Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

79



cường trách nhiệm quản lý, sử dụng ngân sách của các cấp, các cơ quan, đơn

vị gắn với trách nhiệm tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị chun mơn.

Nâng cao tính minh bạch, dân chủ và cơng khai trong quản lý NSNN. Xác

định rõ hơn phạm vi ngân sách, đảm bảo nguyên tắc nhất quỹ của NSNN.

Tăng cường thuyết minh, giải trình về hiệu quả quản lý, sử dụng NSNN của các

cấp ngân sách, các cơ quan, đơn vị. Đổi mới phương thức quản lý sử dụng ngân

sách gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ, đảm bảo nguyên tắc hiệu quả và tiết

kiệm. Tăng cường công tác dự báo tài chính – ngân sách nhà nước trung hạn, gắn

với cơng tác xây dựng dự tốn ngân sách hàng năm để việc định hướng và phân

bổ nguồn lực NSNN có hiệu quả hơn.

Đồng thời phải đảm bảo nguồn lực để xây dựng và phát triển thành phố

theo năm hướng đột phá chiến lược nhằm đưa thành phố Đà Nẵng trở thành một

đô thị lớn của cả nước, là trung tâm kinh tế - xã hội của miền Trung, là địa bàn giữ

vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh của miền Trung và cả nước thì

trong 5 năm đến phải đảm bảo: tổng thu NSNN tăng 11,5% - 12,5%/năm, tổng chi

NSĐP tăng từ 10% - 11%/năm như Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Đà

Nẵng lần thứ XX đề ra.

Để đảm bảo đạt được mục tiêu đã đề ra góp phần thực hiện thành

cơng chiến lược, Chính phủ trong thời gian qua đã tiến hành các cải cách ở

lĩnh vực tài chính cơng nói chung và quản lý ngân sách nhà nước nói riêng.

Những cải cách đó tuy thu được một số thành quả nhất định, song dường

như vẫn chưa đi vào trọng tâm các mục tiêu mà chiến lược đã đặt ra cho

ngân sách nhà nước. Có nhiều ngun nhân dẫn đến tình trạng trên, trong

đó có nguyên nhân từ những hạn chế trong lập dự tốn ngân sách nhà nước

nói chung, ngân sách địa phương nói riêng. Cho nên, việc hồn thiện cơng tác

lập, phân bổ và giao dự toán ngân sách nhà nước, dự toán ngân sách địa

phương để khắc phục những hạn chế còn tồn tại ở trên được xem là một giải



80



pháp cấp bách hiện nay qua đó góp phần thực hiện thành cơng mục tiêu nói

trên mà Đảng và Nhà nước đã đặt ra trong lĩnh vực ngân sách nhà nước.

3.2. Các giải pháp hồn thiện cơng tác lập, phân bổ và giao dự tốn

ngân sách địa phương

3.2.1. Hồn thiện hệ thống định mức, các tiêu chí lập, phân bổ dự tốn

ngân sách địa phương; chế độ, chính sách

a. Hồn thiện định mức, các tiêu chí phân bổ ngân sách nhà nước cho

phù hợp hơn:

Hệ thống định mức của Chính phủ với tiêu chí phân bổ cơ bản theo số

dân số (có chia ra 4 vùng) và một số tiêu chí bổ sung về cơ bản phù hợp với

tình hình thực tế về nguồn lực ngân sách của địa phương, đáp ứng kinh phí

cho địa phương thực hiện nhiệm vụ; phù hợp với khả năng cân đối ngân sách

địa phương; góp phần thúc đẩy tinh giản biên chế, khuyến khích xã hội hố,

cải cách hành chính trong cơng tác quản lý ngân sách nhà nước.

Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện, định mức phân

bổ ngân sách còn một số tồn tại cần khắc phục và cần sửa đổi bổ sung để đảm

bảo kinh phí thực hiện những chế độ, chính sách nhà nước mới ban hành; thực

hiện những mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng trong giai đoạn phát triển mới theo

Nghị quyết của Đảng; đáp ứng yêu cầu chiến lược tài chính - ngân sách giai

đoạn 2011 - 2020.

Do vậy để hoàn thiện hệ thống định mức phân bổ dự toán ngân sách địa

phương cho từng thời kỳ ổn định ngân sách thì Chính phủ cần phải tiếp tục

hoàn thiện hệ thống định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên ngân sách

nhà nước, trong đó có định mức phân bổ dự tốn chi thường xuyên ngân sách

cho các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong những năm ngân sách

tiếp theo, theo hướng:



81



- Về tiêu chí phân bổ dự tốn chi:

Ngồi tiêu chí phân bổ cơ bản theo số dân số thì ở tất các lĩnh vực đều

phải có các tiêu chí bổ sung để khắc tình trạng các địa phương có dân số thấp,

diện tích rộng, vị trí địa lý khó khăn mới đảm bảo kinh phí thực hiện các

nhiệm vụ chi theo phân cấp của Luật ngân sách nhà nước. Cụ thể:

+ Đối với những địa phương có dân số thấp, được phân bổ thêm tỷ lệ

chi tính theo đinh mức dân số quy định ở từng lĩnh vực, chẳng hạn như: nếu

dân số dưới 500 nghìn dân được phân bổ thêm 15% (mức phân bổ chung hiện

nay là 12%); nếu dân số từ 500 – 800 nghìn dân được bổ sung thêm 12%

(mức phân bổ chung hiện nay là 10%); Đối với thành phố Đà Nẵng đến năm

2010 dân số là 926 ngàn người, khơng có trong khung dân số quy định ở trên

vì vậy cần mở thêm khung dân số: từ trên 800 – 1.000 nghìn dân và bổ sung

thêm 10% để các địa phương như Đà Nẵng đảm bảo kinh phí thực hiện…

+ Đối với một số lĩnh vực chi cần xem xét thêm các tiêu chí bổ sung để

đảm bảo được tính đặc thù của từng vùng, từng địa phương như: số lượng học

sinh, cấp học, bậc học (như Đà Nẵng đang thực hiện); đồng thời đảm bảo theo

cơ cấu chi con người và chi khác (đối với định mức chi sự nghiệp giáo dụcđào tạo); chỉ tiêu, quy mô giường bệnh (như Đà Nẵng đang thực hiện), tình

trạng quá tải của bệnh viện khu vực (đối với định mức chi sự nghiệp y tế); số

lượng biên chế và đảm bảo cơ cấu chi con người và chi khác (đối với định mức

chi quản lý hành chính); số lượng đối tượng chính sách xã hội (như Đà Nẵng

đang thực hiện), hộ nghèo (đối với định mức chi đảm bảo xã hội)…; đồng thời

có hệ số điều chỉnh tăng thêm hằng năm do các yếu tố biến động về giá cả, thay

đổi chính sách chế độ mới... nhằm đảm bảo yêu cầu chi của địa phương.

- Về hệ số giữa các vùng:

Việc áp dụng định mức phân bổ theo vùng để ưu tiên cho các vùng

miền núi, vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc có nhiều khó khăn là phù hợp với



82



điều kiện thực tế của các địa phương. Tuy nhiên đối với đa số lĩnh vực chi thì

hệ số của vùng đơ thị vẫn còn thấp so với các vùng khác như sự nghiệp: giáo

dục - đào tạo, đảm bảo xã hội, y tế,... Như vậy sẽ khó khăn cho các địa

phương có dân số đơ thị chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dân số, vì vậy xây

dựng định mức vùng đô thị của các lĩnh vực cần xem xét thêm tính đặc thù

của từng vùng, từng địa phương để áp hệ số tăng thêm từ 0,25 - 0,5 lần định

mức cho các địa phương có dân số đô thị chiếm tỷ trọng lớn trên tổng dân số.

- Về định mức chi đối với từng lĩnh vực:

Năm 2007, trên cơ sở dự tốn Chính phủ giao và căn cứ yêu cầu phát

triển kinh tế - xã hội của địa phương, thành phố Đà Nẵng đã xây dựng định

mức phân bổ chi ngân sách cao hơn mức của trung ương từ 10% đến 177%,

nhưng trong quá trình thực hiện vẫn phải bổ sung kinh phí từ ngân sách thành

phố mới đảm bảo được các nhiệm vụ chi trên địa bàn (khơng kể việc bổ sung

kinh phí để thực hiện cải cách tiền lương). Do vậy định mức phân bổ chi ngân

sách nhà nước giai đoạn mới, Chính phủ ban hành cần có mức tăng hợp lý để

đảm bảo kinh phí cho các lĩnh vực chi, nhất là lĩnh vực: giáo dục, y tế, đảm

bảo xã hội, văn hoá thể thao và du lịch, chi hành chính, an ninh quốc phòng.

Chẳng hạn một số lĩnh vực như sau :

+ Chi sự nghiệp giáo dục: cần xem xét lại theo hướng tính trên tổng dân

số tại địa phương và đảm bảo theo cơ cấu 75% chi lương, các khoản có tính

chất lương và 25% chi khác ngoài lương nhằm tạo điều kiện cho hoạt động sự

nghiệp giáo dục (trong đó bao gồm chi hoạt động của sự nghiệp giáo dục tại

phường, xã; chi hoạt động của Trung tâm học tập cộng đồng...).

+ Chi sự nghiệp y tế: cần có sự điều chỉnh bổ sung thêm ngồi định

mức theo tiêu chí dân số (tiêu chí bổ sung), như:

Kinh phí khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi: có định mức

theo số lượng trẻ em của từng địa phương, đồng thời hằng năm xác định bổ

sung theo tỷ lệ tăng dân số tự nhiên.



83



Kinh phí Khám chữa bệnh cho người nghèo: có định mức theo số lượng

người nghèo theo chuẩn nghèo quy định

Kinh phí đối với hoạt động của bệnh viên khu vực với mức đảm bảo tối

thiểu bằng 30% dự toán chi ngân sách năm kế hoạch thay cho năm trước như

hiện nay.

+ Chi sự nghiệp đảm bảo xã hội: hiện nay Chính phủ ban hành nhiều

chế độ, chính sách ưu tiên tăng mức chi cho các đối tượng chính sách xã hội

nhằm thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội. Do

vậy, nhu cầu chi ở lĩnh vực này tăng khá cao, nên cần thiết tăng định mức ở

lĩnh vực này lên cho phù hợp. Ngoài ra, định mức chi thăm hỏi, động viên gia

đình thuộc diện chính sách vào dịp lễ tết cần tăng ở mức hợp lý (mức chi cho

nội dung này thành phố Đà Nẵng đã chi ở mức 500.000đ/đối tượng).

+ Về chi quản lý hành chính: hiện nay nhà nước đã ban hành chế độ

mới tăng mức chi về cơng tác phí, hội nghị...; đồng thời các chi phí vật tư, văn

phòng phẩm, điện, nước, xăng xe... trên thực tế đều tăng giá. Vì vậy cần điều

chỉnh tăng định mức chi khác (ngoài lương) phải đảm bảo để thực hiện nhiệm

vụ trong điều kiện chế độ, chính sách mới ban hành nhiều và tương ứng với

tốc độ trượt giá; đối với kinh phí thực hiện chi lương và các khoản có tính

chất lương được xác định theo chế độ tiền lương và các khoản đóng góp theo

lương cho phù hợp.

b. Chế độ, chính sách, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu:

Chế độ, chính sách, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu cần được ban hành,

điều chỉnh, bổ sung cho kịp thời phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội và

xu thế hội nhập kinh tế quốc tế.

Theo quy định của Luật NSNN thì thẩm quyền quyết định chế độ, tiêu

chuẩn, định mức chi tiêu ngân sách là do Chính phủ quyết định những chế độ

chi ngân sách quan trọng, phạm vi ảnh hưởng rộng, liên quan đến việc thực



84



hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội của cả nước như: chế độ tiền lương, trợ cấp xã

hội, chế độ đối với người có cơng với cách mạng, tỷ trọng chi ngân sách thực

hiện nhiệm vụ giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ trong tổng chi ngân sách

nhà nước; Chính phủ giao Thủ tướng Chính phủ quyết định các chế độ, tiêu

chuẩn, định mức chi tiêu thực hiện thống nhất trong cả nước. Đối với một số

chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu để phù hợp đặc điểm của địa phương,

Thủ tướng Chính phủ quy định khung và giao Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

quyết định cụ thể. Chính phủ giao Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định chế độ,

tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách đối với các ngành, lĩnh vực sau khi thống

nhất với các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực;

Ngoài các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu do Chính phủ, Thủ

tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành, đối với một số nhiệm vụ

chi có tính chất đặc thù ở địa phương để thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh

tế - xã hội, bảo đảm trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, trên cơ sở nguồn ngân

sách địa phương bảo đảm, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được quyết định chế

độ chi ngân sách, phù hợp với đặc điểm thực tế ở địa phương. Riêng những

chế độ chi có tính chất tiền lương, tiền cơng, phụ cấp, trước khi quyết định

phải có ý kiến của các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực.

Để đảm bảo tính kịp thời và phù hợp với quá trình phát triển kinh tế xã hội, nhất là trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế thì trong thời gian đến

Chính phủ cần tăng thẩm quyền, phân cấp thêm cho chính quyền địa phương

được quyết định, ban hành một số chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu sau

khi thống nhất với các Bộ chuyên ngành, như: viện phí, học phí và một số loại

phí, lệ phí do địa phương quản lý thu, chế độ cơng tác phí, chế độ chi tổ chức

các cuộc hội nghị, cước phí sử dụng phương tiện thơng tin công vụ... nhằm

đáp ứng việc thực hiện nhiệm vụ của các đơn vị, địa phương và góp phần cho

cơng tác dự toán ngân sách hàng năm được sát thực, hiệu quả.



85



3.2.2 Phân cấp ngân sách trong lập, phân bổ và giao dự toán ngân sách

địa phương triệt để hơn

Xuất phát từ tính lồng ghép của hệ thống NSNN đã dẫn đến tình trạng

trùng lắp về thẩm quyền, trách nhiệm giữa các cấp. Theo quy định của Hiến

pháp, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật ngân sách Nhà nước thì Quốc hội quyết

định dự toán ngân sách nhà nước, bao gồm cả ngân sách trung ương và ngân

sách các cấp chính quyền địa phương về dự toán thu, dự toán chi, mức bội chi

và nguồn bù đắp bội chi ngân sách nhà nước. Đối với dự toán ngân sách nhà

nước, Quốc hội quyết định tổng số thu ngân sách nhà nước, bao gồm thu nội

địa, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu, thu viện trợ khơng hồn lại; quyết định

tổng số chi ngân sách nhà nước, bao gồm chi ngân sách trung ương và chi

ngân sách địa phương, chi tiết theo các lĩnh vực chi đầu tư phát triển, chi

thường xuyên, chi trả nợ và viện trợ, chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính và dự

phòng ngân sách. Trong chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên, Quốc hội

quyết định mức chi cụ thể cho lĩnh vực giáo dục và đào tạo, khoa học và công

nghệ. Quy định này đã làm hạn chế vai trò, thẩm quyền và tính chủ động của

các cấp chính quyền địa phương trong việc xem xét, quyết định ngân sách của

cấp mình; trên thực tế phải quyết định một số chỉ tiêu mà cấp trên đã quyết

định (thực chất đây là quá trình HĐND thành phố quyết định lại dự toán ngân

sách địa phương trên cơ sở dự toán được Quốc hội quyết định). Để chủ động,

linh hoạt trong công tác này và khắc phục được tình trạng trùng lắp về thẩm

quyền, trách nhiệm giữa các cấp cần thiết phân cấp triệt để hơn cho địa

phương theo hướng giao địa phương căn cứ vào nguồn thu ngân sách địa

phương được hưởng, nhiệm vụ chi theo phân cấp, chính sách, chế độ và tốc

độ tăng trưởng kinh tế của địa phương để xây dựng và tự quyết định dự tốn

cấp mình cho phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.



86



3.2.3. Phân định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ giữa cơ quan Tài chính

với cơ quan Kế hoạch và Đầu tư trong trong lập, phân bổ ngân sách đầu tư

phát triển

Phân định rõ về chức năng và nhiệm vụ giữa cơ quan Tài chính với cơ

quan Kế hoạch và Đầu tư trong lập, phân bổ ngân sách đầu tư phát triển,

mà cụ thể là phân định rõ việc xây dựng kế hoạch đầu tư các chương trình,

dự án với việc phân bổ ngân sách đầu tư hàng năm, việc cân đối các nguồn

vốn đầu tư trong dự toán ngân sách hàng năm. Như vậy mới khắc phục được

tình trạng chồng chéo chức năng, nhiệm vụ như hiện nay, làm cho việc phân

bổ ngân sách đầu tư từ các nguồn vốn đầu tư mới thực sự đảm bảo cân đối

với việc phân bổ vốn đầu tư cho từng cơng trình, dự án, tránh được tình

trạng dàn trải, phân tán nguồn lực, và việc sử dụng vốn đầu tư mới thực sự

có hiệu quả và đúng hướng.

3.2.4. Gắn kết giữa kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội với kế hoạch

ngân sách nhà nước hằng năm

Trong công tác lập, phân bổ và giao dự toán ngân sách cần gắn

kết chặt chẽ giữa kế hoạch ngân sách với kế hoạch phát triển kinh tế - xã

hội trung hạn, có như vậy mới tạo được mối liên kết rõ ràng giữa các mục

tiêu, chương trình, dự án với nguồn lực ngân sách trong khn khổ kinh tế

vĩ mơ được dự báo. Từ đó, có điều kiện để điều hồ giữa các năm ngân sách

với nhau, hạn chế được sự hẫng hụt về tài chính, khắc phục được tình trạng

mục tiêu, chương trình, dự án chờ kinh phí do tình trạng dàn trải trong đầu

tư. Có như vậy, việc phân bổ nguồn lực cho các nhu cầu chi tiêu của nhà

nước, của chính quyền địa phương mới đúng với định hướng phát triển

kinh tế - xã hội.



87



3.2.5. Đổi mới quy trình lập, quyết định và giao dự toán ở các cấp ngân

sách địa phương

a. Đổi mới quy trình lập:

Quy trình ngân sách của nước ta cơ bản được quy định tại Luật ngân

sách Nhà nước và các văn bản hướng dẫn Luật. Theo đó, quy trình lập dự tốn

ngân sách thường bắt đầu từ cuối tháng 5, khi Thủ tướng Chính phủ ban hành

Chỉ thị nêu các nội dung chính phải tuân thủ trong lập kế hoạch kinh tế xã hội

và ngân sách. Sau đó, Bộ Tài chính ban hành Thơng tư hướng dẫn cùng với số

kiểm tra thu và chi để làm cơ sở cho các địa phương lập báo cáo dự toán và

thảo luận ngân sách. Kết quả thảo luận sẽ được tổng hợp, trình Chính phủ, các

cơ quan của Quốc hội và Quốc hội phê chuẩn vào nửa đầu tháng 11. Căn cứ

Nghị quyết của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ thu và chi cho

các địa phương vào khoảng ngày 20 tháng 11. Tiếp theo, từng tỉnh, thành phố

trực thuộc Trung ương phân bổ ngân sách chi tiết của mình cho các đơn vị cấp

dưới trước ngày 31 tháng 12 và thông báo phân bổ để cơ quan Tài chính theo

dõi, tổng hợp.

Mặc dù quy trình ngân sách nêu trên là khá rõ ràng; việc chấp hành quy

trình ngân sách nêu trên ở các cấp, các cơ quan, đơn vị cũng tương đối tốt,

nhưng cũng còn những điểm cần phải hoàn thiện thêm. Cụ thể: do hệ thống

ngân sách có tính lồng ghép nên q trình lập dự tốn ngân sách thực hiện

theo trình tự từ cấp xã lên và quá trình phân bổ ngân sách nhà nước diễn ra từ

cấp trên xuống. Với quỹ thời gian hạn chế trong quy trình ngân sách nhà nước

diễn ra từ cấp trên xuống. Với quỹ thời gian hạn chế trong quy trình ngân sách

như quy định hiện nay đã dẫn đến hai tình trạng: Hoặc là cơng tác lập, tổng

hợp và quyết định dự toán, phân bổ và giao dự tốn ngân sách nhà nước,

khơng đáp ứng được u cầu về thời gian đã quy định trong Luật Ngân sách

nhà nước; hoặc là cơ quan có nhiệm vụ, có thẩm quyền trong việc lập, tổng



88



hợp và quyết định dự toán, phân bổ và giao dự toán ngân sách nhà nước, đáp

ứng được yêu cầu về thời gian đã quy định trong Luật Ngân sách nhà nước

nhưng không đảm bảo chất lượng, mang tính hình thức.

Mặt khác trong quy trình lập dự tốn ngân sách ở địa phương thì hai

khâu: (1) khâu hướng dẫn và số thông báo kiểm tra về dự toán ngân sách cho

các đơn vị sử dụng ngân sách đòi hỏi phải thật cụ thể, chi tiết và (2) khâu xem

xét dự toán của các đơn vị sử dụng ngân sách gửi cho cơ quan Tài chính các

cấp phải đòi hỏi thực sự thận trọng, khách quan, thậm chí phải trao đổi, thảo

luận với các đơn vị để làm sáng tỏ các nhu cầu trong dự toán, phục vụ tốt cho

việc bố trí dự tốn của các đơn vị sử dụng ngân sách.

Vì vậy để đáp ứng được yêu cầu về chất lượng của dự toán sát với tình

hình thực tế của địa phương thì đòi hỏi phải đổi mới quy trình theo hướng cải

tiến phương pháp, thủ tục ở hai khâu nói trên, đồng thời cần tăng thêm thời

gian, nhất là thời gian mà từng địa phương phân bổ chi tiết ngân sách của

mình cho các đơn vị, chính quyền cấp dưới và thơng báo phân bổ để cơ quan

Tài chính theo dõi, tổng hợp.

b. Đổi mới quyết định dự toán chi ngân sách hàng năm:

Việc quyết định dự toán chi ngân sách phải dựa trên các chuẩn mực

khoa học đã được xác định, nhằm đảm bảo cho dự toán chi ngân sách được

quyết định phù hợp với khả năng cân đối ngân sách sách của địa phương, phù

hợp với đặc điểm tình hình và nhu cầu hợp lý của từng địa phương, đơn

vị sử dụng ngân sách. Cho nên trong năm đầu của thời kỳ ổn định ngân sách

(ổn định từ 3 - 5 năm) thì việc quyết định dự toán chi ngân sách là hết sức

quan trọng và đòi hỏi phải thật sự sát hợp với từng đơn vị sử dụng ngân

sách để làm cơ sở cho việc quyết định dự toán ở những năm tiếp theo của thời

kỳ ổn định ngân sách được sát thực, và chỉ điều chỉnh những biến động cho

phù hợp với luật định (trừ những trường hợp có biến động lớn).



89



Do vậy, khâu thẩm định dự toán giữa cơ quan Tài chính các cấp với các

đơn vị dự tốn đòi hỏi phải đổi mới, hồn thiện hơn và phải có sự trao đổi,

mạn đàm những nội dung chưa thống nhất trong dự tốn của các đơn vị, đảm

bảo cơng khai, minh bạch, khách quan để các đơn vị đưa ra những cơ sở bảo

vệ dự toán và cơ quan Tài chính đưa ra những căn cứ khơng chấp nhận dự

tốn, sau đó thống nhất kết luận. Trên cơ sở được thống nhất, cơ quan Tài

chính tổng hợp dự tốn ngân sách cấp mình thơng qua UBND trình HĐND

cùng cấp quyết định dự tốn NSNN (trong trường hợp còn thí điểm khơng

tổ chức HĐND huyện, quận, phường thì UBND quận, huyện gửi Sở Tài

chính để trình UBND thành phố và HĐND cùng cấp) nhằm đảm bảo cho dự

toán được quyết định hợp lý.

Điều này sẽ tránh được sự áp đặt chủ quan của cơ quan quyết định

dự toán, hạn chế sự bất bình đẳng giữa các đơn vị, địa phương.

3.2.6. Lập, phân bổ dự toán ngân sách phải gắn kết việc chi tiêu ngân

sách với các kết quả và đầu ra

Việc lập dự toán ngân sách gắn kết quả đầu ra với khn khổ chi tiêu

ngân sách là đòi hỏi khách quan và rất cần thiết bởi nguồn lực ngân sách là

rất hạn chế; dự toán phải phản ánh đầy đủ mọi khoản thu hợp pháp vào ngân

sách để kiểm soát nhờ vậy mà hoạch định chi tiêu sẽ đúng với mục tiêu và

nằm trong phạm vi mức trần; dự toán ln hướng đến tính hiệu quả trong

sử dụng nguồn lực và thực hiện điều đó bằng những bước cơng việc cụ thể;

khắc phục tình trạng dự tốn ngân sách nhà nước được lập hàng năm phải

tốn thời gian, công sức và dễ nảy sinh cơ chế “xin cho”...

Để đạt được điều này, trong q trình lập dự tốn ngân sách cần xác

định rõ các mục đích, mục tiêu, cũng như những kết quả và đầu ra cho từng

chương trình, dự án và những hoạt động được ngân sách nhà nước đảm bảo,



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×