Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
5 Đánh giá thực trạng công tác tính giá thành tại Nhà máy nước khoáng Thạch Bích

5 Đánh giá thực trạng công tác tính giá thành tại Nhà máy nước khoáng Thạch Bích

Tải bản đầy đủ - 0trang

- 61 -



khơng chính xác vì trên thực tế thì để hồn thành phần sản phẩm dở dang còn lại

phải tốn thêm một khoản chi phí để hồn thành thành phẩm, đó là chi phí nhân cơng

(vì tất cả chi phí bao bì, cơng cụ dụng cụ cho mỗi sản phẩm đã được tính cho mỗi lít

sản phẩm) và các sản phẩm dở dang chưa hồn thành nhập kho thì cũng khơng thể

xem là thành phẩm vì lúc này chưa thể xuất bán ra thị trường được. Đây cũng chính

là nhược điểm khiến cho việc kiểm sốt chi phí kém hiệu quả, các quyết định trong

việc thực hiện quản trị chi phí khơng được thực hiện tốt, chính sách định giá bán

của đơn vị cũng bị ảnh hưởng. Trên thực tế, bộ phận sản xuất của Nhà máy vào cuối

kỳ đều có thực hiện kiểm kê sản phẩm dở dang nhưng kế tốn đơn vị lại khơng

đánh giá sản phẩm dở dang khi tính giá thành, vì phần lớn sản phẩm đã được hồn

thành đến 90%, bên cạnh đó đơn vị tính giá thành sản phẩm của đơn vị là lít nhưng

sản phẩm dở dang là chai và lon nên để đáp ứng yêu cầu về tính kịp thời của thông

tin giá thành sản phẩm cho nhà quản lý kế toán của đơn vị đã bỏ qua giá trị sản

phẩm dở dang.

2.5.2 Phương pháp tính giá thành

+ Đơn vị của đối tượng tính giá:

Cách tính giá của Nhà máy khó có thể thấy được ưu thế của cùng một sản

phẩm nhưng có bao bì khác nhau, chẳng hạn như khơng thấy được giá thành rõ ràng

của sản phẩm nước tăng lực Lion đóng lon hay nước tăng lực Lion đóng chai, mặc

dù cùng một sản phẩm nhưng giá cả bán trên thị trường là khác nhau. Đơn vị tính

giá thành sản phẩm của đơn vị là lít, nhưng thực tế thì sản phẩm hồn thành nhập

kho và tiêu thụ thì đơn vị là két (24 chai, lon), đồng thời đối với chi phí bao bì là

chai và lon có giá th ngồi gia cơng khác nhau, hay giá thành của các loại bao bì

là khác nhau nên đơn vị tính của sản phẩm được tính giá là khơng chính xác. Điều

này sẽ ảnh hưởng đến việc định giá bán của đơn vị thiếu chính xác đối với mỗi loại

sản phẩm.

+ Phương pháp tính giá nước khống ngun liệu:

Đối với nước khống ngun liệu thì Nhà máy nên xem đây cũng là một sản

phẩm của một quá trình sản xuất (khai thác), giá thành của nước khoáng nguyên



- 62 -



liệu cũng nên được tính tất cả các chi phí cấu thành nên sản phẩm là chi phí nguyên

vật liệu trực tiếp, chi phí nhân cơng trực tiếp và chi phí sản xuất chung. Vì khi khai

thác nước khống ngun liệu thì Nhà máy hằng tháng phải trả tiền thuế tài nguyên

và phí tài nguyên theo khối lượng nước khai thác được (m3), thì đây chính là chi

phí ngun vật liệu trực tiếp của sản phẩm.

Khi đưa nước khoáng nguyên liệu về Nhà máy và sử dụng để sản xuất ra các

sản phẩm khác nhau thì giá thành của nước khống ngun chính là một phần của

chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cho sản phẩm khác. Cuối kỳ thuế và phí tài nguyên

kế toán tổng hợp và phân bổ cho các sản phẩm có sử dụng nước khống ngun

liệu, việc này sẽ ảnh hưởng đến việc kiểm sốt chi phí của đơn vị, khi giá của nước

khoáng nguyên liệu thay đổi cũng sẽ ảnh hưởng đến việc ra quyết định của quản trị

doanh nghiệp đối với việc đầu tư sản xuất sản phẩm này.

+ Phương pháp tính giá thành sản phẩm:

Với phương pháp tính giá hiện nay của Nhà máy thì việc xác định giá bán ra

các sản phẩm của Nhà máy là chưa chính xác vì kế tốn Nhà máy không thực hiện

phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang nên tổng chi phí xác định giá thành sản

phẩm khơng chính xác. Bên cạnh đó, để tập được các chi phí sản xuất trong kỳ để

tiến hành phân bổ cho mỗi loại sản phẩm, từ đó mới tiến hành tính giá thành sản

phẩm thì việc cung cấp thơng tin cho quản lý là không kịp thời để nhà quản lý có

thể đưa ra những quyết định trong ngắn hạn một cách linh hoạt.

Phương pháp tính giá hiện nay của Nhà máy chưa thể đáp ứng thông tin kịp

thời cho nhà quản lý trong việc ra quyết định nhưng sản phẩm nước giải khát lại là

sản phẩm được sản xuất hàng loạt nên phương pháp tính giá phải đảm bảo tính linh

hoạt và mềm dẻo. Bởi lẽ, trong điều kiện cạnh tranh gây gắt của các sản phẩm nước

giải khát như hiện nay, việc hạ giá bán đến mức tối thiểu khơng thể thực hiện được

với phương pháp tính giá như hiện nay Nhà máy đang thực hiện. Đồng thời với

phương pháp tính giá này nhà quản trị sẽ có khuynh hướng bỏ qua mối quan hệ chi

phí- sản lượng và lợi nhuận để có quyết định hợp lý cho sản xuất kinh doanh .Điều



- 63 -



này khiến cho nhà quản trị khơng có quyết định linh hoạt trong việc đưa ra chiến

lược cạnh tranh với đối thủ trên thị trường vì chúng ta cũng biết rằng để sản phẩm

có chỗ đứng trong lòng người tiêu dùng nhất là mặt hàng nước giải khát thì đơn vị

khơng những phải nâng cao chất lượng sản phẩm mà phải quảng bá nhiều hơn với

nhiều hình thức để người tiêu dùng biết đến sản phẩm của mình nhiều hơn.

Với những tồn tại nêu trên đòi hỏi đơn vị phải thay đổi phương pháp tính giá

mới vừa có thể đáp ứng thơng tin cho nhà quản trị để đưa ra những quyết định ngắn

hạn như phương pháp tính giá trực tiếp hay phương pháp tính giá mới như phương

pháp ABC nhằm mục đích phân bổ chi phí sản xuất chung một cách chính xác hơn

để tính giá thành chính xác, đồng thời kiểm sốt chi phí tốt hơn.



KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Nội dung chủ yếu của chương này giới thiệu tổng quan về tình hình hoạt

động kinh doanh, về cơ cấu tổ chức quản lý, tổ chức kế tốn của Nhà máy, thực

trạng về tình hình tính giá thành sản phẩm tại nhà máy, qua đó tập trung phân tích

những điểm yếu trong cơng tác tính giá thành hiện nay của Nhà máy. Từ đó đưa ra

một số biện pháp nhằm khắc phục những nhược điểm trong cơng tác tính giá thành

của Nhà máy và đưa ra một số kiến nghị đối với lãnh đạo của Nhà máy để thực hiện

theo giải pháp hồn thiện cơng tác tính giá thành sản phẩm.



- 64 -



CHƯƠNG 3: HỒN THIỆN CƠNG TÁC TÍNH GIÁ TẠI NHÀ

MÁY NƯỚC KHỐNG THẠCH BÍCH

3.1 Một số giải pháp hồn thiện cơng tác tính giá thành sản phẩm

Với sự đa dạng về sản phẩm nước giải khát của nhà máy nước khống Thạch

Bích, cộng với đặc điểm của sản phẩm nước giải khát trên thị trường hiện nay thì

những chi phí tạo nên sản phẩm khơng những gồm có các chi phí phát sinh trong

q trình sản xuất mà còn rất nhiều chi phí liên quan khác phát sinh trong quá trình

bán hàng của sản phẩm như chi phí quảng cáo, tiếp thị,.., bên cạnh đó các chi phí

phát sinh trong q trình sản xuất chủ yếu phát sinh tại phân xưởng sản xuất. Do đó,

để đáp ứng được yêu cầu của quản trị thì đơn vị cần phải tính giá theo phương pháp

trực tiếp từ phương pháp tính giá này làm cơ sở để phân tích mối quan hệ chi phísản lượng và lợi nhuận để có quyết định hợp lý cho kinh doanh từ đó hồn thiện

Báo cáo lãi / lỗ của nhà máy, đồng thời với phương pháp tính giá này còn phục vụ

cho cơng tác định giá bán sản phẩm linh hoạt và mềm dẻo trong ngắn hạn, phương

pháp tính giá dựa trên cơ sở hoạt động để Nhà máy ra quyết định lựa chọn sản phẩm

chủ lực.

3.1.1 Đánh giá sản phẩm dở dang

Thực tế hiện nay trong quá trình sản xuất của nhà máy thì có sản phẩm dở

dang, nhưng kế tốn của đơn vị khi tiến hành tính giá sản phẩm đã không đánh giá

sản phẩm dở dang mà đưa tất cả chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất vào tính

giá thành. Điều này làm cho giá thành của các sản phẩm không được đánh giá một

cách chính xác, làm cho cơng tác định giá bán của nhà quản lý cũng ảnh hưởng

khơng nhỏ. Vì vậy, để tính giá thành sản phẩm chính xác giúp cho công tác hiệu quả

cần phải thực hiện đánh giá sản phẩm dở dang. Hiện nay, sản phẩm dở dang của Nhà

máy chủ yếu là nước giải khát đã được đóng chai và lon nhưng chưa đưa dán nhãn

và in hạn sử dụng và đưa chai và lon vào khay và két để kiểm tra chất lượng và nhập

kho nên hiện nay nhà máy tính giá thành cho đơn vị sản phẩm là lit chứ không phải



- 65 -



là chai, két hay thùng. Vì vậy, chúng ta dùng phương pháp ước tính sản phẩm hồn

thành tương đương.

Theo thực tế nghiên cứu tại Nhà máy thì phần lớn sản phẩm sản xuất trong

kỳ đã được hồn thành, sản phẩm dở dang thơng thường chỉ còn in hạn sử dụng và

vào khay hoặc két nên theo đánh giá của kế toán nhà máy thì sản phẩm dở dang đã

hồn thành đến 90% và mỗi kỳ thì sản lượng sản phẩm dở dang khơng cao chỉ

chiếm tỷ lệ khoảng 5%, vì vậy kế tốn Nhà máy đã không thực hiện đánh giá sản

phẩm dở dang khi tính giá thành sản phẩm, nhưng bộ phận sản xuất vào cuối kỳ vẫn

thực hiện kiểm kê sản phẩm dở dang.

CÔNG TY CP ĐƯỜNG QUẢNG NGÃI

NHÀ MÁY NƯỚC KHỐNG THẠCH BÍCH



BIÊN BẢN KIỂM KÊ SẢN PHẨM DỞ DANG THÁNG 6/ 2010

Ngày 30 tháng 6 năm 2010

Số: 92

* Dây chuyền sản xuất sản phẩm lon

TT

TÊN SẢN PHẨM

ĐƠN VỊ

1 Trà Bí Đao

Lon

2 Me

Lon

3 Cam ép

Lon



* Dây chuyền sản xuất sản phẩm chai thuỷ tinh



SỐ LƯỢNG

268.393

18.535

8.819



GHI CHÚ



TT

TÊN SẢN PHẨM

ĐƠN VỊ

1 Thạch Bích ga

Chai

2 Nước tăng lực

Chai

3 Tasty cam

Chai



* Dây chuyền sản xuất sản phẩm chai pet

TT

TÊN SẢN PHẨM

ĐƠN VỊ

1 Thạch Bích

Chai

2 Lion

Chai





SỐ LƯỢNG

626.668

46.202

5.417



GHI CHÚ



SỐ LƯỢNG

173.283

12.952



GHI CHÚ



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

5 Đánh giá thực trạng công tác tính giá thành tại Nhà máy nước khoáng Thạch Bích

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×