Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM

Tải bản đầy đủ - 0trang

-6-



- Tính giá thành sản phẩm, dịch vụ giúp cho các nhà quản trị làm tốt các công

tác hoạch định và kiểm sốt chi phí ở từng nơi phát sinh chi phí (từng phòng ban,

từng phân xưởng, từng hoạt động,...).

- Tính giá thành còn giúp cho các nhà quản trị trong các nỗ lực nhằm giảm thấp

chi phí sản phẩm, có giải pháp cải tiến sản phẩm, nâng cao tính cạnh tranh của sản

phẩm trên thị trường.

- Tính giá thành sản phẩm còn là cơ sở để các nhà quản trị xây dựng một

chính sách giá bán hợp lý, có tính cạnh tranh và là cơ sở cho nhiều quyết định tác

nghiệp khác.

Với tầm quan trọng đó, việc xây dựng và vận dụng hệ thống tính giá thành

phù hợp là rất cần thiết trong tổ chức cơng tác kế tốn quản trị ở doanh nghiệp. Việc

xây dựng hệ thống tính giá thành cần quan tâm đến một số khía cạnh sau:

- Cân nhắc giữa chi phí và lợi ích của vấn đề tính giá thành. Một hệ thống

tính giá thành rất chi tiết và cụ thể có thể cung cấp nhiều thông tin cho nhà quản trị,

nhưng lại mất nhiều thời gian và tiền bạc, nhất là chi phí về đào tạo. Do vậy, hệ

thống tính giá thành phức tạp chỉ vận dụng khi các nhà quản trị tin tưởng rằng hoạt

động chung của toàn doanh nghiệp được cải thiện nhiều trên cơ sở thông tin được

cung cấp của hệ thống tính giá thành.

- Hệ thống tính giá thành cần phải được thiết kế phù hợp với hoạt động sản

xuất kinh doanh hiện tại. Nó phụ thuộc vào bản chất của ngành sản xuất, quy mơ

cơng nghệ, tính đa dạng của sản phẩm, dịch vụ và yêu cầu về thông tin cho công tác

quản trị.



1.3 Đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành

Chi phí là một nguồn lực mất đi để đạt được một mục tiêu nhất định. Chi phí

phát sinh ln gắn liền với một không gian cụ thể ở tại một thời điểm cụ thể. Tài

nguyên ở bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng khan hiếm nên các nhà quản trị luôn

đặt ra câu hỏi chi phí phát sinh ở đâu với quy mơ như thế nào và ảnh hưởng đến các



-7-



hoạt động khác như thế nào. Vì vậy, xác định đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng

tính giá thành là một đặc tính quan trọng trong kế tốn quản trị.

1.3.1 Đối tượng tập hợp chi phí

Đối tượng tập hợp chi phí là phạm vi được xác định trước để tập hợp chi phí.

Xác định đối tượng tập hợp chi phí thực chất là xác định giới hạn các bộ phận chịu

chi phí hoặc các đối tượng chịu chi phí làm cơ sở cho việc tính giá thành. Khái niệm

này khơng chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp thuộc các ngành kinh doanh khác.

Trên một góc độ chung, có hai biểu hiện về đối tượng tập hợp chi phí, đó là: Các

trung tâm chi phí và sản phẩm hoặc nhóm sản phẩm cùng loại.

- Các trung tâm chi phí là những bộ phận trong doanh nghiệp mà nhà quản trị

ở bộ phận đó chịu trách nhiệm về những biến động chi phí phát sinh trong kỳ. Trong

doanh nghiệp sản xuất, trung tâm chi phí có thể là từng phân xưởng, từng đội sản

xuất, đơn vị sản xuất....Mỗi phân xưởng có thể là một giai đoạn cơng nghệ trong

quy trình sản xuất ở doanh nghiệp, hoặc có thể hồn thành cơng việc có tính độc lập

nào đó.

- Sản phẩm hoặc nhóm sản phẩm cùng loại, một cơng việc ví dụ như đơn đặt

hàng hay một hoạt động, một chương trình nào đó,...Đối tượng tập hợp chi phí trong

trường hợp này thường khơng quan tâm đến bộ phận phát sinh chi phí mà quan tâm

chi phí phát sinh cho cơng việc gì, ở hoạt động nào. Khi đó, người quản trị có thể so

sánh, đánh giá chi phí giữa các sản phẩm, các hoạt động với nhau.

1.3.2 Đối tượng tính giá thành

Đối tượng tính giá thành là kết quả của quá trình sản xuất hoặc q trình

cung cấp dịch vụ cần được tính giá thành để đáp ứng yêu cầu quản lý. Xác định đối

tượng tính giá thành thường gắn với yêu cầu của nhà quản lý về kiểm sốt chi phí,

định giá bán cho sản phẩm và xác định kết quả kinh doanh về một đối tượng nào

hay hoạt động nào đó.

Trong doanh nghiệp sản xuất thì đối tượng tính giá thành có thể là sản phẩm,

bán sản phẩm, cơng việc hồn thành qua q trình sản xuất. Đối tượng tập hợp chi



-8-



phí và đối tượng tính giá thành có mối quan hệ với nhau trong hệ thống tính giá

thành ở đơn vị. Nếu đối tượng tập hợp chi phí cần xác định là bước đầu tiên cho q

trình tập hợp chi phí thì đối tượng tính giá thành gắn liền với việc thực hiện tính giá

thành. Trong một số trường hợp, đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá

trùng nhau.



1.4 Khái niệm chi phí và các tiêu thức phân loại chi phí

1.4.1 Khái niệm

Chi phí được định nghĩa là giá trị tiền tệ của các khoản hao phí bỏ ra nhằm

tạo ra các loại tài sản, hàng hoá hoặc các dịch vụ. Trong kế tốn quản trị chi phí

được phân loại và sử dụng theo nhiều tiêu thức khác nhau nhằm cung cấp những

thông tin cần thiết và phù hợp cho quản lý doanh nghiệp.

1.4.2 Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo mối quan hệ của chi phí

với các khoản mục trên báo cáo tài chính

Theo cách phân loại này chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được

chi thành chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ.

1.4.2.1 Chi phí sản phẩm

Là chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất sản phẩm, các chi phí này

kết hợp tạo nên giá trị của sản phẩm hình thành qua các giai đoạn sản xuất sản phẩm

(được gọi là giá thành sản xuất hay giá thành cơng xưởng). Tuỳ thuộc vào phương

pháp tính giá thành được áp dụng mà chi phí sản phẩm có khác nhau. Với phương

pháp tính giá tồn bộ, chi phí sản phẩm bao gồm các khoản mục: Chi phí nguyên

vật liệu trực tiếp, chi phí nhân cơng trực tiếp và chi phí sản xuất chung. Đây là

những chi phí cấu thành nên giá thành sản xuất của sản phẩm.

Nếu sản phẩm, hàng hố chưa được bán ra thì chi phí sản phẩm sẽ nằm trong

giá thành (trị giá vốn) của hàng tồn kho trên Bảng cân đối kế toán. Nếu sản phẩm,

hàng hố được bán ra thì chi phí sản phẩm sẽ trở thành chi phí giá vốn hàng bán

trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.



-9-



1.4.2.2 Chi phí thời kỳ

Chi phí thời kỳ gồm các khoản mục chi phí còn lại sau khi đã xác định các

khoản mục chi phí thuộc chi phí sản xuất sản phẩm. Nó thường bao gồm chi phí bán

hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp và chi phí tài chính. Chi phí thời kỳ là các chi

phí để hoạt động kinh doanh trong kỳ, những chi phí này gắn liền với doanh thu bán

hàng trong kỳ kế tốn. Nó khơng tạo nên giá trị của hàng tồn kho mà nó ảnh hưởng

trực tiếp đến lợi nhuận của kỳ mà nó phát sinh. Đây cũng là chi phí cấu thành nên

giá thành tồn bộ của sản phẩm tiêu thụ.

Như vậy, chi phí của thời kỳ của kỳ nào thì kết chuyển hết cho kỳ đó và ảnh

hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của kỳ mà chúng phát sinh (xem sơ đồ 1.1)

Sơ đồ 1.1: Mơ hình vận động của chi phí trong doanh nghiệp sản xuất



Chi phí ngun vật

liệu trực tiếp

Chi

phí

sản

phẩm



Chi phí nhân cơng

trực tiếp



Chi phí sản xuất

chung



Chi phí thời kỳ



Chi phí

sản xuất

dở dang



Doanh thu thuần của

hàng bán



Nhập kho

Thành

phẩm



Giá vốn

hàng bán



Lãi gộp



Chi phí bán hàng và

quản lý doanh nghiệp



Lãi thuần



- 10 -



1.4.3 Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí

1.4.3.1 Chi phí khả biến (Biến phí)

Chi phí khả biến là các chi phí thay đổi về tổng số tỷ lệ thuận với sự thay đổi

của mức độ hoạt động, tức là tổng số chi phí khả biến sẽ tăng hoặc giảm tương ứng

với sự tăng hoặc giảm của mức độ hoạt động, nhưng chi phí khả biến tính theo đơn

vị của mức độ hoạt động thì khơng thay đổi. Chi phí khả biến chỉ phát sinh khi có

các hoạt động xảy ra.

Trong đơn vị sản xuất thì chi phí khả biến thường là các chi phí nằm trong

khoản mục chi phí nguyên liệu, chi phí nhân cơng trực tiếp. Ngồi ra còn một số chi

phí khác thuộc khoản mục chi phí sản xuất chung như chi phí vật liệu.

Về phương diện lý thuyết, sự biến động của chi phí trong mối quan hệ với

khối lượng hoạt động có thể xảy ra ba trường hợp, tương ứng sẽ có ba loại biến phí

sau:

+ Tổng biến phí tỷ lệ thuận trực tiếp với khối lượng hoạt động thực hiện, còn

biến phí trung bình của một đơn vị khối lượng hoạt động thì khơng thay đổi. Biến

phí trong trường hợp này gọi là biến phí tỷ lệ. Thuộc loại này có chi phí ngun vật

liệu trực tiếp, chi phí nhân cơng trực tiếp, chi phí khấu hao tài sản cố định theo sản

lượng.

+ Tổng biến phí tăng nhanh hơn khối lượng hoạt động thực hiện, vì vậy biến

phí trung bình một đơn vị khối lượng hoạt động cũng tăng lên. Trường hợp này có

thể được lý giải là khi cường độ lao động vượt quá giới hạn bình thường, hiệu lực

của các yếu tố sản xuất sẽ giảm sút; hoặc có sự gia tăng khối lượng sản xuất, đòi hỏi

phải tăng nhiều hơn các CPSX.

+ Tổng biến phí tăng chậm hơn khối lượng hoạt động và biến phí trung bình

cho 1 đơn vị khối lượng hoạt động giảm xuống. Hiện tượng này xảy ra khi khối

lượng hoạt động gia tăng tạo nên các điều kiện để sử dụng có hiệu quả hơn các yếu

tố của quá trình sản xuất.



- 11 -



.4.3.2 Chi phí bất biến (Định phí)

Chi phí bất biến là những chi phí, xét về lý thuyết, khơng có sự thay đổi theo

các mức độ hoạt động đạt được. Vì tổng chi phí bất biến là không thay đổi cho nên

khi mức độ hoạt động tăng thì chi phí bất biến tính theo đơn vị các mức độ hoạt

động sẽ giảm và ngược lại.

Trong doanh nghiệp sản xuất, các loại chi phí bất biến thường gặp là chi phí

khấu hao tài sản cố định, chi phí tiền lương nhân viên quản lý, chi phí quảng

cáo,..Có 4 loại định phí sau:

+ Định phí tuyệt đối: Là các chi phí mà tổng số khơng thay đổi khi có sự thay

đổi khối lượng hoạt động, còn định phí trung bình thì giảm đi.

+ Định phí tương đối: Trong trường hợp khả năng của các yếu tố sản xuất

tiềm năng đã khai thác tối đa, muốn tăng được khối lượng hoạt động cần bổ sung

đầu tư các khả năng sản xuất tiềm tàng mới. Trong trường hợp này, khối lượng sản

xuất sản phẩm không phải nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến độ lớn của định phí mà

quy mơ sản xuất cần thiết phải thay đổi khả năng, trữ lượng và năng lực sản xuất.

+ Định phí bắt buộc: Là định phí khơng thể thay đổi được một cách nhanh

chóng vì chúng thường xun liên quan đến tài sản cố định và cấu trúc tổ chức của

một doanh nghiệp. Định phí bắt buộc có bản chất sử dụng lâu dài, nên khi quyết

định đầu tư vào tài sản cố định, các nhà quản trị cần cân nhắc kỹ lưỡng vì khi đã

quyết định thì doanh nghiệp buộc phải gắn chặt với quyết định đó trong một thời

gian dài. Mặt khác định phí bắt buộc khơng thể tuỳ tiện cắt giảm, dù chỉ một thời

gian ngắn vì nó sẽ ảnh hưởng đến q trình sinh lợi và mục đích lâu dài của doanh

nghiệp.

+ Định phí tuỳ ý (định phí khơng bắt buộc): Là các định phí có thể được thay

đổi nhanh chóng bằng các quyết định của nhà quản trị doanh nghiệp, ví dụ như chi

phí quảng cáo,..Các nhà quản trị quyết định mức độ và số lượng định phí này trong

các quyết định của mình.



- 12 -



1.4.3.3 Chi phí hỗn hợp

Chi phí hỗn hợp là những chi phí mà cấu thành nên nó bao gồm cả yếu tố chi

phí khả biến và chi phí bất biến. Ở một mức độ hoạt động cụ thể nào đó, chi phí hỗn

hợp mang đặc điểm của chi phí bất biến và khi hoạt động tăng lên chi phí hỗn hợp

sẽ biến đổi như đặc điểm của chi phí khả biến, phần bất biến trong chi phí hỗn hợp

thường là bộ phận chi phí cơ bản để duy trì các hoạt động ở mức độ tối thiểu, còn

phần khả biến là bộ phận chi phí sẽ phát sinh tỷ lệ với mức độ hoạt động tăng thêm.

Trong các doanh nghiệp sản xuất, chi phí hỗn hợp cũng chiếm tỷ lệ khá cao

trong các loại chi phí, chẳng hạn như chi phí điện thoại, chi phí bảo trì máy móc

thiết bị,... Nhằm phục vụ cho việc lập kế hoạch kiểm soát và chủ động điều tiết chi

phí, các nhà quản trị doanh nghiệp cần phải phân tích chi phí hỗn hợp thành định phí

và biến phí. Các phương pháp dùng để phân tích chi phí hỗn hợp là phương pháp

cực đại, cực tiểu và phương pháp bình phương bé nhất.

Đây là cách phân loại đặc biệt quan trọng trong việc phục vụ cho các nhà

quản trị doanh nghiệp hoạch định, kiểm tra và ra quyết định. Cách phân loại này

quan tâm tới cách ứng xử của chi phí mà dựa vào đó để nghiên cứu mối quan hệ

giữa chi phí – khối lượng và lợi nhuận. Điều này có ý nghĩa trong việc khai thác khả

năng tiềm tàng của doanh nghiệp, là cơ sở để ra quyết định ngắn hạn nhằm tối đa

hoá lợi nhuận. Việc phân biệt định phí và biến phí giúp cho nhà quản trị xác định

đúng phương hướng để nâng cao hiệu quả:

+ Đối với biến phí: Phương hướng chính là tiết kiệm tổng biến phí và biến

phí đơn vị.

+ Đối với định phí: Cần phấn đấu để nâng cao hiệu lực của định phí trong sản

xuất kinh doanh.

1.4.4 Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế

Đặc điểm của cách phân loại này là căn cứ vào tính chất, nội dung kinh tế và

hình thái nguyên thuỷ ban đầu của chi phí để tập hợp sắp xếp những chi phí có cùng



- 13 -



tính chất, nội dung vào một yếu tố chi phí mà khơng phân biệt chi phí đó phát sinh

ở nơi đâu và nơi nào chịu chi phí.

Theo cách phân loại này tồn bộ chi phí của doanh nghiệp được chia thành

năm yếu tố:

- Chi phí vật liệu: Đó là tồn bộ chi phí về vật liệu chính (kể cả nửa thành

phẩm) mua ngồi; chi phí vật liệu mua ngồi; phụ tùng thay thế mua ngồi; cơng cụ

dụng cụ mua ngồi xuất dùng cho sản xuất chế tạo sản phẩm trong doanh nghiệp.

- Chi phí nhân cơng: Bao gồm chi phí về tiền lương phải trả cho công nhân

sản xuất, nhân viên phân xưởng, các khoản trích theo lương.

- Chi phí khấu hao tài sản cố định: Đó là chi phí khấu hao tài sản cố định

trong lĩnh vực sản xuất như máy móc thiết bị sản xuất, các tài sản cố định khác

dùng chung ở phân xưởng, bộ phận khác của toàn doanh nghiệp.

- Chi phí dịch vụ mua ngồi: Đó là những chi phí trả cho các đơn vị bên

ngồi về lao vụ, dịch vụ mà đơn vị này cung cấp cho doanh nghiệp phục vụ cho sản

xuất.

- Chi phí khác bằng tiền: Là các chi phí ngồi các khoản chi phí đã ghi ở các

yếu tố trên.

+ Tác dụng: Phân loại chi phí sản xuất theo tính chất kinh tế có tác dụng cho

biết những chi phí nào đã dùng vào quá trình sản xuất sản phẩm và tỷ trọng của

từng loại đó chiếm tỷ lệ bao nhiêu trong tổng số chi phí sản xuất. Điều này có ý

nghĩa vơ cùng quan trọng trong việc xây dựng định mức vốn lưu động, nhu cầu vốn

lưu động của doanh nghiệp trong việc lập các dự tốn chi phí sản xuất và kiểm tra

các dự tốn đó trong q trình sản xuất. Phân loại chi phí theo tính chất kinh tế còn

là tài liệu quan trọng dùng làm căn cứ để xác định định mức tiêu hao vật chất và

tính thu nhập quốc dân theo từng ngành. Ngồi ra còn làm căn cứ để lập báo cáo chi

phí sản xuất theo yếu tố.



- 14 -



1.4.5 Phân loại chi phí sản xuất theo công dụng kinh tế

Đặc điểm của cách phân loại này là căn cứ vào cơng dụng kinh tế của chi

phí, mục đích sử dụng của chi phí, nơi phát sinh chi phí và nơi chịu chi phí để sắp

xếp những chi phí có cùng cơng dụng vào một khoản mục. Theo chế độ kế tốn tài

chính hiện hành thì tồn bộ chi phí sản xuất chế tạo sản phẩm được chia thành ba

khoản mục sau:

- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Đó là tồn bộ chi phí về ngun vật liệu

chính (kể cả nửa thành phẩm), vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế xuất dùng

trực tiếp để sản xuất sản phẩm.

- Chi phí nhân cơng trực tiếp: Đó là các chi phí về tiền lương, tiền cơng phải

trả, các khoản bảo hiểm xã hội, kinh phí cơng đồn, bảo hiểm y tế trích theo lương,

tiền cơng của cơng nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm.

- Chi phí sản xuất chung: Đó là các chi phí liên quan đến việc tổ chức sản

xuất và quản lý sản xuất trong phạm vi một phân xưởng (đội, bộ phận). Chi phí sản

xuất chung hiện nay bao gồm các nội dung:

+ Chi phí nhân viên: Phản ánh các chi phí trả cho các nhân viên phân xưởng

về tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp, trích BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN

như quản đốc, thủ kho, nhân viên kế tốn phân xưởng, cơng nhân vận chuyển, sửa

chữa tại phân xưởng.

+ Chi phí vật liệu: Phản ánh chi phí vật liệu sử dụng chung như vật liệu để

sửa chữa, bảo quản TSCĐ, vật liệu sử dụng ở phân xưởng.

+ Chi phí dụng cụ sản xuất: Phản ánh chi phí cơng cụ dụng cụ dùng chung ở

phân xưởng: như khuôn mẫu, dụng cụ cầm tay, bảo hộ lao động,..

+ Chi phí khấu hao tài sản cố định: Phản ánh tồn bộ số tiền trích khấu hao

TSCĐ hữu hình, vơ hình, th tài chính sử dụng ở phân xưởng như khấu hao máy

móc thiết bị sản xuất tại phân xưởng, phương tiện vận tải, truyền dẫn, nhà

xưởng,..nhà làm việc tại phân xưởng.



- 15 -



+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: Phản ánh những lao vụ, dịch vụ mua ngồi

như: điện, nước, chi phí sửa chữa TSCĐ,…

+ Chi phí khác bằng tiền: Phản ánh những chi phí bằng tiền ngồi những chi

phí nêu ở trên.

Phân loại chi phí theo cơng dụng kinh tế có tác dụng phục vụ cho yêu cầu

quản lý chi phí sản xuất theo định mức; cung cấp số liệu cho cơng tác tính giá thành

sản phẩm, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm dịch vụ; làm

tài liệu tham khảo để lập định mức chi phí sản xuất và lập kế hoạch giá thành sản

phẩm kỳ sau.

1.4.6 Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động

Chi phí phát sinh trong các doanh nghiệp sản xuất, xét theo từng hoạt động

có chức năng khác nhau trong q trình sản xuất kinh doanh mà chúng phục vụ,

được chia thành hai loại lớn: Chi phí sản xuất và chi phí ngồi sản xuất.

1.4.6.1 Chi phí sản xuất

Giai đoạn sản xuất là giai đoạn chế biến nguyên vật liệu thành thành phẩm

bằng sức lao động của công nhân kết hợp với việc sử dụng máy móc thiết bị. Chi

phí sản xuất bao gồm 3 khoản mục: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân

cơng trực tiếp và chi phí sản xuất chung.

- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Khoản mục này bao gồm các loại nguyên

liệu và vật liệu xuất dùng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm. Trong đó, ngun vật

liệu chính dùng để cấu tạo nên thực thể chính của sản phẩm và các loại vật liệu phụ

khác có tác dụng kết hợp với nguyên vật liệu chính để hồn chỉnh sản phẩm về mặt

chất và lượng và hình dáng.

- Chi phí nhân cơng trực tiếp: Khoản mục này bao gồm tiền lương và những

khoản trích theo lương phải trả cho bộ phận công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm.

- Chi phí sản xuất chung: Chi phí sản xuất chung là các chi phí phục vụ và

quản lý quá trình sản xuất sản phẩm phát sinh trong phạm vi các phân xưởng.

Khoản mục chi phí này bao gồm: Chi phí vật liệu phục vụ q trình sản xuất hoặc



- 16 -



quản lý sản xuất, tiền lương và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý

phân xưởng, chi phí khấu hao, sửa chữa và bảo trì máy móc thiết bị, nhà xưởng, chi

phí dịch vụ mua ngoài phục vụ sản xuất và quản lý ở phân xưởng.

1.4.6.2 Chi phí ngồi sản xuất

Đây là các chi phí phát sinh ngồi q trình sản xuất sản phẩm hoặc phục vụ

cơng tác quản lý chung tồn doanh nghiệp. Thuộc loại chi phí này gồm có hai khoản

mục chi phí: Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.

- Chi phí bán hàng: Khoản mục chi phí này gồm các chi phí phát sinh phục

vụ cho khâu tiêu thụ sản phẩm. Có thể kể đến các chi phí như chi phí vận chuyển,

bốc dỡ thành phẩm giao cho khách hàng, chi phí bao bì, khấu hao các phương tiện

vận chuyển, tiền lương nhân viên bán hàng, chi phí tiếp thị quảng cáo,v.v..

- Chi phí quản lý doanh nghiệp: Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm tất

cả các chi phí phục vụ cho cơng tác tổ chức và quản lý q trình sản xuất kinh

doanh nói chung trên giác độ toàn doanh nghiệp. Khoản mục này bao gồm các chi

phí như: Chi phí văn phòng, tiền lương và các khoản trích theo lương của nhân viên

quản lý doanh nghiệp, khấu hao tài sản cố định phục vụ cho quản lý doanh nghiệp,

các chi phí dịch vụ mua ngồi khác,v.v..



1.5 Kế tốn tập hợp chi phí sản xuất tính giá thành

1.5.1 Kế tốn chi phí ngun vật liệu trực tiếp

Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, tài khoản 621 được mở chi tiết theo từng

đối tượng tập hợp chi phí sản xuất đã xác định.

Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp sử dụng để sản xuất sản phẩm phần lớn là

chi phí trực tiếp nên được tập hợp trực tiếp cho từng đối tượng liên quan căn cứ vào

các chứng từ xuất kho vật liệu và báo cáo sử dụng vật liệu ở từng phân xưởng (đội,

địa điểm,..) sản xuất.

- Trường hợp cần phải phân bổ gián tiếp, tiêu chuẩn phân bổ thường sử dụng là:



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×