

sốc điện đồng bộ chuyển nhịp ngay.

+ Nếu BN có tình trạng huyết động ổn định thì việc điều trị sẽ bao gồm

điều trị cấp cứu cắt cơn NNVLNT và điều trị lâu dài những RLNT này.

* Các biện pháp điều trị cắt cơn:

Các thủ thuật cường phế vị: Có thể sử dụng động tác



27

+ Nghiệm pháp Valsalva: Nuốt miếng thức ăn to, uống miếng nước

lạnh lớn, cúi gập người thấp đầu kẹp giữa 2 đầu gối, úp mặt vào chậu

nước lạnh...

+ Ấn nhãn cầu: Khơng dùng thủ thuật này nếu BN có tiền sử bệnh võng

mạc, tăng nhãn áp...

+ Xoa xoang cảnh: BN nằm ngửa, xoa nhẹ nhàng từng bên từ 10-20s,

sau đó chuyển sang bên kia. Khơng thực hiện nếu BN có ngất xoang cảnh, có

tiền sử TBMN thống qua.

Tạo nhịp: Tạo nhịp tim là sử dụng một nguồn điện thích hợp qua dây

thơng điện cực kích thích tim làm cho tim đập trong giới hạn bình thường và

cũng có thể kích thích tim với một tần số thích hợp làm ngừng các cơn tim

nhanh. Tạo nhịp cắt cơn NNVLNT có thể là: tạo nhịp vượt tần số hoặc tạo nhịp

dưới tần số và tạo nhịp qua thực quản hoặc trong buồng tim (tạo nhịp nhĩ hoặc

tạo nhịp thất). Thường được chỉ định khi các biện pháp khác không hiệu quả.

Sốc điện chuyển nhịp: Được chỉ định khi các cơn tim nhanh gây trụy

tim mạch, đau thắt ngực, hoặc suy tim cần phải cắt cơn ngay . Các thuốc

adenosin, verapamil có chống chỉ định hoặc khơng có hiệu quả . Các biện

pháp và thuốc khác khơng hiệu quả.

Điều trị bằng thuốc: Có thể sử dụng các nhóm thuốc sau:

+ Thuốc có tác dụng gây cường phế vị mạnh, làm chậm dẫn truyền, gây

blốc ở nút nhĩ thất nên phá vỡ được vòng vào lại. Chống chỉ định: Những BN

có hội chứng suy nút xoang, hoặc đã dùng các thuốc ức chế nút xoang hoặc

nút Tawara, hoặc có hen phế quản.

+ Các thuốc chẹn kênh canxi hoặc thuốc chẹn beta giao cảm: Adenosin,

Verapamil, Diltiazem, Ibutilide, Amiodarone,…, , .

* Điều trị lâu dài nhịp nhanh vào lại nhĩ thất:

Điều trị dự phòng RLNT bằng các thuốc , , :

+ Propafenone: 300 – 600mg/ngày.

+ Fleicainide: uống 100-200mg/ngày.

+ Sotalol: 160-320mg/ngày.

+ Amiodarone: 200-400mg/ngày.



28

Điều trị ngoại khoa phẫu thuật cắt bỏ ĐDTP: Hiện nay phẫu thuật cắt

bỏ ĐDTP để điều trị RLNT khi bị thất bại bằng phương pháp điều trị bằng

năng lượng sóng RF hoặc xét thấy điều trị bằng phẫu thuật có lợi hơn

phương pháp điều trị điện sinh lý học can thiệp , .

Triệt bỏ ĐDTP thường bằng năng lượng sóng có tần số radio , , , , .

1.2.5.2. Điều trị triệt bỏ đường dẫn truyền phụ bằng năng lượng sóng có tần

số radio

Cho đến nay phương pháp này vẫn đang là lựa chọn hàng đầu và ngày

càng được áp dụng rộng rãi để điều trị các RLNT như triệt bỏ ĐDTP ở HC

tiền kích thích (WPW) và các RLNT trong những trường hợp hội chứng

WPW có nhiều cơn nhịp nhanh, cơn NNVLNT dung nạp kém, RN, cuồng nhĩ

có tần số thất nhanh do dẫn truyền nhanh qua ĐDTP , , , . Đây là một phương

pháp có thể điều trị khỏi các RLNT và thậm chí tỷ lệ biến chứng lại thấp hơn

nhiều so với điều trị bằng thuốc hoặc các phương pháp điều trị khác.

Chỉ định và chống chỉ định của thủ thuật dựa trên hướng dẫn của Hội

Tim mạch học Hoa kỳ/Trường môn Tim mạch Hoa kỳ/Hội Điện sinh lý và tạo

nhịp tim Bắc Mỹ năm 2006 (AHA/ACC/NASPE 2006), cũng như Đồng thuận

chuyên gia (expert consensus) của Hội nhịp học Châu Âu/ Hội nhịp học Hoa

Kỳ năm 2009 (EHRA/HRS 2009) và Phân hội nhịp tim Việt Nam năm

2010 , , .

* Chỉ định điều trị triệt bỏ ĐDTP bằng năng lượng sóng có tần số radio:

Những trường hợp WPW có rối loạn nhịp nhanh có triệu chứng đe dọa

sự sống như ngất, co giật, hoặc sau khi ngừng tim đã bình phục.

Những trường hợp nhịp nhanh vào lại nhĩ thất dung nạp kém và rung

nhĩ, cuồng nhĩ có tần số thất nhanh.

Những trường hợp rối loạn nhịp kháng trị với thuốc chống loạn nhịp:

Khơng thể khống chế có hiệu quả bằng thuốc chống loạn nhịp.

Thuốc chống loạn nhịp có nhiều tác dụng khơng mong muốn

Những trường hợp WPW khơng có triệu chứng: BN có nguy có nghề

nghiệp cao (như phi cơng, lái xe,...) hoặc lựa chọn của BN hoặc có nguy cơ

cao đã được sàng lọc qua TD ĐSLT.



29

* Chống chỉ định trong thăm dò ĐSLT:

Các trường hợp có bệnh nhiễm trùng tiến triển

Viêm tắc mạch máu: Viêm tắc tĩnh mạch,...

Rối loạn đông máu nặng nề

BN không đồng ý làm thủ thuật

* Các biến chứng của thủ thuật:

Các biến chứng tại tim: Phản ứng cường phế vị, blốc nhĩ thất, thủng tim

gây tràn máu màng ngoài tim, tắc ĐMV, co thắt ĐMV, viêm màng ngoài tim,

tổn thương van tim.

Các biến chứng mạch máu: Chảy máu vào phúc mạc, tụ máu chỗ chọc

mạch, tổn thương nội mạc mạch máu, viêm tắc tĩnh mạch, động mạch,

TBMN, tụt HA, tắc mạch do cục máu đông hay do khí

Các biến chứng ở phổi: Tràn máu màng phổi (thường liên quan đến

chọc TM dưới đòn).

Các biến chứng khác: Phản ứng cường phế vị (Kích ứng dạ dày), nhiễm

trùng tại vị trí chọc mạch, RLNT

Nguy cơ nhiễm xạ: Nguy cơ nhiễm xạ của thủ thuật triệt đốt nhìn

chung là thấp.

Nói chung, tỷ lệ các biến chứng là thấp , , , nhưng khi tiến hành thủ

thuật luôn cần phải tuân thủ chặt chẽ quy trình kỹ thuật tránh các nguy cơ

tiềm tàng để đảm bảo hiệu quả và an tồn nhất.

1.3. CÁC NGHIÊN CỨU CĨ LIÊN QUAN ĐẾN CHẨN ĐỐN ĐỊNH

KHU VỊ TRÍ ĐƯỜNG DẪN TRUN PHỤ BẰNG ĐIỆN TÂM ĐỒ BỀ

MẶT TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM

1.3.1. Trên thế giới

Năm 1945, Rosenbaum F.F. và cộng sự dựa vào hình dạng, sự phân cực

của phức bộ QRS và sóng delta, đã phân loại hội chứng WPW thành 2 kiểu:

Kiểu A (typ A) và Kiểu B (typ B), trong đó typ A thường có phức bộ QRS (+)

ở các chuyển đạo trước tim V1, V2; trong khi typ B thường có phức bộ QRS

(-) ở các chuyển đạo trước tim V1, V2 , .



30

Năm 1975, Tonkin A.M. và cộng sự qua TD ĐSLT đã xác định vị trí

của ĐDTP ở hội chứng WPW điển hình (n=27), tác giả chia sự phân bố của vị

trí ĐDTP làm 3 vùng chính với thành tự do bên trái chiếm 50%, vùng sau

vách (giữa vách nhĩ và thất): 30%, Thành tự do bên phải hoặc thành trước

vách chiếm 20%. Tonkin A.M. và các cộng sự cũng chỉ ra sự dự báo chính

xác vị trí định khu ĐDTP của 3 vùng trên lần lượt là: 10/10, 9/10 và 6/7. Tuy

nhiên, NC này mới NC trên cỡ mẫu nhỏ, chỉ dựa vào thông số sóng delta và

phức bộ QRS, chưa phân chia định khu ra nhỏ hơn .

Năm 1978, Gallagher J.J. và cộng sự đã NC thấy ở vùng thành trước hay

gặp sóng delta phổ biến dương ở các CĐSD (DII, DIII, aVF), trong khi đó ở

vùng thành sau hay gặp sóng delta phổ biến là âm ở các CĐSD; ĐDTP bên trái

hay gặp sóng delta (+) ở V1, ĐDTP bên phải hay gặp sóng delta (-) hoặc đẳng

điện ở V1,...; tuy nhiên NC trên cỡ mẫu nhỏ nên mới dừng lại ở những nhận xét

ban đầu về đặc điểm sự phân cực của sóng delta ở các CĐ trước tim và CĐ

ngoại biên , .

Bảng 1.1. Bảng đặc điểm sóng delta theo Gallagher J.J.



(± =Sóng delta đẳng điện; + = Sóng delta dương; - = Sóng delta âm)

Ghi chú: (1): trước vách bên phải, (2): trước bên bên phải, (3): thành bên bên phải,

(4): thành sau bên phải, (5): sau vách bên phải, (6): sau vách bên trái, (7): thành sau bên

trái, (8): thành bên bên trái, (9): trước bên bên trái, (10): trước vách bên trái

* Nguồn: theo Gallagher J.J. và cộng sự (1978)



Năm 1985, Willems J.L. và cộng sự (WHO) cũng đã đưa ra một số tiêu

chuẩn chẩn đoán ĐDTP như: ĐDTP ở phía trước có sóng delta dương hoặc có

thể ở dạng hai pha ở các CĐSD (DII, DIII, aVF); trong khi đó ĐDTP ở phía



31

sau có sóng delta âm ở các CĐSD (DII, DIII, aVF). Sự chuyển tiếp của phức

bộ QRS tại vùng vách xảy ra chủ yếu ở V1V2 (ở V1 dạng rS, ở V2 dạng Rs) ,

.

Năm 1987, Lemery R. và cộng sự NC trên 47 BN hội chứng WPW điển

hình có áp dụng theo các tiêu chuẩn xác định vị trí ĐDTP bằng ĐTĐ bề mặt

12 CĐ của một số tác giả trước đó (Rosenbaum F.F., Gallagher J.J., và

Willems J.L.) có đối chiếu với vị trí ĐDTP được khẳng định sau cắt bỏ thành

công ĐDTP, thấy việc xác định ĐDTP bên phải hay bên trái theo tiêu chuẩn

của Rosenbaum có độ chính xác còn chưa cao với độ chính xác cho ĐDTP

bên phải là 9/13 (69,2%) và bên trái là 26/34 (76,5%); Xác định vị trí ĐDTP

theo tiêu chuẩn của Gallagher J.J. cũng như Willems J.L. cũng mới chỉ đạt độ

chính xác 13/47 (32%). NC còn cho thấy việc sử dụng thơng số sóng delta (-)

hoặc sóng Q ở V6 là hiếm xảy ra và khó có thể dùng để phân biệt thành bên

bên trái và thành sau bên trái, việc nhận xét sóng delta phổ biến (+) ở các

CĐSD (DII, DIII, aVF) đối với cả ĐDTP thành bên bên trái và thành sau bên

trái là chưa phù hợp, sử dụng QRS (-) ở V1 và QRS (-) ở DIII khó có thể

phân biệt ĐDTP thành bên bên phải và sau bên bên phải, QRS (+) ở V1 và

QRS (-) ở DIII chưa đủ để có thể xác định ĐDTP sau bên bên trái; Tuy nhiên,

NC trên cỡ mẫu nhỏ với số lượng ĐDTP bên phải ít và không gặp ĐDTP nào

vùng trước vách .

Cũng vào năm 1987, Milstein S. và cộng sự đã NC về mối tương quan

giữa vị trí ĐDTP với ĐTĐ bề mặt trên 141 BN có hội chứng WPW dựa vào

các thơng số đặc điểm sóng delta (+/-) ở DI, aVL và/hoặc V6, sóng delta (+/-)

ở 2 trong 3 CĐSD (DII, DIII và/hoặc aVF), trục phức bộ QRS > +30 0. Sóng

delta (+) ở V1,V2 và/hoặc V3. Sóng delta (+) ở V1 hoặc V2; đã lập nên sơ đồ

chẩn đoán chia ra làm 4 vùng gồm trước vách bên phải (RAS), thành bên bên

trái (LL), sau vách (PS), Thành bên bên phải (RL). Chẩn đốn chính xác đến

90% các vị trí ĐDTP. Dạng block nhánh (LBBB) chỉ ra một phức bộ QRS (+)

ở chuyển đạo DI với thời gian ≥ 0.09 giây và có dạng rS ở V1 và V2 .



32



Sơ đồ 1.1. Sơ đồ chẩn đoán định khu ĐDTP của Milstein S.

Ghi chú: (+): Dương tính, (-): Âm tính

* Nguồn: theo Milstein S. và cộng sự (1987)



Năm 1993, Dubuc M. và cộng sự tại Canada đã NC trên 30 BN hội

chứng WPW về đặc điểm ĐTĐ bề mặt ở các vị trí ĐDTP với việc TD ĐSLT

và điều trị RF. Tác giả chia ra các định khu theo Milstein: Thành tự do bên

trái, bên phải, sau vách và trước vách, trong đó vùng thành bên trái chiếm đa

số. Nhóm tác giả đã NC vị trí ĐDTP dựa trên các đặc điểm của sóng Q ở các

chuyển đạo aVL và sóng R ở các CĐSD (DII, DIII, aVF) và V6 cũng như sự

thay đổi của trục QRS từ -810 đến +520. Tuy nhiên NC này mới trên cỡ mẫu

nhỏ và chưa đưa nêu ra sơ đồ cụ thể .

Năm 1994, Fitzpatrick A.P. và cs đã xây dựng sơ đồ chẩn đoán vị trí

ĐDTP bằng ĐTĐ bề mặt 12 chuyển đạo bởi nhóm các thông số gồm sự chuyển

tiếp QRS ở các CĐ trước tim, mối tương quan R/S ở DI, aVL, sự phân cực sóng

delta, trục điện tim, và biên độ sóng R ở DIII; tác giả phân chia định khu thành 8

vị trí ĐDTP: Bên phải có vùng thành tự do (gồm trước bên bên phải, sau bên bên

phải) và vùng vách (gồm trước vách bên phải, giữa vách bên phải, và sau vách

bên phải), bên trái có vùng thành tự do (gồm trước bên bên trái và sau bên bên

trái) và vùng vách (sau vách bên trái), tuy nhiên việc sử dụng những thông số

theo những tiêu chuẩn này vào trong thực tế còn khá phức tạp .

Năm 1999, Basiouny T. và cs đã tiến hành một nghiên cứu so sánh độ

chính xác trong chẩn đốn định khu ĐDTP bằng ĐTĐ bề mặt ở BN có hội

chứng WPW của 11 phương pháp chẩn đoán (11 sơ đồ khác nhau) trên 266

bệnh nhân được điều trị RF thành công là những BN có 1 ĐDTP, để đánh giá



33

độ chính xác và những hạn chế của những sơ đồ chẩn đoán định khu ĐDTP

bằng ĐTĐ bề mặt 12 chuyển đạo. Kết quả cho thấy với những sơ đồ không sử

dụng thông số sự phân cực của sóng delta (sóng delta dương hay âm) vào

trong sơ đồ chẩn đốn thì có độ chính xác thấp hơn. Tác giả cho rằng cần xây

dựng sơ đồ chẩn đoán định khu ĐDTP mới tốt hơn, trong đó có sử dụng thơng

số về sự phân cực sóng delta trên ĐTĐ bề mặt .

Năm 2000, tại Chicago (Mỹ), Knight B.P. và cộng sự đã NC đưa ra một

số gợi ý về mối tương quan giữa vị trí ĐDTP và ĐTĐ bề mặt trong hội chứng

tiền kích thích bằng ĐTĐ bề mặt với đặc điểm sóng Q hoặc tổng giá trị điện

học sóng delta ở D1, aVL, hoặc V6, cũng như sóng delta (+/-) ở 2 trong 3

CĐSD (DII, DIII hoặc aVF) .

Dar M.A. và cộng sự (2008) khi áp dụng sơ đồ của Fitzpatrick A.P. đã

tiến hành NC áp dụng sơ đồ này ở Pakistan cũng đã làm rõ hơn về tổng giá trị

sự phân cực điện học của sóng delta (+)/(-) ở các CĐSD (DII, DIII, aVF) đối

với ĐDTP vùng thành trước hay sau ; tuy nhiên Dar M.A. cũng mới chỉ ra

được 8 định khu ĐDTP, vẫn chưa làm rõ được chi tiết các vị trí định khu của

thành tự do bên phải và bên trái mà chỉ phân định được 2 vị trí là trước bên và

sau bên (bên phải và bên trái), vùng giữa vách cũng mới dựa trên đặc điểm

sóng delta dương hay âm ở CĐSD, nên thực sự chưa chỉ ra được điểm riêng

của vùng giữa vách .

Đến năm 2012, Basiouny T. và cs đã NC trên 127 mẫu ĐTĐ bề mặt từ

127 BN có hội chứng WPW đã được triệt đốt thành cơng có 1 ĐDTP, được

phân tích bởi 2 nhóm NC độc lập với việc sử dụng 2 nhóm biến khác nhau

trong chẩn đoán ĐDTP: Một là độ phân cực của QRS trên V1, V2, DIII và

aVF; hai là hình thái học của QRS ở DIII, độ phân cực của sóng delta trên

aVF và biên độ của QRS trên DII (≤ 0,2 mV hoặc > 0,2 mV), kết quả cho

thấy khả năng dự báo bởi những biến ĐTĐ bề mặt này là khơng cao, khả năng

độ chính xác của tiên đốn đạt cao nhất ở 77% đối với vị trí SVBP .

Năm 2014, tại Nhật Bản, Taguchi N. và cs đã NC việc xác định vị trí

ĐDTP với 5 vùng dựa trên vị trí giải phẫu bằng đặc điểm sóng delta, tỷ lệ R/S

ở các CĐ V1,V2, V3 và giá trị (+/-) của phức bộ QRS trên ĐTĐ. NC liên tiếp



Bước 1



Tỷ lệ R/S ở V1 ≥ 0,5



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Ghi chú: Thất được khử cực bằng đường phụ nhiều hơn. Sóng delta rõ, phức bộ QRS giãn rộng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×