Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Cơ sở thực tiễn của đề tài.

Cơ sở thực tiễn của đề tài.

Tải bản đầy đủ - 0trang

điểm trong việc kích thích thị giác của học sinh, làm phong phú thêm các kênh

thông tin tiếp nhận truyện kể ở học sinh.

Hiện nay, có rất nhiều truyện kể đã được các họa sĩ vẽ lại dưới dạng tranh

liên hồn. Theo đó, các chi tiết chính của truyện kể đã được minh họa bằng hình

ảnh. Điều này giúp cho truyện kể được người giáo viên sử dụng trở nên lung

linh và sinh động hơn.

Hình thức biểu đạt truyện kể bằng phim

Đây là hình thức biểu đạt mà ở đó giảng viên khai thác sự hỗ trợ của phim

để thuật lại những tình tiết có trong truyện kể. Ở hình thức này có sự kết hợp

giữa âm thanh và hình ảnh trong một khoảng thời gian xác định thông qua các

nhân vật và lời thoại nhằm phản ánh những nội dung chính yếu nhất của câu

chuyện mà người giảng viên sử dụng.

Có thể nói, đây là biểu đạt đặc biệt nhất so với các hình thức biểu đạt khác

và có khả năng gây được nhiều ấn tượng nhất trong phương cách chuyển tải

truyện kể đến đối tượng học sinh. Cũng vì thế mà hình thức này rất thường được

học sinh yêu thích và hỗ trợ rất đắc lực trong việc nâng cao hứng thú học tập ở

học sinh.

Hiện nay, nhiều truyện kể đã được các nhà sản xuất phim khai thác nội

dung cốt truyện bằng các đoạn phim hoạt hình nổi tiếng. Cũng giống như các

hình thức biểu đạt khác, sau khi đã lựa chọn được truyện kể phù hợp, người giáo

viên có thể tìm kiếm các đoạn phim có thể biểu đạt nội dung của truyện kể để

trên cơ sở đó tiến hành các thao tác sư phạm nhằm khai thác nội dung và ý nghĩa

của nội dung đoạn phim phục vụ cho các mục đích sư phạm nhất định.

Qua nội dung trả lời của học sinh, giáo viên khái quát những biểu hiện của

tấm lòng yêu thương con trẻ đầy cảm động, đặc biệt là đối với những trẻ em có

hồn cảnh cơ đơn, bất hạnh. Qua đó, và nhấn mạnh đến nội dung kiến thức của

bài học về biểu hiện và ý nghĩa của nghĩa vụ đạo đức, lối sống có lương tâm,

nhân phẩm, trách nhiệm với hạnh phúc của người xung quanh.

Việc biểu đạt nội dung truyện kể bằng phim rất cần đến đến sự hỗ trợ của

các thiết bị chuyên dụng như máy tính, màn chiếu và loa tăng âm lượng. Ngồi

ra, nó đòi hỏi một số kĩ năng mang tính kĩ thuật như chỉnh sửa âm thanh, hình

ảnh trong quá trình biên tập, xử lí truyện kể ở hình thức biểu đạt này.

Việc tổ chức cho học sinh tiếp nhận nội dung truyện kể tuy mới chỉ là bước

khởi đầu cho hàng loạt những thác tác sư phạm của người GV để hướng đến

những mục tiêu của bài học nhưng việc đa dạng hóa các hình thức biểu đạt ln

có ý nghĩa to lớn trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng truyện kể.

Bên cạnh sự biểu đạt bằng ngơn ngữ lời nói, giáo viên có thể khai thác các

kênh hình để bổ sung cho quá trình thể hiện truyện kể. Trong giai đoạn hiện nay,

với sự chia sẻ tài nguyên dạy học một cách sâu rộng và sự hỗ trợ của công nghệ

thông tin, việc sử dụng tranh ảnh và phim để biểu đạt truyện kể có tiềm năng rất

lớn.

16



Điều đó giúp người giáo viên khai thác tối đa vai trò của truyện kể với tư

cách là một phương tiện dạy học đạo đức đặc thù đối với các bài dạy đạo đức

làm phong phú các kênh tiếp nhận thông tin ở học sinh qua khai thác nhiều giác

quan tiếp nhận (âm thanh, hình ảnh,...); tạo khơng khí sinh động cho lớp học,...

qua đó thiết lập và duy trì tốt hứng thú, kích thích được tính tò mò, ham hiểu

biết của học sinh, tạo điều kiện tốt cho quá trình tiếp thu tri thức, rèn luyện kĩ

năng và bồi dưỡng tư tưởng, thái độ ở học sinh qua mỗi bài học.

2.1. Khái quát q trình điều tra:

2.1.1. Mục đích:

Để chứng minh cho đề tài nghiên cứu về Sử dụng phim hoạt hình trong dạy

mơn đạo đức lớp 5 có tính ứng dụng cao. Qua đó, học sinh có thể nhanh chóng

tiếp thu bài qua phương pháp thực nghiệm trên

2.1.2.Nội dung điều tra:

Tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi tiểu học

Nhận thức cảm tính

a, Các cơ quan cảm giác: Thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác

đều phát triển và đang trong q trình hồn thiện.

b, Tri giác: Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi

tiết và mang tính khơng ổn định: ở đầu tuổi tiểu học tri giác thường gắn với hành

động trực quan, đến cuối tuổi tiểu học tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ

thích quan sát các sự vật hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp hẫn, tri giác của trẻ

đã mang tính mục đích, có phương hướng rõ ràng - Tri giác có chủ định (trẻ biết

lập kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việc nhà, biết làm các bài tập từ dễ đến

khó,...)

Nhận thấy điều này chúng ta cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động

mới, mang màu sắc, tích chất đặc biệt khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ

kích thích trẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác.

Nhận thức lý tính

a. Tư duy

Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan

hành động.

Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng

khái quát

Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 4, 5 bắt đầu biết

khái quát hóa lý luận. Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ

đẳng ở phần đông học sinh tiểu học.



17



b. Tưởng tượng

Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong phú hơn so với trẻ

mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dầy dạn. Tuy

nhiên, tưởng tượng của các em vẫn mang một số đặc điểm nổi bật sau:

Ở đầu tuổi tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững

và dễ thay đổi.

Ở cuối tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hồn thiện, từ những

hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới. Tưởng tượng sáng tạo tương

đối phát triển ở giai đoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm

thơ, làm văn, vẽ tranh,.... Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này

bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện

tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em.

Qua đây, các nhà giáo dục phải phát triển tư duy và trí tưởng tượng của

các em bằng cách biến các kiến thức "khơ khan" thành những hình ảnh có

cảm xúc, đặt ra cho các em những câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút các em

vào các hoạt động nhóm, hoạt động tập thể để các em có cơ hội phát triển q

trình nhận thức lý tính của mình một cách tồn diện.

c. Ngơn ngữ và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học

Hầu hết học sinh tiểu học có ngơn ngữ nói thành thạo. Khi trẻ vào lớp 1 bắt

đầu xuất hiện ngôn ngữ viết. Đến lớp 5 thì ngơn ngữ viết đã thành thạo và bắt

đầu hồn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm. Nhờ có ngơn ngữ phát

triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự

khám phá bản thân thơng qua các kênh thơng tin khác nhau.

Ngơn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với q trình nhận thức cảm

tính và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng

tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thơng qua ngơn ngữ

nói và viết của trẻ. Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể

đánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ.

Ngơn ngữ có vai trò hết sức quan trọng như vậy nên các nhà giáo dục

phải trau dồi vốn ngôn ngữ cho trẻ trong giai đoạn này bằng cách hướng

hứng thú của trẻ vào các loại sách báo có lời và khơng lời, có thể là sách văn

học, truyện tranh, truyện cổ tích, báo nhi đồng,....đồng thời cũng có thể kể

cho trẻ nghe hoặc tổ chức các cuộc thi kể truyện đọc thơ, viết báo, viết truyện,

dạy trẻ cách viết nhật kí,...Tất cả đều có thể giúp trẻ có được một vốn ngôn

ngữ phong phú và đa dạng. Hướng trẻ tới những ngơn ngữ mang tính chất

đạo đức chuẩn mực qua các phim hoạt hình.

d. Chú ý và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học

Ở đầu tuổi tiểu học chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm sốt,

điều khiển chú ý còn hạn chế. Ở giai đoạn này chú không chủ định chiếm ưu thế

hơn chú ý có chủ định. Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đến những môn học, giờ

học có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh,trò chơi hoặc có

18



cơ giáo xinh đẹp, dịu dàng,...Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền

vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quá trình học tập.

Ở cuối tuổi tiểu học trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý

của mình. Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự nỗ

lực về ý chí trong hoạt động học tập như học thuộc một bài thơ, một cơng thức

tốn hay một bài hát dài,...Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạn

của yếu tố thời gian, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian cho phép để làm

một việc nào đó và cố gắng hồn thành cơng việc trong khoảng thời gian quy

định.

Biết được điều này các nhà giáo dục nên giao cho trẻ những cơng việc

hay bài tập đòi hỏi sự chú ý của trẻ và nên giới hạn về mặt thời gian. Chú ý

áp dụng linh động theo từng độ tuổi đầu hay cuối tuổi tiểu học và chú ý đến

tính cá thể của trẻ, điều này là vô cùng quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp

đến kết quả giáo dục trẻ.

e. Trí nhớ và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học

Loại trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - lơgic

Giai đoạn lớp 1,2 ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm ưu

thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa. Nhiều học sinh chưa biết tổ chức việc ghi nhớ

có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cách khái quát

hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu.

Giai đoạn lớp 4,5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường.

Ghi nhớ có chủ định đã phát triển. Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ

định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của

các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thú

của các em...

Nắm được điều này, các nhà giáo dục phải giúp các em biết cách khái

quát hóa và đơn giản mọi vấn đề, sử dụng phim hoạt hình giúp các em xác

định đâu là nội dung quan trọng cần ghi nhớ, các từ ngữ dùng để diễn đạt

nội dung cần ghi nhớ phải đơn giản dễ hiểu, dễ nắm bắt, dễ thuộc và đặc biệt

phải hình thành ở các em tâm lý hứng thú và vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức.

f, Ý chí và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học

Ở đầu tuổi tiểu học hành vi mà trẻ thực hiện còn phụ thuộc nhiều vào yêu

cầu của người lớn (học để được bố cho đi ăn kem, học để được cô giáo khen,

quét nhà để được ông cho tiền,...) Khi đó, sự điều chỉnh ý chí đối với việc thực

thi hành vi ở các em còn yếu. Đặc biệt các em chưa đủ ý chí để thực hiện đến

cùng mục đích đã đề ra nếu gặp khó khăn.

Đến cuối tuổi tiểu học các em đã có khả năng biến yêu cầu của người lớn

thành mục đích hành động của mình, tuy vậy năng lực ý chí còn thiếu bền vững,

chưa thể trở thành nét tính cách của các em. Việc thực hiện hành vi vẫn chủ yếu

phụ thuộc vào hứng thú nhất thời.



19



Để bồi dưỡng năng lực ý chí cho học sinh tiểu học đòi hỏi ở nhà giáo dục

sự kiên trì bền bỉ trong cơng tác giáo dục, muốn vậy thì trước hết mỗi bậc cha

mẹ, thầy cô phải trở thành tấm gương về nghị lực trong mắt trẻ. Ngồi ra có thể

đưa ra những bộ phim hoạt hình có tấm gương sang trong lao động và học tập

để trẻ noi theo.

Nói tóm lại, sáu tuổi vào lớp 1 là bước ngoặt lớn của trẻ thơ. Mơi trường

thay đổi: đòi hỏi trẻ phải tập trung chú ý thời gian liên tục từ 30 - 35 phút.

Chuyển từ hiếu kỳ,tò mò sang tính ham hiểu biết, hứng thú khám phá. Bước đầu

kiềm chế dần tính hiếu động, bột phát để chuyển thành tính kỷ luật, nền nếp,

chấp hành nội quy học tập. Phát triển độ tinh nhạy và sức bền vững của các thao

tác tinh khéo của đôi bàn tay để tập viết,...Tất cả đều là thử thách của trẻ, muốn

trẻ vượt qua được tốt những điều này thì phải cần có sự quan tâm giúp đỡ của

gia đình, nhà trường và xã hội dựa trên sự hiểu biết về tri thức khoa học và giáo

dục về đạo đức.

g. Sự phát triển tình cảm của học sinh tiểu học

Tình cảm của học sinh tiểu học mang tính cụ thể trực tiếp và luôn gắn liền

với các sự vật hiện tượng sinh động, rực rỡ,...Lúc này khả năng kiềm chế cảm

xúc của trẻ còn non nớt, trẻ dễ xúc động và cũng dễ nổi giận, biểu hiện cụ thể là

trẻ dễ khóc mà cũng nhanh cười, rất hồn nhiên vơ tư...

Vì thế có thể nói tình cảm của trẻ chưa bền vững, dễ thay đổi (tuy vậy so

với tuổi mầm non thì tình cảm của trẻ tiểu học đã "người lớn" hơn rất nhiều.

Trong quá trình hình thành và phát triển tình cảm của học sinh tiểu học

ln luôn kèm theo sự phát triển năng khiếu: Trẻ nhi đồng có thể xuất hiện các

năng khiếu như thơ, ca, hội họa, kĩ thuật, khoa học,...khi đó cần phát hiện và bồi

dưỡng kịp thời cho trẻ sao cho vẫn đảm bảo kết quả học tập mà không làm thui

chột năng khiếu của trẻ.

Chính vì thế, việc giáo dục tình cảm cho học sinh tiểu học cần ở nhà

giáo dục sự khéo léo, tế nhị khi tác động đến các em; nên dẫn dắt các em đi

từ hình ảnh trực quan sinh động, hấp dẫn và đặc biệt phải luôn chú ý củng

cố tình cảm cho các em thơng qua các hoạt động cụ thể như trò chơi nhập

vai, đóng các tình huống cụ thể, các hoạt động tập thể ở trường lớp, khu dân

cư,...

h. Sự phát triển nhân cách của học sinh tiểu học

Nét tính cách của trẻ đang dần được hình thành, đặc biệt trong mơi trường

nhà trường còn mới lạ, trẻ có thể nhút nhát, rụt rè, cũng có thể sơi nổi, mạnh

dạn...Sau 5 năm học, "tính cách học đường" mới dần ổn định và bền vững ở trẻ.

Nhìn chung việc hình thành nhân cách của học sinh tiểu học mang những

đặc điểm cơ bản sau: Nhân cách của các em lúc này mang tính chỉnh thể và

hồn nhiên, trong q trình phát triển trẻ ln bộc lộ những nhận thức, tư tưởng,

tình cảm, ý nghĩ của mình một cách vô tư, hồn nhiên, thật thà và ngay thẳng;

nhân cách của các em lúc này còn mang tính tiềm ẩn, những năng lực, tố chất

20



của các em còn chưa được bộc lộ rõ rệt, nếu có được tác động thích ứng chúng

sẽ bộc lộ và phát triển; và đặc biệt nhân cách của các em còn mang tính đang

hình thành, việc hình thành nhân cách khơng thể diễn ra một sớm một chiều,

với học sinh tiểu học còn đang trong q trình phát triển tồn diện về mọi mặt vì

thế mà nhân cách của các em sẽ được hồn thiện dần cùng với tiến trình phát

triển của mình. Khi giáo dục đạo đức bậc tiểu học đưa học sinh đi đúng hướng

sẽ là nền tảng vững chắc cho nhân cách con người sau này.

Tổ chức giáo dục đạo đức cho học sinh sao cho sinh động, lôi cuốn và

thật sự có hiệu quả

Qua tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi tiểu học tôi nhận thấy rằng

những câu chuyện kể có ý nghĩa giáo dục trong giờ đạo đức là một trong những

phương pháp giáo dục đạo đức khá hay, nó hấp dẫn được mọi đối tượng và học

sinh thật sự hứng thú với những câu chuyện này. Trong giờ đạo đức hàng tuần

chúng ta có thể sử dụng phim hoạt hình để giảng dạy đạo đức. Những câu

chuyện này có thể một đoạn phim ngắn trong “Quà tặng cuộc sống” hay các

thước phim do chính giáo viên dàn dựng từ những bài văn hay được đăng tải

trên báo, những câu chuyện người thực việc thực trong mục “chuyện đời tự kể”,

những câu chuyện rất ngắn trong mục “cửa sổ tâm hồn” hay “những câu chuyện

làm thay đổi cuộc sống” trên các trang báo ra hàng ngày hay trên bất cứ các tạp

chí mà tình cờ đọc được, những câu chuyện mà trước đây tôi đã từng được nghe

các thầy cô của tôi kể. Kết hợp câu hỏi tình huống đặt ra để các em tìm cách giải

quyết.

Tận dụng tính trẻ trung năng động của học sinh để có được những

câu chuyện bổ ích, thú vị

Ngồi những câu chuyện do giáo viên chủ nhiệm kể, chúng ta cũng có thể

cho các em học sinh tự tìm những bộ phim hoạt hình có tính giáo dục trên

internet để kể lại cho cả lớp nghe và chúng ta cho thi đua theo tổ, các học sinh

trong tổ sẽ cùng nhau tìm kiếm một phim hoạt hình giáo dục gần với chủ đề

được học hơm đó để cùng cơ giáo chiếu cho cả lớp cùng xem và cuối cùng sẽ

bình chọn câu chuyện có nội dung hay nhất, có ý nghĩa giáo dục nhất, tổ nào có

câu chuyện được bình chọn sẽ được cộng điểm vào điểm thi đua của tổ.

Với hình thức này theo tơi nhận thấy thì tác dụng giáo dục rất cao, các em

sẽ biết tìm xem những câu chuyện hoạt hình hay, các em sẽ biết rút ra những ý

nghĩa giáo dục trong những bộ phim mà mình đã xem, một thói quen rất tốt cho

việc học văn, và các em rất hứng thú với việc làm này, cả lớp sẽ tham gia một

cách rất hăng hái, rất nhiệt tình.

Vai trò của những khách thể trong việc giáo dục đạo đức cho học

sinh theo hình thức này

Nhà trường và phụ huynh học sinh có thể cùng nhau tạo thành một tổ phim

chuyện, thiết kế một số phim hoạt hình theo nội dung bài giảng để áp dụng lâu

dài. Qua đó các em sẽ khơng phải đọc sách hoặc học đạo đức một cách khơ



21



khan. Có hình ảnh minh họa cụ thể, những câu chuyện gần gũi nhất với đời

thường.

Tìm hướng giải quyết những vấn đề gây khó khăn trong việc giáo

dục đạo đức cho học sinh theo cách này

a/ Vấn đề về nguồn phim

Trên internet hiện nay có rất nhiều nguồn phim hoạt hình có nội dung dạy

đạo đức khá hay, tuy nhiên muốn tìm một phim hoạt hình gần nhất với bài giảng

của giáo viên thì cũng khá vất vả. Vậy nên cần phải có những tập phim hoạt hình

rành riêng cho việc giảng dạy theo sách giáo khoa đạo đức lớp 5

b/ Vấn đề về trình độ giáo viên

Để có thể có một đoạn hoạt hình phù hợp với bài giảng khi khơng tìm được

trên các nguồn internet đòi hỏi giáo viên phải sử dụng tốt tin học để tự thiết kế

một bộ phim hoạt hình ngắn cho bài giảng của mình. Nhưng đa số các giáo viên

còn kém về mặt này. Để khắc phục nhà trường phải thành lập một đội chuyên tin

học thiết kế ra một số bộ phim hoạt hình đơn giản phục vụ cho môn học.

c/ Vấn đề về sức hấp dẫn của những câu chuyện

Có rất nhiều phim hoạt hình giáo dục đạo đức nhưng cần phải có những bộ

phim giáo dục đúng chuẩn mực và phải thu hút sự chú ý của trẻ, gần gũi, dễ hiểu

mới đạt được kết quả cao.

2.1.3. Đối tượng điều tra:

Sử dụng phim hoạt hình trong giảng dạy đạo đức cho học sinh lớp 5

2.1.4. Địa bàn điều tra: lớp 5A Trường TH Ba Hàng thị xã Phổ Yên

tỉnh Thái Nguyên

2.1.5. Dụng cụ điều tra, làm thực nghiệm:

- Video hoạt hình ví dụ bài học trong sách đạo đức lớp 5: Bài học tình bạn

và video kể chuyện hai người bạn và con gấu.

- Phiếu điều tra kết quả

2.2. Kết quả điều tra:

Kết quả phiếu điều tra Sử dụng phim hoạt hình trong giảng dạy đạo đức

cho học sinh lớp 5A với sĩ số là 45 bạn.

TT

1

2

3



NỘI DUNG

Học sinh thuộc bài ngay

tại lớp

Học sinh thấy hứng thú

với tiết học

Học sinh thích các tiết



SỐ HỌC

SINH



ĐỘ HÀI LÒNG

(%)



45



100



45



100



45



100



22



GHI

CHÚ



4



học đều như thế này

Số học sinh trả lời đúng

phiếu khảo sát



45



100



Kết quả khảo sát phiếu cho thấy số học sinh có kết quả tốt là 45/45 tương

ứng với tỷ lệ thành công của tiết học là 100%. Dựa trên kết quả này cho thấy

phương pháp này hoàn toàn hiệu quả với các em.

3. Khả năng ứng dụng trong giảng dạy mơn đạo đức:

Thay vì phải đọc các nội dung khá trừu tượng, khó hình dung thì học sinh

được theo dõi các cảnh thú vị, nhân vật cụ thể, hình ảnh rõ ràng... “Đây là cách

thức giáo viên cho học sinh xem phim kết hợp yêu cầu học sinh hoàn thành bài

tập giáo viên thiết kế sẵn, để khai thác nội dung của phim hoạt hình đó.

Với cách học này, phim hoạt hình được xem như một nguồn tri thức sống

động cung cấp cho học sinh. Qua đó tăng sự tập trung của học sinh với bài học,

và giảm bớt sự buồn chán của môn học mà các em đang thờ ơ” - Nhất giải thích.

Qua kết quả khảo sát sau buổi thực nghiệm cho thấy: ở giờ học khơng sử

dụng phim hoạt hình có 71,1% học sinh cho rằng giờ học bình thường, khơng

hứng thú. Ngược lại, ở giờ học có sử dụng phim hoạt hình lại có đến 100% học

sinh hứng thú với giờ học đạo đức.

Ở các mức độ tập trung, tham gia hay mức độ hiệu quả, sự cần thiết của

phim hoạt hình trong dạy học đạo đức thì có trên 90% học sinh trả lời ở mức độ

1 (rất tập trung, rất tích cực tham gia, rất hiệu quả, rất cần thiết, rất mong muốn)

và 2 (tập trung, tích cực tham gia, hiệu quả, cần thiết, mong muốn).

Một điều đáng vui hơn nữa là phim hoạt hình khơng chỉ tạo được hứng thú,

tích cực cho học sinh, mà nó còn được đánh giá là có hiệu quả nâng cao việc học

tập so với dạy học theo lối thụ động.

Tuy nhiên, nhiều giáo viên băn khoăn khi triển khai đề tài này trên thực tế

vì khơng phải giáo viên nào cũng thiết kế được phim hoạt hình.

Thiết kế phim hoạt hình đòi hỏi giáo viên phải có kiến thức nhất định về tin

học. Để áp dụng phương pháp này không nhất thiết giáo viên tự mình thiết kế

phim hoạt hình, mà nhà trường có thể lập nhóm chuyên thiết kế tạo nguồn phim

phục vụ việc dạy học. Nhà trường phổ biến những video này đến giáo viên, ai có

nhu cầu có thể sử dụng khi dạy học.



23



CHƯƠNG II:

SỬ DỤNG PHIM HOẠT HÌNH TRONG DẠY MÔN ĐẠO ĐỨC LỚP 5

1. Nguyên tắc sử dụng phim hoạt hình trong dạy mơn đạo đức lớp 5:

Phim hoạt hình phải gần gũi với cuộc sống hằng ngày, phải phù hợp với nội

dung trong sách giáo khoa, phải đúng chuẩn mực đạo đức để giúp học sinh hình

thành và phát triển cảm xúc tích cực, ý thức đúng đắn về cách cư xử, thói quen,

nền nếp cơ bản, cần thiết trong học tập và sinh hoạt phù hợp với giá trị văn hoá,

chuẩn mực đạo đức, quy tắc của cộng đồng, quy định của pháp luật, quy luật của

tự nhiên và xã hội.

2. Quy trình thực hiện một bài dạy đạo đức có sử dụng phim hoạt hình:

2.1. Chuẩn bị:

- Soạn bài giảng

- Lựa chọn video phim hoạt hình có nội dung tương tự bài giảng trong sách

- Phiếu câu hỏi khảo sát

- Chuẩn bị sẵn câu hỏi chia nhóm trả lời

- Dụng cụ trình chiếu gồm loa, máy chiếu, máy tính sách tay, USB chứa

phim hoạt hình.

- Có thể thiết kế thêm một số tranh ảnh bên ngoài.

2.2. Tổ chức thực hiện:

Giáo viên và học sinh cùng thực hiện những công việc sau trong

một buổi học đạo đức có sử dụng phim hoạt hình



NỘI DUNG



DIỄN GIẢI



I. ổn định.



Lớp trưởng lớp thực hiện



II. Kiểm tra.



Giáo viên thực hiện kiểm tra. Giáo

viên gọi bất kỳ bạn học sinh nảo

trong lớp và kiểm tra bài cũ, hỏi một

số kiến thức liên quan đến bài mới

để dẫn dắt các em học sinh vào bài

học mới



- Kiểm tra kiến thức cũ.

- Kiểm tra kiến thức có liên quan đến

bài học.

III. Bài mới.



- Giới thiệu bài, giáo viên chiếu đoạn

phim hoạt hình trên màn hình máy

chiếu để các em theo dõi



1. Giới thiệu bài.

2. Nội dung



- Sau khi xem giáo viên hỏi một số

câu hỏi dẫn dắt để các em tự do phát



2.1. Hoạt động 1: Xử lý tình huống

24



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Cơ sở thực tiễn của đề tài.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×