Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP KHÁCH SẠN- NHÀ HÀNG

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP KHÁCH SẠN- NHÀ HÀNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

-4-



1.1.1.2. Phân loại chi phí

Thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh cho thấy tổng chi phí của một

doanh nghiệp bao gồm nhiều khoản chi phí như: chi phí mua nguyên vật liệu,

chi tiền lương, tiền thưởng, chi tiền điện, nước và các nhiên liệu khác, chi phí

mua các dịch vụ; từ dịch vụ vận chuyển đến vệ sinh, chi phí bán hàng, chi phí

bao bì quảng cáo, chi phí quản lý như khấu hao các thiết bị văn phòng hay chi

phí cho nhân viên văn phòng....

Các khoản chi phí hết sức đa dạng, phức tạp. Muốn sử dụng chúng có

hiệu quả chúng ta cần kiểm sốt, muốn kiểm sốt chúng ta cần nhận biết và

hiểu nội dung các chi phí, vì vậy cần phân loại chi phí.

Có nhiều tiêu chí phân loại khác nhau và một khoản mục chi phí có thể

được liệt kê vào nhiều loại chi phí khác nhau, nhưng để dễ kiểm soát chúng ta

chỉ xem những tiêu chí phân loại mà ở đó nhà quản lý dễ nhận biết và kiểm soát.

* Theo đối tượng chi phí

Xét theo đối tượng chi phí đó là chúng ta quan tâm đến các khoản chi đó

là chi phí cho cái gì, và như vậy ta có thể chia thành ba loại cơ bản: chi phí

lao động, chi phí ngun vật liệu, chi phí chung.

a.Chi phí lao động

Đó là tổng các khoản tiền liên quan đến công nhân viên. Chẳng hạn như

các khoản tiền thưởng, phụ cấp, phúc lợi xã hội...Nhưng lao động thì lại có lao

động vât hố, lao động sống, có thể biến đổi hoặc khơng biến đổi theo khối

lượng sản phẩm hàng hoá sản xuất ra, vì vậy cũng có thể phân loại chi phí.

Chi phí lao động trực tiếp.

Chi phí lao động trực tiếp bao gồm tiền lương và các khoản tính theo

lương phải trả cho công nhân viên trực tiếp sản xuất sản phẩm. Nó có thể

phân bổ cho tồn bộ một đơn vị sản phẩm cụ thể. Có thể nêu một vài ví dụ về

lao động trực tiếp như: Sơn một sản phẩm đồ gỗ, sửa chữa một chi tiết máy,

giao dịch với khách hàng...



-5-



Và chi phí cho các lao động thực hiện các cơng việc đó được coi là chi

phí lao động trực tiếp.

Chi phí lao động gián tiếp.

Bao gồm tiền lương và các khoản trích theo lương, các khoản trích khác

có liên quan đến nhân viên mà không thể phân bổ cho một đơn vị sản phẩm

cụ thể. Sau đây là một số ví dụ về lao động gián tiếp: chi phí bảo dưỡng máy

móc, chi phí điều hành hoạt động của bộ phận tiếp thị, chi phí vệ sinh nơi làm

việc... chúng ta thấy rằng không thể phân bổ các khoản chi phí lao động trên

một đơn vị sản phẩm một cách trực tiếp, mặc dù chúng rất cần thiết cho toàn

bộ hoạt động của doanh nghiệp.

Ở đây khái niệm trực tiếp và gián tiếp khơng có nghĩa là trực tiếp và gián

tiếp tham gia vào quá trình sản xuất. Mà trực tiếp và gián tiếp ở đây liên quan

đến việc tính chi phí. Do đó tiền lương của một cơng nhân có thể là chi phí

gián tiếp nếu doanh nghiệp trả lương theo tháng và anh ta tham gia vào nhiều

quá trình sản xuất ra các sản phẩm khác nhau.

Muốn cho công việc quản lý theo đúng kế hoạch, điều rất quan trọng là

xây dựng được bảng theo dõi thời gian thực hiện công việc hoặc các công cụ

theo dõi khác nhằm kiểm sốt khối lượng cơng việc của nhân viên phải được

hoàn thành một cách tỷ mỷ và chính xác nhằm phân biệt thời gian lao động

gián tiếp và thời gian lao động trực tiếp.

b.Chi phí nguyên vật liệu.

Nguyên vật liệu là một đầu vào quan trọng đối với hoạt động sản xuất

kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Vì vậy các doanh nghiệp khác nhau, lĩnh

vực hoạt động khác nhau thì mức độ quan trọng, quyết định dến giá thành

cũng khác nhau. Trong các ngành công nghiệp nặng như: sản xuất vật liệu

xây dựng, cơ khí, sắt thép... thì chi phí ngun vật liệu chiếm phần lớn tổng

giá thành của thành phẩm. Ngược lại, ở các ngành công nghiệp nhẹ như: da



-6-



giầy, chế biến thực phẩm, các ngành dịch vụ khách sạn, nhà hàng, giải trí, chi

phí nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng nhỏ, khoảng 10% giá thành. Chính vì sự

phức tạp đó chúng ta cần phải phân loại chi phí ngun vật liệu để có một

“cơng nghệ”xác định chi phí cho các doanh nghiệp khác nhau.

Chúng ta đã biết rằng chi phí lao động có thể được phân chia thành chi

phí lao động trực tiếp và chi phí lao động gián tiếp. Cũng tương tự như vậy

chi phí ngun vật liệu cũng có thể được phân chia thành:

Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.

Là các chi phí của các nguyên vật liệu được sử dụng để cấu thành nên

sản phẩm và có thể được phân bổ trực tiếp và toàn bộ vào một đơn vị sản

phẩm được sản xuất ra. Để hiểu rõ hơn ta xem xét ví dụ sau:

Một doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ nội thất, trong đó có mặt hàng cửa gỗ

phun sơn. Gần đây doanh nghiệp phải sửa sang lại nhà máy và dùng sơn làm

cửa gỗ để sơn lại cửa nhà máy. Ban đầu chỉ là phòng làm việc nhưng khi dùng

cho cả nhà máy thì chi phí sẽ đáng kể. Ta thấy rằng chỉ sơn dùng để sơn sản

phẩm cửa gỗ là sử dụng trực tiếp cho thành phẩm vì thế đó là chi phí ngun

vật liệu trực tiếp.

Chi phí ngun vật liệu gián tiếp.

Cũng từ ví dụ trên ta thấy: chi phí sơn dùng sơn lại cửa trong nhà máy là

chi phí ngun vật liệu gián tiếp vì lượng sơn này không được sử dụng trực

tiếp vào việc sản xuất cửa gỗ.

Như vậy ta có thể đi đến kết luận: chi phí nguyên vật liệu gián tiếp là chi

phí của các nguyên vật liệu mà không thể phân bổ trực tiếp và toàn bộ vào

một đơn vị sản phẩm được sản xuất ra. Tuy nhiên một nguyên vật liệu được

sử dụng cho nhiều cơng việc khác nhau, thì chúng khơng thể phân bổ tất cả

chi phí cho nguyên vật liệu này thành chi phí trực tiếp hay chi phí gián tiếp.

Chi phí tồn trữ ngun vật liệu.



-7-



Khơng phải ngun vật liệu nào mua về cũng đưa vào sản xuất ngay mà

phần lớn là nhập kho dự trữ. Vì thế chúng ta cũng phải tính đến chi phí tồn trữ

nguyên vật liệu, ví dụ: chi phí bảo quản, chi phí thuê mặt bằng, tiền lãi đi vay

để mua nguyên vật liệu...

Muốn kiểm sốt được chi phí dự trữ, nhà quản lý có thể đặt ra mức tồn

kho tối đa cho tất cả các mặt hàng dự trữ. Khi đó có thể ước tính chi phí tồn

trữ tối đa vào bất kỳ thời điểm nào. Mức tồn trữ tối đa của một sản phẩm hay

nguyên vật liệu nào đó mà bạn muốn tích trữ trong kho.

c. Chi phí chung.

Có các khoản chi phí phát sinh nhưng khơng dễ dàng phân bổ cho một

đơn vị sản phẩm, một quá trình sản xuất cụ thể. Những chi phí như vậy được

gọi là chi phí chung.

Các chi phí nguyên vật liệu gián tiếp thường là các chi phí chung, ví dụ

như: chi phí cho quần áo bảo hộ lao động và trang thiết bị vệ sinh, chi phí

điện nước, chi phí thuê mặt bằng sản xuất, tiền lương trả cho nhân viên không

trực tiếp tham gia vào quy trình sản xuất hoặc khơng trực tiếp cung cấp dịch

vụ như: nhân viên bảo vệ, thợ bảo dưỡng, thư ký và nhân viên lễ tân.

* Phân loại theo mức độ biến động chi phí

Ta thấy rằng những chi phí mà tổng của chúng thay đổi cùng với mức

sản lượng thì được gọi là chi phí biến đổi. Còn những chi phí mà tổng của

chúng khơng thay đổi cùng với mức sản lượng thì được gọi là chi phí cố định.

a.Chi phí cố định.

Từ sự phân tích trên ta thấy chi phí cố định khơng bị ảnh hưởng bởi

lượng hàng sản xuất ra. Ví dụ như chi phí thuê cửa hàng của doanh nghiệp sản

xuất bánh ngọt, nó cũng có thể thay đổi nhưng là do thoả thuận với bên cho

thuê và chịu ảnh hưởng của giá thuê mặt bằng chứ không phải bởi lượng bánh

ngọt sản xuất ra.



-8-



b. Chi phí biến đổi

Cũng xét trong doanh nghiệp sản xuất bánh ngọt ở ví dụ trên, thì những bao

bì, vỏ bọc bánh ngọt biến đổi theo lượng bánh ngọt và đó là chi phí biến đổi.

Theo ngun tắc chung, các chi phí biến đổi sẽ dễ kiểm sốt hơn so với

chi phí cố định vì định phí thường là những chi phí đã trả trước, nay được

khấu hao lại hay những chi phí đã được thoả thuận trong các hợp đồng đã ký.

Còn các khoản biến phí có thể giảm xuống nếu doanh nghiệp cố gắng kiểm

soát chúng.

1.1.1.3. Định mức chi phí

Khi kiểm sốt chi phí thì điều quan trọng là phải làm thế nào để biết

được doanh nghiệp đang quản lý những khoản chi đúng và cần phải giảm bao

nhiêu là hợp lý? Vì vậy, cần phải định mức chi phí, nhằm hướng các khoản

chi trong thực tế tới chi phí mục tiêu hay chi phí dự kiến. Cũng từ đó chúng ta

nhận biết được sự tăng giảm của chi phí và tìm hiểu ngun nhân để xử lý.

Ta có thể đi đến kết luận “ Định mức chi phí là khoản chi được định

trước bằng cách lập ra những tiêu chuẩn gắn với từng trường hợp hay từng

điều kiện làm việc cụ thể”. Định mức chi phí không những chỉ ra được một

khoản chi dự kiến là bao nhiêu mà còn xác định nên chi tiêu trong trường hợp

nào, điều kiện nào. Định mức chi phí có hai nội dung chính sau:

Định mức giá: Được xác định bằng cách cộng tổng các khoản chi lại.

Định mức lượng: là định mức kỹ thuật liên quan tới số lượng thành phần

nguyên vật liệu để sản xuất sản phẩm, số lượng và loại lao động sản xuất, làm

việc trong doanh nghiệp.

Chi phí ln biến đổi phức tạp vì thế các định mức chi phí phải được

xem xét lại thường xuyên để đảm bảo tính hợp lý của chúng.



-9-



1.1.2. Kiểm sốt chi phí trong doanh nghiệp

1.1.2.1. Khái niệm kiểm sốt chi phí

Chi phí là một nội dung quan trọng trong hoạt động tài chính của mỗi

doanh nghiệp. Kiểm sốt chi phí là một chức năng quản lý có ý thức và rất

quan trọng trong quá trình quản lý của doanh nghiệp. Đó là sự tác động của

chủ thể quản lý nhằm nhận biết, hiểu biết các nội dung chi phí nhằm sử dụng

hiệu quả nhất các khoản chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra. Để làm tốt chức

năng này nhà quản lý cần trả lời các câu hỏi: Doanh nghiệp có những khoản

mục chi phí nào?; tiêu chuẩn, định mức chi phí là bao nhiêu?; chi phí nào

chưa hợp lý? Ngun nhân vì sao?, biện pháp giải quyết?

Kiểm sốt chi phí là một phần của hệ thống KSNB được thực hiện thông

qua việc phân công, phân nhiệm cho từng cá nhân, bộ phận trong việc thực

hiện công việc để đạt được mục tiêu của đơn vị về quản trị chi phí.

Để tiến hành kiểm sốt chi phí các nhà quản lý doanh nghiệp cần phải

đưa ra các tiêu chuẩn, nội dung và mục tiêu kiểm sốt chi phí, dựa trên các

nguyên tắc thống nhất. Từ đó xây dựng hệ thống kiểm sốt chi phí trong

doanh nghiệp với những hình thức kiểm sốt thích hợp, cùng chi phí kiểm

sốt, phương tiện cơng cụ được sử dụng cho hoạt động kiểm sốt này và cuối

cùng đi tới các giải pháp điều chỉnh. Những bước cơng việc đó được cụ thể

qua sơ đồ sau [1, trang 6]:



- 10 -



Q trình kiểm

sốt chi phí

Các tiêu chuẩn

định mức



Mục tiêu kiểm

sốt chi phí



Điều chỉnh

cụ thể



Ngun tắc kiểm

sốt chi phí

Nội dung kiểm

sốt chi phí



Phương tiện,

cơng cụ



Hình thức kiểm

sốt chi phí

Chi phí cho hoạt

động kiểm sốt



Hệ thống kiểm

sốt chi phí



Sơ đồ 1.1 - Sơ đồ q trình kiểm sốt chi phí

1.1.2.2. Sự cần thiết của việc kiểm sốt chi phí

Có nhiều ngun nhân làm cho kiểm sốt chi phí trở thành chức năng tất

yếu của quản lý. Trong kinh doanh, kiểm sốt chi phí là kiểm chứng xem các

khoản chi có được thực hiện theo đúng kế hoạch hay khơng, và phải tìm ra

những ngun nhân sai sót để điều chỉnh.

Kiểm sốt chi phí là nhu cầu cơ bản nhằm hoàn thiện các quyết định

trong quản lý trong lĩnh vực tài chính. Thẩm định tính đúng sai, hiệu quả của

các khoản chi phí. Đồng thời kiểm sốt được những yếu tố ảnh hưởng đến

tính hợp lý và khi kiểm sốt chi phí được mở rộng đối tượng tham gia trong

toàn doanh nghiệp sẽ tăng khả năng hợp tác hiệu quả giữa các ban ngành, các

bộ phận, các cá nhân mở rộng dân chủ, khuyến khích uỷ quyền, một xu

hướng trong nền kinh tế thị trường. Đó phải là hoạt động liên tục với những

sự đổi mới không ngừng.



- 11 -



1.1.2.3. Vai trò của kiểm sốt chi phí trong doanh nghiệp

Suy cho cùng doanh nghiệp nào cũng hướng tới mục tiêu lợi nhuận. Mà

chúng ta biết rằng lợi nhuận được xác định bởi công thức đơn giản sau:

Lợi nhuận= Doanh thu- chi phí

Như vậy để thu được nhiều lợi nhuận chúng ta chỉ có hai cách:

Một là tăng doanh thu, điều này đồng nghĩa với việc tăng giá bán khi mà số

lượng hàng hố sản xuất ra khơng đổi. Nhưng thường thì chúng ta nhận được kết

quả lại khi mà trên thị trường đầy những đối thủ cạnh tranh, hàng hoá thay thế và

hàng hoá bổ sung. Như vậy giải pháp này rất thiếu tính khả thi.

Cách thứ hai là giảm chi phí bằng hoạt động kiểm sốt của doanh

nghiệp. Đó là những khoản chi mà doanh nghiệp có thể chủ động giảm, sử

dụng có hiệu quả. Và khi mà doanh nghiệp tính giá bán hàng bằng cách cộng

giá thành với lợi nhuận mong muốn thì việc giảm chi phí sẽ làm giảm giá

thành, đó là lợi thế cạnh tranh rất lớn trong nền kinh tế thị trường gắn với xu

thế hội nhập hiện nay.

Rõ ràng là kiểm soát chi phí có vai trò rất quan trọng trong hoạt động

quản lý doanh nghiệp, một nội dung cần tập trung nghiên cứu, chủ động tiến

hành liên tục, triệt để.

1.1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng tới kiểm sốt chi phí trong doanh nghiệp

Kiểm sốt chi phí bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố, cả bên trong và bên

ngoài doanh nghiệp. Nhưng tập trung lại có những nhân tố cơ bản sau:

Thơng tin thực tế các khoản chi phí trong doanh nghiệp. Đó là điều kiện

tiên quyết để các chủ thể quản lý thực hiện chức năng kiểm soát, chỉ khi nhận

biết và hiểu thực tế chi phí trong doanh nghiệp thì mới có thể xác định được

những khoản chi phí cần điều chỉnh cũng như những kinh nghiệm tốt từ

những khoản chi hiệu quả.

Nhân tố thứ hai đó là hệ thống tiêu chuẩn định mức mà doanh nghiệp

xây dựng. Đó là những mục tiêu đã được số hoá trên những kế hoạch, chương



- 12 -



trình mục tiêu của doanh nghiệp, trên cơ sở từ những kết quả phân tích kinh tế

vi mô và mục tiêu của doanh nghiệp.

Quan hệ cung cầu trên thị trường đầu vào cũng là nhân tố ảnh hưởng lớn

tới kết quả chi phí. Sự biến động quan hệ cung cầu đầu vào biểu hiện qua giá

cả, khi giá tăng chi phí sẽ tăng và giá giảm doanh nghiệp sẽ giảm được giá

thành sản phẩm. Đây là nhân tố thuộc mơi trường bên ngồi doanh nghiệp, do

đó doanh nghiệp chỉ có thể chấp nhận, thích ứng theo xu hướng biến động đó.

Cuối cùng kiểm sốt chi phí chịu tác động từ chính những hệ thống giải

pháp, cơng cụ mà doanh nghiệp đưa ra. Trên cơ sở những thông tin có được,

những giải pháp để sử dụng chi phí một cách có hiệu quả sẽ được đưa ra và kết

quả đạt được đến đâu phụ thuộc vào tính đúng đắn của những biện pháp đó.

1.1.3. Thiết lập quy trình kiểm sốt chi phí trong doanh nghiệp

Quy trình kiểm sốt là một dòng hoạt động liên tục từ đánh giá đến so

sánh và hành động. Có bốn bước trong quy trình kiểm sốt: Thiết lập các tiêu

chuẩn kết quả hoạt động; Đánh giá kết quả hoạt động thực tế; So sánh kết quả

hoạt động đã đánh giá với các tiêu chuẩn và tiến hành hoạt động sữa chữa,

điều chỉnh.

Bước 1: Thiết lập các tiêu chuẩn kết quả hoạt động

Tiêu chuẩn được tạo ra khi thiết lập các tiêu chí trong quá trình lập kế

hoạch. Tiêu chuẩn là bất kì hướng dẫn nào được thiết lập làm cơ sở đánh giá.

Đây là một tuyên bố rõ ràng và chính xác về kết quả mong đợi của sản phẩm,

dịch vụ…Tiêu chuẩn thường được biểu đạt bằng số và được thiết lập cho các

khía cạnh khối lượng, chất lượng và thời gian.

Tùy theo nhu cầu cụ thể từng bộ phận trong doanh nghiệp kinh doanh

khách sạn – nhà hàng mà mức tiêu chuẩn được thiết lập cụ thể. Tuy nhiên, mức

tiêu chuẩn chung vẫn đặt tiêu chí về chất lượng và giá trị hàng hóa, sản phẩm.

+ Đối với bộ phận nhà hàng: Tiêu chuẩn đầu tiên cần chú ý khi đánh giá

kết quả hoạt động là chất lượng vệ sinh thực phẩm và giá trị mang lại cho



- 13 -



khách hàng, tiêu chuẩn về phục vụ, thời gian thực hiện công việc và chất

lượng lao động…

+ Đối với bộ phận khách sạn: Tiêu chuẩn là chất lượng buồng phòng,

khả năng phục vụ, thời gian phục vụ và các dịch vụ mang lại sự hài lòng cho

khách hàng…

Bước 2: Đánh giá kết quả hoạt động thực tế

Nhân viên giám sát thu nhập số liệu để đánh giá kết quả hoạt động thực

tế và xác định sự sai khác so với tiêu chuẩn. Số liệu bằng văn bản có thể ghi

lại bằng thẻ bấm giờ, phiếu bán hàng. Các quan sát của cá nhân, báo cáo

thống kê, báo cáo miệng và báo cáo chi tiết có thể sử dụng để đánh giá kết

quả hoạt động.

Tại từng bộ phận, nhân viên giám sát dựa vào các tiêu chuẩn đã đề ra mà

xem xét và đánh giá kết quả đạt được. Tại nhà hàng, sự đánh giá có thể thơng

qua sự hài lòng hay phàn nàn của khách hàng, xem xét mức độ an toàn thực

phẩm, thời gian và phong cách phục vụ của nhân viên…,tại bộ phận khách

sạn cũng tương tự đánh giá theo mức độ thỏa mãn nhu cầu khách hàng và thời

gian thực hiện cơng việc.

Ngồi ra, nhân viên giám sát có thể truy cập thông tin qua mạng nội bộ.

Các nhân viên có thể cung cấp các báo cáo thơng qua sử dụng mạng và thư

điện tử. Do vậy, nhân viên giám sát có thể sử dụng thơng tin trên hệ thống

máy chủ để nắm tình hình hoạt động và sử dụng chi phí tại từng bộ phận.

Bước 3: So sánh kết quả hoạt động đã đánh giá với các tiêu chuẩn đã

thiết lập

So sánh kết quả với tiêu chuẩn sẽ giúp xác định sự sai khác. Có thể dự

kiến một số sai khác có khả năng xảy ra cho tất cả các hoạt động và cần xác

định giới hạn sai khác, tức là sai số được chấp nhận.



- 14 -



Đối với bộ phận nhà hàng, tùy theo mức hao hụt cho phép đối với thực

phẩm hoặc định mức sử dụng vật liệu để chế biến mà kiểm tra, so sánh với

thực tế sử dụng để xem có sự lãng phí hay không.

Đối với bộ phận khách sạn, việc kiểm tra chất lượng các thiết bị định kì,

việc sử dụng các vật liệu xuất dùng định kì có vượt q tiêu chuẩn cho phép,

kiểm tra giờ công làm việc của nhân viên dưới hay vượt quá quy định cho

phép…

Bước 4: Tiến hành hoạt động chấn chỉnh khắc phục

Nhân viên giám sát phải tìm ra nguyên nhân gây nên sự khác biệt giữa

tiêu chuẩn với thực tế. Sau đó, nhân viên giám sát sẽ tiến hành hoạt động để

xóa bỏ hạn chế tối đa nguyên nhân đó. Nếu nguồn gốc sự sai khác xuất phát

từ một thiếu sót trong hoạt động của đơn vị thì nhân viên giám sát phải tiến

hành ngay biện pháp khắc phục để khôi phục lại kết quả hoạt động như cũ.

Ngồi ra, nhân viên giám sát có thể chọn cách tiến hành biện pháp khắc phục

cơ bản, tức là xác định nguyên nhân tại sao có sự khác biệt trong kết quả hoạt

động và sự khác biệt xảy ra như thế nào, sau đó điều chỉnh lại nguyên nhân

gây ra sự khác biệt.

1.1.4. Các thành phần của hệ thống kiểm sốt

1.1.4.1. Mơi trường kiểm sốt

Mơi trường kiểm sốt bao gồm các nhân tố bên trong và bên ngoài có

tính chất mơi trường tác động đến việc thiết kế, hoạt động và sự hiện hữu của

các chính sách, thủ tục kiểm soát của đơn vị. Các nhân tố này chủ yếu liên

quan đến thái độ, nhận thức và hành động của người quản lý đơn vị, bao gồm

các nhân tố:

- Quan điểm, cách thức điều hành của lãnh đạo: Thực chất của một hệ

thống kiểm soát hiệu quả nằm trong quan điểm và cách thức điều hành của

người quản lý. Nếu như người quản lý cao nhất coi kiểm soát là quan trọng và



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP KHÁCH SẠN- NHÀ HÀNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×