Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG

NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

6



nguồn tài chính giữa nhà nước, một chủ thể đặc biệt, với các chủ thể còn

lại trong nền kinh tế. Hơn nữa, ngân sách nhà nước còn là nguồn tài chính

tập trung quan trọng trong hệ thống tài chính quốc gia, thể hiện tiềm lực và

sức mạnh về mặt tài chính của nhà nước. Ngân sách nhà nước có mối liên hệ

chặt chẽ với mọi mặt kinh tế - chính trị - xã hội và quan hệ khăng khít với

tất cả các khâu của cả hệ thống tài chính quốc gia. Do vậy, quản lý và điều

hành ngân sách nhà nước có tác động và chi phối trực tiếp đến mọi lĩnh vực

trong nền kinh tế.

Theo Điều 1 Luật Ngân sách nhà nước năm 2002 thì ngân sách nhà

nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước

có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực

hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. ([5], trang 1)

Từ khái niệm trên, có thể rút ra những đặc điểm cơ bản của ngân sách

nhà nước như sau:

- Ngân sách nhà nước là một bộ luật tài chính đặc biệt (yếu tố pháp lý),

bởi lẽ trong ngân sách nhà nước, các thể chế của nó được thiết lập dựa vào hệ

thống các pháp luật có liên quan (hiến pháp, luật thuế,…) mặt khác, bản thân

ngân sách nhà nước cũng là bộ luật do Quốc hội quyết định và thông qua

hàng năm, mang tính chất áp đặt và bắt buộc các chủ thể kinh tế- xã hội có

liên quan phải tuân thủ.

- Ngân sách nhà nước là một bản dự toán thu, chi (yếu tố vật chất). Các

cơ quan, đơn vị có trách nhiệm lập ngân sách nhà nước và đề ra các thơng số

quan trọng có liên quan đến chính sách của chính phủ. Chính sách nào mà

khơng được dự kiến trong ngân sách thì sẽ khơng được thực hiện. Chính vì lẽ

đó, việc thơng qua ngân sách nhà nước là một sự kiện chính trị quan trọng, nó

biểu hiệu sự nhất trí trong Quốc hội về chính sách của nhà nước. Quốc hội mà

không thông qua ngân sách nhà nước thì điều đó thể hiện sự thất bại của chính



7



phủ về chính sách và có thể gây ra mâu thuẫn về chính trị.

- Ngân sách nhà nước là một công cụ quản lý. Ngân sách nhà nước đưa

ra danh mục các khoản thu mà chính phủ chỉ được phép thu và danh mục các

khoản chi tiêu trong khuôn khổ ngân sách nhà nước được Quốc hội phê duyệt.

Đặc điểm này cho thấy, ngân sách nhà nước là công cụ giúp cho Quốc hội

quản lý và kiểm soát chặt chẽ các khoản chi tiêu, thu nhập của chính phủ

trong mỗi năm tài khóa. (Các khái niệm tại [2], trang 213-214)

1.1.1.2. Bản chất NSNN

Ngân sách nhà nước với tư cách là một phạm trù kinh tế đã ra đời và

tồn tại từ lâu. Là một cơng cụ Tài chính quan trọng của Nhà nước, ngân sách

nhà nước xuất hiện dựa trên cơ sở hai tiền đề khách quan là tiền đề Nhà nước

và tiền đề kinh tế hàng hoá- tiền tệ.

Trong lịch sử loài người, Nhà nước xuất hiện là kết quả của cuộc đấu

tranh giai cấp trong xã hội. Nhà nước ra đời tất yếu kéo theo nhu cầu tập trung

nguồn lực tài chính vào trong tay Nhà nước để làm phương tiện vật chất trang

trải cho các chi phí ni sống bộ máy Nhà nước và thực hiện các chức năng

kinh tế, xã hội của Nhà nước. Bằng quyền lực của mình, Nhà nước tham gia

vào quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội. Trong điều kiện kinh tế hàng

hố - tiền tệ, các hình thức tiền tệ trong phân phối như: thuế bằng tiền, vay

nợ…được Nhà nước sử dụng để tạo lập quỹ tiền tệ riêng có: ngân sách nhà

nước. Như vậy, ngân sách nhà nước là ngân sách của Nhà nước, hay Nhà

nước là chủ thể của ngân sách đó.

Trong thực tiễn, hoạt động ngân sách nhà nước là hoạt động thu (tạo

lập) và chi tiêu (sử dụng) quỹ tiền tệ của Nhà nước, làm cho nguồn tài chính

vận động giữa một bên là các chủ thể kinh tế, xã hội trong quá trình phân phối

tổng sản phẩm quốc dân dưới hình thức giá trị và một bên là Nhà nước. Đó

chính là bản chất kinh tế của ngân sách nhà nước. Đứng sau các hoạt động



8



thu, chi là mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và các chủ thể kinh tế, xã hội.

Nói cách khác, ngân sách nhà nước phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa Nhà

nước với các chủ thể trong phân phối tổng sản phẩm xã hội, thông qua việc

tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, chuyển dịch một bộ phận

thu nhập bằng tiền của các chủ thể đó thành thu nhập của Nhà nước và Nhà

nước chuyển dịch thu nhập đó đến các chủ thể được thực hiện để thực hiện

các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. ([4])

Tóm lại về bản chất của NSNN, thì đằng sau những con số thu, chi đó

là các quan hệ lợi ích kinh tế giữa nhà nước với các chủ thể khác như doanh

nghiệp, hộ gia đình, cá nhân gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử

dụng quỹ ngân sách. ([1], trang 78)

1.1.1.3. Nguyên tắc quản lý NSNN

a. Nguyên tắc niên hạn

Nguyên tắc này có thể được tóm tắt với 2 nội dung chính: (1) Mỗi năm

Quốc hội phải thông qua ngân sách nhà nước một lần; (2) Chính phủ thi hành

ngân sách nhà nước trong thời gian một năm.

Sự phát triển của xã hội theo thể chế nền dân chủ chính trị, thực hiện

ngân sách niên hạn là để tạo điều kiện cho Quốc hội và cơng chúng kiểm sốt

tình hình thu chi tài chính cơng được đều đặn và sát thực. Mỗi năm Chính phủ

thu bao nhiêu và chi cho cái gì, Quốc hội và công chúng cần phải biết. Thực

hiện nguyên tắc này sẽ làm gia tăng quyền lực mạnh mẽ của Quốc hội trong

việc kiểm sốt Chính phủ. Quốc hội sẽ quyết định ngân sách nhà nước mỗi

năm một lần. Nếu một năm nào đó mà Quốc hội chưa quyết định ngân sách,

thì Chính phủ khơng có quyền thu, hay chi bất kỳ một khoản tiền nào, dù là

nhỏ nhất.([2], trang 214-215)

Quản lý ngân sách nhà nước phải xác định thời gian khởi đầu và thời

gian kết thúc để giúp cho Chính phủ tổng kết và đánh giá tình hình tài chính



9



của quốc gia, qua đó có biện pháp điều chỉnh kịp thời, góp phần nâng cao

hiệu quả sử dụng nguồn lực cơng. Nói chung, sự giới hạn ngân sách nhà nước

hàng năm với dự toán các khoản thu chi chặt chẽ là nhằm làm cho nền tài

chính cơng trở nên minh bạch và quản lý có trật tự. ([2], trang 215)

Tuỳ theo quan điểm của mỗi quốc gia, năm ngân sách nhà nước có thể

bắt đầu từ ngày 1-1 của năm dương lịch và kết thúc ngày 31-12 hoặc có thể

bắt đầu từ ngày 1-4 và kết thúc ngày 31-3…

Ngày nay các nước có khuynh hướng mở rộng ngân sách nhà nước

vượt quá khuôn khổ niên hạn, tức là thiết lập khuôn khổ ngân sách nhà nước

đa niên (3-5 năm).

b. Nguyên tắc đơn nhất

Nguyên tắc này yêu cầu toàn bộ dự tốn thu, dự tốn chi cần được trình

bày trong một văn kiện duy nhất. Nguyên tắc đơn nhất không chấp nhận việc

lập ngân sách bằng nhiều văn kiện khơng tập trung. Chính phủ khơng được đệ

trình ngân sách nhà nước trước Quốc hội bằng nhiều văn kiện khác nhau.

Quốc hội chỉ xem xét và thông qua ngân sách nhà nước bằng một đạo luật

duy nhất.

Nếu ngân sách nhà nước trình bày tản mạn qua nhiều văn kiện khác

nhau, thì sự kiểm sốt của Quốc hội sẽ gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là trong

việc lựa chọn các khoản chi tiêu có tính chiến lược ưu tiên. Sự tơn trọng

ngun tắc này giúp cho Quốc hội có cách nhìn toàn diện hơn về ngân sách

nhà nước. Nguyên tắc đơn nhất cho Quốc hội biết được quy mô của ngân sách

nhà nước, tổng thể nguồn thu và các khoản chi tiêu của chính phủ. Còn nếu

ngân sách nhà nước được báo cáo bằng nhiều văn kiện khác nhau và để biết

tổng nguồn thu và tổng các khoản chi, Quốc hội phải tập hợp rải rác ở nhiều

văn kiện khác, sau đó cộng lại thì đó là một việc làm rất phức tạp, tốn kém

nhiều thời gian. Về phương diện kỹ thuật, chỉ có nguyên tắc đơn nhất mới



10



giúp cho Quốc hội nắm rõ trạng thái của ngân sách nhà nước: thăng bằng, bội

thu hay bội chi. ([2], trang 217-218)

c. Nguyên tắc toàn diện

Ngân sách nhà nước phải là một ngân sách toàn diện và bao quát. Các

khoản thu và chi trong ngân sách nhà nước phải được hợp thành một tài liệu

duy nhất, phản ảnh đầy đủ mọi chương trình tài chính của Chính phủ. Tất cả

khoản thu và khoản chi của quốc gia phải ghi vào trong dự toán ngân sách nhà

nước, khơng có sự bù trừ giữa thu và chi.([2], trang 218)

Như vậy về quản lý ngân sách là phải đảm bảo đầy đủ các nguyên tắc:

nguyên tắc niên hạn đó là mỗi năm cấp có thẩm quyền phải thơng qua ngân

sách nhà nước một lần; chính phủ và chính quyền địa phương các cấp thi hành

ngân sách nhà nước trong thời gian một năm. Đảm bảo nguyên tắc đơn nhất

đó là tồn bộ dự tốn thu, dự tốn chi được trình bày và đệ trình trước cấp có

thẩm quyền để xem xét và thơng qua ngân sách nhà nước trong một văn kiện

duy nhất. Đảm bảo nguyên tắc toàn diện, cụ thể là ngân sách nhà nước phải là

một ngân sách toàn diện, bao quát và các khoản thu, chi trong ngân sách nhà

nước được hợp thành một tài liệu duy nhất, phản ảnh đầy đủ mọi chương trình

tài chính của chính phủ, của các cấp chính quyền địa phương.

1.1.1.4. Vai trò của NSNN

Vai trò của NSNN ở mọi thời đại và trong mọi mơ hình kinh tế là công

cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế-xã hội và đó được xem là vai trò quan trọng

bậc nhất của NSNN. Vai trò này về mặt chi tiết chúng ta có thể đề cập đến ở

những nội dung và những biểu hiện đa dạng khác nhau, song trên góc độ tổng

qt thì vai trò của NSNN được thể hiện qua các khía cạnh sau:

a. Ngân sách nhà nước đảm bảo nhu cầu chi tiêu của nhà nước

Mục tiêu của ngân sách nhà nước không phải để Nhà nước đạt được lợi

nhuận như các doanh nghiệp và cũng không phải để bảo vệ vị trí của mình



11



trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Ngân sách nhà nước ngoài việc

phải đảm bảo các nhu cầu chi tiêu của nhà nước để duy trì sự tồn tại của bộ

máy Nhà nước còn phải xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội để tạo ra môi

trường thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động.

b. Góp phần kích thích tăng trưởng kinh tế

Ngân sách nhà nước được sử dụng như là công cụ tác động vào cơ cấu

kinh tế nhằm đảm bảo cân đối hợp lý của cơ cấu kinh tế và sự ổn định của chu

kỳ kinh doanh. Trước xu thế phát triển mất cân đối của các ngành, lĩnh vực

trong nền kinh tế, thông qua quỹ ngân sách, Chính phủ có thể áp dụng các

chính sách ưu đãi, đầu tư vào các lĩnh vực mà tư nhân khơng muốn đầu tư vì

hiệu quả đầu tư thấp; hoặc qua các chính sách thuế bằng việc đánh thuế vào

những hàng hố, dịch vụ của tư nhân có khả năng thao túng trên thị trường;

đồng thời, áp dụng mức thuế suất ưu đãi đối với những hàng hố mà Chính

phủ khuyến dụng. Nhờ đó mà có thể đảm bảo sự cân đối, công bằng trong nền

kinh tế. ([4])

c. Điều tiết thị truờng, ổn định giá cả và kiểm soát lạm phát

Trong cơ chế thị truờng, cung cầu là những yếu tố chi phối mạnh mẽ

đến hoạt động của thị truờng. Sự mất cân đối giữa cung và cầu sẽ tác động

đến giá cả, làm giá cả tăng - giảm đột biến gây ra các biến động trên thị

trường. Để điều tiết cung - cầu, ổn định giá cả, nhằm bảo vệ lợi ích chính

đáng của nguời sản xuất và nguời tiêu dùng, nhà nuớc sử dụng ngân sách nhà

nước can thiệp vào thị truờng dưới các hình thức trực tiếp như: chi ngân sách

mua hàng hoá, dịch vụ để điều chỉnh tổng cầu; trợ giá, tài trợ vốn nhằm kích

cầu, kích cung... Đồng thời sử dụng thuế, một bộ phận của ngân sách nhà

nuớc để tác động gián tiếp vào cung - cầu thơng qua hạn chế hoặc khuyến

khích sản xuất và tiêu dùng. Bên cạnh đó, ngân sách nhà nước còn được sử

dụng để can thiệp vào thị trường tài chính thơng qua sử dụng các quỹ dự trữ



12



tài chính tác động vào cung cầu tiền tệ, trên cơ sở đó nhà nuớc thực hiện kiềm

chế và kiểm sốt lạm phát.([4])

d. Giải quyết các vấn đề xã hội

Với chức năng phân phối (phân phối tổng sản phẩm xã hội), ngân sách

nhà nước được xem là một công cụ quan trọng để điều tiết làm giảm bớt

khoảng cách chênh lệch về thu nhập, hạn chế sự phân hóa giữa các tầng lớp

dân cư và góp phần vào thực hiện cơng bằng xã hội. Vai trò này của ngân

sách nhà nước được thể hiện ở cả hai mặt thu và chi. Về thu, nhà nước sử

dụng thuế trực thu, thuế gián thu để điều tiết thu nhập của mọi tầng lớp

dân cư; về chi, thông qua các khoản chi tiêu ngân sách, nhà nước thực

hiện các chính sách phúc lợi và tạo ra những sản phẩm, dịch vụ công phục

vụ cho nhu cầu chung của toàn xã hội. ([4])

Như vậy, vai trò của ngân sách nhà nước là rất lớn; nó đảm bảo nhu cầu

chi tiêu của nhà nước và các cấp chính quyền địa phương để duy trì sự tồn tại

của bộ máy nhà nước, để xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội khơng vì mục

tiêu lợi nhuận, tăng tích luỹ cho ngân sách nhà nước, ngân sách địa phương

hàng năm. Tác động tích cực đến cơ cấu kinh tế nhằm đảm bảo cân đối hợp lý

các cơ cấu kinh tế, góp phần kích thích tăng trưởng kinh tế. Điều tiết thị

trường, ổn định giá cả và kiểm sốt lạm phát, đó là điều tiết cung - cầu, ổn

định giá cả, nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của nguời sản xuất và nguời tiêu

dùng, thông qua các hình thức trực tiếp như: chi ngân sách mua hàng hoá,

dịch vụ để điều chỉnh tổng cầu; trợ giá, bình ổn giá; sử dụng thuế để tác động

gián tiếp vào cung - cầu thông qua hạn chế hoặc khuyến khích. Giải quyết các

vấn đề xã hội như điều tiết làm giảm bớt khoảng cách chênh lệch về thu

nhập, hạn chế sự phân hóa giữa các tầng lớp dân cư và góp phần vào thực

hiện cơng bằng xã hội; thơng qua các khoản chi tiêu ngân sách mà thực

hiện các chính sách phúc lợi cộng cộng và an sinh xã hội…



13



1.1.2 Hệ thống ngân sách nhà nước

Hệ thống NSNN là tổng thể các cấp ngân sách có quan hệ hữu cơ với nhau

trong quá trình tổ chức huy động, quản lý các nguồn thu và thực hiện nhiệm

vụ chi của mỗi cấp ngân sách.

1.1.2.1. Tổ chức hệ thống NSNN

Hệ thống ngân sách nhà nước ở các nước đều được tổ chức cơ bản phù

hợp với hệ thống tổ chức bộ máy quản lý hành chính Nhà nước, nghĩa là mỗi

cấp chính quyền là một cấp ngân sách, tự lập, xét duyệt và quản lý ngân sách

cấp mình. Đối với Việt Nam, các cấp ngân sách cũng độc lập tương đối nhưng

lại có sự lồng ghép giữa các cấp ngân sách. Ngân sách cấp dưới là bộ phận

của ngân sách cấp trên (đây là đặc điểm riêng có trong quản lý phân cấp ngân

sách nhà nước ở Việt Nam những năm qua và cần được nghiên cứu đánh giá

để có thể sửa đổi thích hợp).([2], trang 218-219)

Theo hiến pháp 1992 của nước ta và luật NSNN năm 2002, hệ thống

ngân sách nhà nước được tổ chức bao gồm ngân sách trung ương và ngân

sách địa phương.

1.1.2.2. Các nguyên tắc tổ chức quản lý hệ thống NSNN

a. Nguyên tắc thống nhất, tập trung dân chủ

Điều 6 Hiến Pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992 quy định:

“Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà nước đều tổ chức

và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ”.

Trong hoạt động ngân sách điều này có tầm quan trọng đặc biệt. Một

mặt, nó bảo đảm sự thống nhất ý chí và lợi ích qua huy động và phân bổ ngân

sách để được những hàng hóa, dịch vụ cơng cộng có tính chất quốc gia. Mặt

khác, nó đảm bảo phát huy tính chủ động và sáng tạo của các địa phương, các

tổ chức, cá nhân trong đảm bảo giải quyết các vấn đề cụ thể, trong những

hoàn cảnh và cơ sở cụ thể.



14



Tập trung ở đây không phải là quyền lực thực sự tập trung hết ở trung

ương mà trên cơ sở phát huy dân chủ thực sự trong tổ chức hoạt động ngân

sách của các cấp chính quyền địa phương, các ngành, các đơn vị nhưng vẫn

đảm bảo tính thống nhất trong chính sách tài chính, ngân sách quốc gia.

Nguyên tắc này được quán triệt thông qua sự phân công và phối hợp chặt chẽ

giữa các cơ quan nhà nước trong phân cấp quản lý ở cả ba khâu của chu trình

ngân sách.

Chính vì vậy ngun tắc này bảo đảm: thống nhất hệ thống báo cáo và

các chi tiêu đánh giá trong việc thu thập và xử lý thông tin về NSNN; bảo

đảm tính thống nhất trong hệ thống NSNN, tăng cường quyền lực của chính

quyền trung ương; giảm chính sách can thiệp trực tiếp của trung ương đối với

quản lý ngân sách sách địa phương; tăng cường vai trò kiểm tra, giám sát của

chính quyền trung ương đối với chính quyền địa phương.

b. Ngun tắc cơng khai, minh bạch

Cơng khai có nghĩa là để cho mọi người biết, khơng giữ kín. Minh bạch

là làm cho mọi việc trở nên rõ ràng, dể hiểu, sáng sủa, không thể nhầm lẫn

được. Quản lý ngân sách đòi hỏi phải cơng khai, minh bạch xuất phát từ đòi

hỏi chính đáng của người dân với tư cách là người nộp thuế cho nhà nước.

Việc nhà nước có đảm bảo trách nhiệm trước dân về huy động sử dụng

các nguồn thu hay không là phụ thuộc vào tính minh bạch của ngân sách.

Điều này cũng rất quan trọng đối với nhà tài trợ, những người hiển nhiên sẽ

khơng hài lòng nếu sau khi hỗ trợ tài chính cho một quốc gia lại khơng có đủ

thơng tin về việc sử dụng nó vào đâu, như thế nào? Những nhà đầu tư cũng

cần có sự minh bạch về ngân sách để có thể đưa ra các quyết định đầu tư, cho vay…

Luật ngân sách của Việt Nam cũng đã quy định theo hướng tiếp cận với

các quy tắc về minh bạch ngân sách trên ở cả ba khâu của chu trình ngân

sách. Các cấp, các đơn vị dự toán, các tổ chức, cá nhân được NSNN hỗ trợ



15



phải công khai theo các mẫu đã được Bộ Tài chính quy định. Hình thức cơng

khai chủ yếu là: thơng báo bằng văn bản cho các cơ quan hữu quan, phát hành

ấn phẩm; công khai trên trang thông tin điện tử của Bộ Tài chính… Thời gian

cơng khai cũng được quy định rõ đối với từng cấp ngân sách. Các cơ quan

như: Tài chính, kho bạc nhà nước, các cơ quan thu của nhà nước phải niêm

yết công khai quy trình, thủ tục tại nơi giao dịch. Các tài liệu trình Quốc hội,

Hội đồng nhân dân về dự tốn và phân bổ ngân sách được quy định đầy đủ, rõ

ràng theo Quy chế lập, thẩm tra, trình Quốc hội quyết định dự toán NSNN,

phân bổ ngân sách trung ương và phê chuẩn quyết tốn NSNN. Chính phủ

ban hành Quy chế xem xét, quyết định dự toán và phân bổ ngân sách địa

phương, phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương. Chính phủ quy định cụ

thể việc cơng khai ngân sách.

c. Nguyên tắc đảm bảo cân đối NSNN

Cân đối NSNN ngoài sự cân bằng về thu, chi còn là sự hài hòa, hợp lý

trong cơ cấu thu, chi giữa các khoản thu, chi; các lĩnh vực; các ngành; các cấp

chính quyền.

Đảm bảo cân đối ngân sách là một đòi hỏi có tính chất khách quan xuất

phát từ vai trò nhà nước trong can thiệp vào nền kinh tế thị trường với mục

tiêu ổn định, hiệu quả và công bằng. Thông thường, khi thực hiện ngân sách

các khoản thu dự kiến sẽ không đủ để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.

Vì vậy tính tốn nhu cầu chi sát với khả năng thu trong khi lập ngân sách là

rất quan trọng. Các khoản chi chỉ được phép thực hiện khi đã có đủ các nguồn

thu bù đắp.

Đối với Việt Nam nguyên tắc này đã được quán triệt chặt chẽ trong quá

trình quản lý ngân sách trên cả ba khâu: lập dự toán, chấp hành dự toán và

quyết toán ngân sách cũng như quá trình phân cấp ngân sách cho các địa

phương.



16



Chẳng hạn như trong lập dự toán cần đảm bảo quy trình khoa học khi

xem xét thứ tự ưu tiên của các khoản chi, cắt giảm các khoản chi chưa thật

cần thiết. Khi đưa ra chính sách, chế độ mới Nhà nước cần tính tốn kỹ lưỡng

các nguồn thu để thực hiện thành cơng chính sách đó, tránh tình trạng vì chính

sách mới mà phải “san sẻ” ngân sách vốn có hay buộc phải vay nợ, in tiền. Cố

gắng khai thác hợp lý các nguồn thu, tăng thu cho ngân sách mà vẫn đảm bảo

công bằng và nuôi dưỡng nguồn thu.

Các cấp chính quyền cần được phân cấp nguồn thu, giao nhiệm vụ chi

cụ thể. Nhiệm vụ chi thuộc ngân sách cấp nào do ngân sách cấp đó đảm bảo;

việc ban hành các chính sách, chế độ mới làm tăng chi ngân sách phải có

nguồn tài chính phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách từng cấp. (Các

nguyên tắc tại [1], trang 88-93)

1.1.3. Ngân sách địa phương

Ngân sách địa phương là một bộ phận của ngân sách nhà nước và ngân

sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội

đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân theo quy định của Luật Tổ chức Hội đồng

nhân dân và Ủy ban nhân dân, theo quy định hiện hành. Chính vì vậy mà khái

niệm, đặc điểm, vai trò của ngân sách địa phương cũng khơng ngồi những

khái niệm, đặc điểm, vai trò của ngân sách nhà nước như đã trình bày ở trên.

Tuy nhiên về phạm vi ngân sách hẹp hơn, được giới hạn theo phạm vi địa bàn

đơn vị hành chính, giới hạn bởi phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi theo phân

cấp ngân sách đối với địa phương đó.

Qua nghiên cứu về ngân sách nhà nước, ta có thể rút ra khái niệm, đặc

điểm, vai trò của ngân sách địa phương như sau:

1.1.3.1 Khái niệm ngân sách địa phương

Trên cơ sở khái niệm của Ngân sách nhà nước ta có thể đưa ra một khái

niệm về ngân sách địa phương đó là: ngân sách địa phương là toàn bộ các



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×