Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Những khái niệm cơ bản về tạo động lực làm việc cho người người lao động

1 Những khái niệm cơ bản về tạo động lực làm việc cho người người lao động

Tải bản đầy đủ - 0trang

5



Nói cách khác, để tồn tại được, con người cần thiết phải có các yếu tố vật

chất. Các yếu tố này có thể là có sẵn trong thiên nhiên như ánh sáng, khơng

khí, nước uống, tài ngun khống sản… hay các yếu tố do con người tạo ra

thông qua quá trình lao động của mình.

+ Nhu cầu tinh thần: là những yếu tố làm thoả mãn về mặt tâm lý, tạo

những điều kiện để con người phát triển về mặt trí lực. Nhu cầu tinh thần bao

gồm các loại như: Nhu cầu được lao động, học tập, thẩm mỹ và giao tiếp xã

hội, công bằng xã hội.

Nhu cầu của con người ngày càng thay đổi, càng ngày càng đa dạng và phong

phú. Khi nhu cầu vật chất được thỏa mãn thì lại làm nảy sinh nhu cầu tinh

thần cao hơn. Tuy nhiện, việc thoả mãn nhu cầu vật chất thì dễ hơn nhiều so

với thoả mãn nhu cầu tinh thần. Tuy nhiên, khi nhu cầu tinh thần được thỏa

mãn thì có tác dụng thúc đẩy kích thích q trình sản xuất phát triển, do đó,

có điều kiện nâng cao mức độ thoả mãn về nhu cầu vật chất.

Nhu cầu vật chất và tinh thần ln có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau.

Vì vậy, trong quản lý lao động không được xem nhẹ nhu cầu nào mà phải biết

kết hợp một cách hài hồ đan xen để kích thích người lao động làm việc hăng

hái, tích cực đem lại hiệu quả lao động cao.

Trong quá trình tồn tại phát triển, con người luôn ước muốn, mong muốn

vươn lên để được thoả mãn các nhu cầu cá nhân, mức độ mong muốn các nhu

cầu được thỏa mãn chính là lợi ích mong muốn.

1.1.2 Lợi ích mong muốn

1.1.2.1 Khái niệm lợi ích

Lợi ích là mức độ thoả mãn nhu cầu trong những điều kiện lịch sử cụ thể. Lợi

ích lao động được biểu hiện là lợi ích kinh tế trong mối quan hệ giữa những

người lao động với nhau, giữa người sử dụng lao động và người lao động.



6



1.1.2.2 Phân loại lợi ích

Tương ứng với nhu cầu vật chất và tinh thần có lợi ích vật chất và lợi ích tinh

thần. Giữa lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần có mối quan hệ chặt chẽ với

nhau. Sự thoả mãn lợi ích vật chất dễ hơn sự thoả mãn lợi ích tinh thần.

Thơng thường, một sự thoả mãn về lợi ích vật chất sẽ là tiền đề làm nảy sinh

lợi ích về tinh thần.

Tương ứng với nhu cầu cá nhân và nhu cầu xã hội có lợi ích cá nhân và lợi

ích xã hội. Lợi ích cá nhân là động lực trực tiếp mạnh mẽ nhất và thông qua

lợi ích cá nhân con người đạt được lợi ích tập thể. Lợi ích cá nhân gắn liền

với sự thoả mãn nhu cầu cá nhân của bản thân người lao động và gia đình họ,

lợi ích xã hội gắn liền với nhu cầu xã hội. Song suy cho cùng, thoả mãn nhu

cầu xã hội cũng chính nhằm phục vụ lợi ích của từng cá nhân. Lợi ích cá nhân

có tác động trực tiếp và tạo ra sự quan tâm nhiều hơn đối với người lao động

vì lợi ích cá nhân là biểu hiện cụ thể của sự đáp ứng nhu cầu cá nhân là yếu tố

tạo động lực làm việc. Mức độ thoả mãn lợi ích càng lớn thì càng tạo ra động

lực làm việc càng nhiều.

1.1.3 Động cơ của con người

1.1.3.1 Khái niệm động cơ

Động cơ ám chỉ những nỗ lực cả bên trong lẫn bên ngoài của một con người,

có tác dụng khơi dậy lòng nhiệt tình và sự kiên trì theo đuổi một cách thức

hành động đã xác định nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức và thỏa mãn

các nhu cầu cá nhân theo mức độ mong muốn. Động cơ ảnh hưởng tới hiệu

suất làm việc của nhân viên.

Động cơ là sự phấn đấu nội tâm: được mô tả như những ước muốn, mong

muốn mang đến trạng thái kích thích làm việc hay thúc đẩy các hành động lao

động. Một người có động cơ làm việc tích cực sẽ duy trì được tốc độ làm

việc, nỗ lực, kiên trì phấn đấu để đạt được mục đích dự định của mình.



7



Động cơ là động lực thúc đẩy con người hoạt động nhằm đáp ứng các nhu

cầu đặt ra thỏa mãn lợi ích mong muốn: Động cơ kéo theo sự nỗ lực kiên trì

phấn đấu để đạt được mục đích: động cơ càng lớn, càng thơi thúc con người

hành động vươn lên đạt mục tiêu hay lợi ích cụ thể để thoả mãn nhu cầu cá

nhân.

Để khai thác được tiềm năng con người, các nhà quản lý phải xác định được

động cơ và tìm cách thoả mãn những động cơ ấy càng nhiều, càng tốt.

1.1.3.2 Phân loại động cơ

- Động cơ cảm tính: động cơ gắn liền với trạng thái hứng thú lao động

- Động cơ lý tính: là biểu hiện của sự nhận thức rõ ràng mục tiêu cụ thể

1.1.4 Động lực làm việc của người lao động

1.1.4.1 Khái niệm động lực

Động lực được hiểu là sự khát khao tự nguyện của người lao động nhằm tăng

cường sự nỗ lực trong công việc để đạt được những mục tiêu của cá nhân và

mục tiêu chung của doanh nghiệp.

1.1.4.2 Phân loại động lực

Động lực làm việc bao gồm động lực bên trong và động lực bên ngoài.

Động lực bên trong: là động lực xuất phát từ sự khát khao được thoả mãn

các nhu cầu bên trong của từng cá nhân người lao động.

Động lực bên ngoài: liên quan đến các yếu tố tác động bên ngoài của các

doanh nghiệp và nhà quản trị như mức độ thoả mãn công việc hay khả năng

đáp ứng nhu cầu của người lao động về lương bổng đãi ngộ, điều kiện làm

việc, môi trường làm việc, cách đối xử của các nhà quản trị, tính hấp dẫn, độc

đáo hữu ích, bao gồm các yếu tố và nội dung công việc.

Động lực càng mạnh thì sự hăng hái, nhiệt tình và trách nhiệm đối với công

việc càng cao, càng giúp người lao động vươn tới sự quyết tâm để đạt được

mục tiêu với một năng suất và hiệu quả cao trong công việc. Vì thế trong quản



8



trị con người, nhà quản trị phải khơng ngừng tìm cách tạo và gia tăng động

lực làm việc.

1.1.5 Mối quan hệ giữa các khái niệm liên quan

Để tạo ra động lực làm việc hiệu quả, các nhà quản trị không chỉ nghiên cứu

các nhu cầu, mong muốn mà quan trọng hơn là phải biết được mức độ nhu

cầu muốn được thoả mãn của người lao động để rồi từ đó đáp ứng một cách

kịp thời, thoả đáng, phù hợp với cơng sức đóng góp của họ. Hay nói cách

khác, tạo động lực lao động chính là sự nắm bắt các nhu cầu làm phát sinh

động cơ và đáp ứng các lợi ích một cách thoả đáng bù đắp cho sức lao động

đó bỏ ra.

Như vậy giữa nhu cầu, lợi ích, động cơ và động lực có mối quan hệ khăng

khít. Nếu khơng có nhu cầu sẽ khơng phát sinh động cơ và khơng có mong

muốn thoả mãn lợi ích, từ đó khơng có động lực.

Lợi ích là mức độ thoả mãn nhu cầu, là hình thức biểu hiện của nhu cầu và

nhu cầu thì tạo ra động cơ thúc đẩy con người tham gia lao động để đạt mục

đích là lợi ích. Lợi ích chính là động lực trực tiếp cao nhất thúc đẩy con người

làm việc.

Để tạo động lực làm việc, nhà quản trị cần tìm hiểu động cơ của người lao

động xem mục đích lao động của họ là gì, từ đó, tác động vào lợi ích phù hợp

với nhu cầu của họ.

Trước hết, cần xem xét nhu cầu nào tạo động cơ lớn hơn, cần thiết được thoả

mãn trước và thoả mãn ở mức độ nào. Khi đã xác định được nhu cầu tạo động

cơ, cần quan tâm xem loại lợi ích nào được người lao động coi trọng hơn từ

đó có trình tự tác động làm thoả mãn lợi ích một cách phù hợp nhất. Tuy

nhiên, cần lưu ý một vấn đề đó là nếu nhu cầu nào đó được thoả mãn hồn

tồn sẽ làm mất tác dụng tạo động lực và động lực sẽ tập trung vào nhu cầu

khác.



9



1.2 Các học thuyết liên quan đến tạo động lực làm việc cho người người

lao động

1.2.1 Học thuyết phân cấp nhu cầu của A.Maslow

Thuyết phân cấp nhu cầu của Maslow cho rằng con người được thúc đẩy bởi

nhiều nhu cầu khác nhau và những nhu cầu này được phân cấp theo thứ tự.

Maslow đã chia nhu cầu thành 5 cấp bậc theo một trật tự xác định: Nhu cầu

sinh lý, Nhu cầu an toàn, Nhu cầu quan hệ xã hội, Nhu cầu được tôn trọng,

Nhu cầu tự hồn thiện.



Hình 1. 1 Tháp phân cấp nhu cầu của Maslow





Những nhu cầu sinh lý (nhu cầu cơ bản) : là những



nhu cầu đảm bảo cho con người tồn tại như : ăn, uống, mặc, tồn tại và phát

triển nòi giống và các nhu cầu của cơ thể khác.





Những nhu cầu an tồn: là các nhu cầu như: ăn ở,



sinh sống an tồn, khơng bị đe dọa, an ninh, chuẩn mực, luật lệ…



10







Những nhu cầu xã hội: là các nhu cầu về tình yêu,



được chấp nhận, quan hệ với người khác để được chăm sóc và hợp tác hay nói

cách khác là nhu cầu quan hệ bạn bè, giao tiếp xã hội…





Những nhu cầu được tơn trọng: là các nhu cầu về tự



trọng, tôn trọng người khác, được người khác tơn trọng, địa vị…





Những nhu cầu tự hoàn thiện: là các nhu cầu được



trưởng thành và phát triển, được biến các năng lực của mình thành hiện thực,

nhu cầu hướng tới chân, thiện, mỹ, tự chủ, sáng tạo, hài hước…

Maslow đã chia các nhu cầu thành hai cấp: cấp cao và cấp thấp. Nhu cầu cấp

thấp là các nhu cầu sinh lý và an toàn. Nhu cầu cấp cao bao gồm các nhu cầu

xã hội, tự trọng, và tự hoàn thiện. Sự khác biệt giữa hai loại này là các nhu

cầu cấp thấp được thỏa mãn chủ yếu từ bên ngồi trong khi đó các nhu cầu

cấp cao được thỏa mãn chủ yếu tự nội tại của con người.

Maslow cho rằng làm thỏa mãn các nhu cầu ở cấp thấp là dễ làm hơn so với

việc làm thỏa mãn những nhu cầu ở cấp cao vì nhu cầu cấp thấp là có giới hạn

và có thể được thỏa mãn từ bên ngồi. Ơng còn cho rằng đầu tiên các nhu cầu

ở cấp thấp hoạt động, nó đòi hỏi được thỏa mãn và như vậy nó là động lực

thúc đẩy con người – nó là nhân tố động cơ. Khi các nhu cầu này được thỏa

mãn thì nó khơng còn là động cơ nữa, lúc đó các nhu cầu ở cấp cao hơn sẽ

xuất hiện.

Thuyết cấp bậc nhu cầu của Maslow đã có một ẩn ý, đó là muốn tìm hiểu mức

độ tạo động lực cho người lao động thì điều quan trọng là phải hiểu người lao

động đang ở cấp độ nhu cầu nào, từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp cho việc

mang lại sự thoả mãn các nhu cầu cho người lao động, tạo động lực lao động

đồng thời đáp ứng mục tiêu của cơng ty.

Theo Maslow thì những nhu cầu căn bản nhất phải được thỏa mãn trước

những nhu cầu ở cấp bậc cao hơn và được thực hiện theo trật tự sau: nhu cầu



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Những khái niệm cơ bản về tạo động lực làm việc cho người người lao động

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×