Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 Đánh giá hoạt động đẩy mạnh cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng No & PTNT quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng

3 Đánh giá hoạt động đẩy mạnh cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng No & PTNT quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng

Tải bản đầy đủ - 0trang

62



- CVTD góp phần nâng cao hình ảnh của chi nhánh và tăng khả năng huy

động vốn. Hoạt động CVTD có đặc điểm là số lượng khách hàng lớn, vì thế

khi hoạt động này tăng trưởng mạnh cả về số lượng và chất lượng, có nghĩa là

khách hàng ngày càng cảm thấy tin tưởng, hài lòng về hoạt động của chi

nhánh và họ sẽ ưa thích sử dụng các dịch vụ của chi nhánh hơn. Những khách

hàng này là kênh quảng cáo rất hữu hiệu hình ảnh của chi nhánh. Điều này

gián tiếp làm tăng khả năng huy động vốn và phát triển các dịch vụ ngân hàng

khác.

- Sản phẩm CVTD của chi nhánh phần nào đáp ứng được nhu cầu vay

của người tiêu dùng. Việc phát triển sản phẩm cho vay của chi nhánh dựa vào

thị trường, khi nhu cầu tiêu dùng mới xuất hiện và tiềm năng thì chi nhánh sẽ

nghiên cứu và tạo ra sản phẩm cho vay thích hợp, đáp ứng nhu cầu đó. Việc

phát triển và đa dạng hóa danh mục sản phẩm CVTD cũng góp phần nâng cao

tính cạnh tranh cũng như phân tán được rủi ro cho chi nhánh.

- Chất lượng CVTD tại chi nhánh hiện nay tương đối tốt. Nhờ việc chủ

động và linh hoạt trong cơng tác xử lí nợ xấu đã giúp nâng cao hiệu quả hoạt

động CVTD. Điều này chứng tỏ rằng vốn vay của chi nhánh phát huy được

tác dụng, có hiệu quả, được sử dụng đúng mục đích và còn cho thấy hoạt

động kinh doanh của chi nhánh phát triển, thu nhập từ hoạt động CVTD ngày

càng tăng.

- CVTD góp phần làm tăng kỹ năng nghiệp vụ của bộ phận tín dụng. Khi

thực hiện nghiệp vụ CVTD, CBTD phải tìm kiếm và tiếp xúc trực tiếp với

khách hàng nên các kỹ năng thương thuyết, thẩm định và duyệt hồ sơ là rất

quan trọng. Các hoạt động marketing cũng phải được phát triển không ngừng,

không chỉ ở bề ngồi ngân hàng mà còn trong cách ứng xử, giao tiếp của mỗi

CBTD nói riêng và của tồn bộ nhân viên ngân hàng nói chung. Do khách

hàng của CVTD là cá nhân, hộ gia đình nên khả năng am hiểu về ngân hàng



63



và các tiện ích của dịch vụ CVTD còn hạn chế, đem lại tâm lý e ngại khi đến

vay ngân hàng. Nên hơn ai hết, các CBTD của ngân hàng phải tiếp cận khách

hàng, hướng dẫn khách hàng sử dụng sản phẩm của ngân hàng mình, từ đó

giúp cho kỹ năng nghiệp vụ của các CBTD không ngừng nâng lên.

- Một số thành tựu khác: Ngoài những thành quả nêu trên, hoạt động

CVTD tại chi nhánh còn đạt được một số kết quả sau:

+ Hoạt động CVTD góp phần ổn định và cải thiện đời sống của nhân

dân địa phương, tăng sức mua của xã hội, kích thích phát triển sản xuất, kích

cầu tiêu dùng tại địa phương.

+ CVTD giúp cho một bộ phận dân cư làm quen và sử dụng các sản

phẩm dịch vụ của chi nhánh, giúp tạo cho người dân thói quen đến giao dịch

với ngân hàng.

2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân

2.3.2.1 Những hạn chế

Qua phân tích thực trạng đẩy mạnh hoạt động CVTD ta thấy dư nợ

CVTD của chi nhánh vẫn chiếm tỷ trọng khiêm tốn trong tổng hoạt động cho

vay, chưa tương xứng với tiềm năng vốn có. Khả năng đẩy mạnh CVTD còn

rất lớn tại địa bàn quận nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng. Trong q

trình thực hiện CVTD thì chi nhánh còn vấp phải một số tồn tại sau mà việc

giải quyết nó có ý nghĩa quan trọng trong việc đẩy mạnh hoạt động CVTD

của chi nhánh:

- Đối tượng cho vay hạn hẹp: Chi nhánh chỉ tập trung thực hiện cho vay

các đối tượng là cá nhân, hộ gia đình và CBCNV nhà nước có thu nhập ổn

định, không cho vay đối với CBCNV doanh nghiệp và CB hưu trí. Hơn nữa,

chi nhánh chỉ thực hiện cho vay đối với những khách hàng có hộ khẩu thường

trú tại địa bàn, điều kiện ràng buộc này đã và sẽ loại trừ rất nhiều khách hàng



64



tiềm năng tốt (những người có thu nhập cao và ổn định, làm việc tại địa bàn

của chi nhánh nhưng khơng có hộ khẩu thường trú).

- Về thời hạn các khoản vay: Hiện tại chi nhánh chưa thực hiện hình thức

CVTD dài hạn và chủ yếu là CVTD ngắn hạn. Đây là một hạn chế vì các hình

thức vay phục vụ nhu cầu xây dựng mới, sửa chữa, mua nhà ở…chiếm tỷ

trọng cao trong dư nợ CVTD của chi nhánh, mà các hình thức này khách hàng

thường muốn có nguồn vốn có qui mơ vốn lớn và thời hạn sử dụng dài. Do

vậy khi một khách hàng chứng minh được thu nhập của họ cao và ổn định thì

chi nhánh cũng nên gia hạn thêm thời hạn cho vay.

- Các sản phẩm CVTD chưa có sức hấp dẫn với khách hàng. Việc tạo ra

nhiều đặc điểm nổi bật cho sản phẩm sẽ càng làm tăng tính hấp dẫn của nó đối

với người tiêu dùng, nhưng việc phát triển sản phẩm của Ngân hàng No &

PTNT quận Cẩm Lệ lại chưa thực sự hấp dẫn đối với khách hàng. Ở chi nhánh

hiện nay mặc dù đã triển khai nhiều loại sản phẩm CVTD nhưng trên thực tế

chỉ tập trung vào hai loại sản phẩm CVTD chính là xây dựng mới, sửa chữa,

mua nhà ở và mua sắm phương tiện đi lại, vật dụng gia đình, các loại hình cho

vay khác chiếm tỷ trọng rất nhỏ, gần như không đáng kể. Hạn chế này đã làm

giảm đáng kể khả năng đẩy mạnh hoạt động CVTD của chi nhánh. Chi nhánh

cần có những cải thiện về cơ cấu sản phẩm trong thời gian tới để khẳng định

ưu thế của mình trong lĩnh vực CVTD trên thị trường.

- Mức CVTD của chi nhánh dựa trên giá trị tài sản đảm bảo còn thấp, mỗi

khoản cho vay tối đa 70% giá trị tài sản đảm bảo. Số tiền này còn nhỏ so với

nhu cầu vay cả giá trị tài sản của khách hàng, do đó đã bỏ qua cơ hội cho vay

đối với nhiều khách hàng, đặc biệt là các khách hàng có khả năng trả nợ cao

trong tương lai và nhu cầu vốn lớn ở hiện tại.

- Về cơ cấu tổ chức và đội ngũ nhân sự của phòng tín dụng còn thiếu,

trình độ một số cán bộ vẫn còn bất cập thiếu tính chun nghiệp trong quản trị



65



và hoạt động của một ngân hàng hiện đại. Bộ phận tín dụng của chi nhánh

hiện nay quá ít để phát triển và đẩy mạnh cho vay một cách hiệu quả.

- Cơng nghệ Ngân hàng mặc dù có nhiều tiến bộ nhưng vẫn chưa đuổi

kịp tốc độ phát triển chung của xã hội. Trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật chưa

đồng đều, cơ sở cơng nghệ vi tính tuy đầu tư nhiều nhưng chưa sử dụng triệt

để công suất của máy, quản lý khai thác dữ liệu qua mạng và lập trình ứng

dụng cho chương trình chưa ổn định.

- Hoạt động marketing trong CVTD chưa đáp ứng được yêu cầu phát

triển. Hoạt động marketing đã trở nên thiết yếu đối với mọi loại hình ngân

hàng trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Nó giúp các ngân hàng tìm kiếm

được nguồn khách hàng, mở rộng hoạt động và nâng cao khả năng cạnh tranh.

Nhưng một thực tế là tại NH No & PTNT quận Cẩm Lệ, tuy CVTD là một

hoạt động đang được đầu tư phát triển nhưng hoạt động marketing trong lĩnh

vực này lại chưa được quan tâm tương xứng, không đáp ứng được yêu cầu đặt

ra. Hoạt động marketing của chi nhánh chưa được chuyên nghiệp hóa, chưa

có bộ phận chuyên trách thực hiện các chiến lược marketing, cộng với hoạt

động marketing trong lĩnh vực này còn yếu. Đây là nguyên nhân chính khiến

cho lượng khách hàng mới sử dụng sản phẩm CVTD của chi nhánh vẫn chưa

nhiều, đồng thời lượng khách hàng cũ thì khơng ổn định do chi nhánh chưa có

chính sách giữ khách hàng. Điều này làm cho dư nợ CVTD vẫn chưa cao như

ta đã phân tích.

Mặc dù còn nhiều tồn tại, song với ý chí quyết tâm cao của tồn thể

CBCNV Ngân hàng No & PTNT quận Cẩm Lệ cố gắng khắc phục những yếu

kém nói trên, tiếp tục nâng cao năng lực phục vụ, góp phần vào tiến trình đổi

mới và phát triển của Ngân hàng No & PTNT thành phố Đà Nẵng.

2.3.2.2 Nguyên nhân



66



Trong những nguyên nhân khiến hoạt động CVTD của Ngân hàng No &

PTNT quận Cẩm Lệ còn hạn chế có cả những nguyên nhân khách quan từ bên

ngoài và nguyên nhân từ bản thân ngân hàng.

Nguyên nhân khách quan

- Thứ nhất: Môi trường kinh tế chưa thật sự ổn định. Sự bất ổn của nền

kinh tế thế giới đã ảnh hưởng không nhỏ tới nền kinh tế Việt Nam. Suy thoái

kinh tế và lạm phát liên tục tăng cao làm cho chi phí đầu vào tăng nên lãi suất

cho vay đầu ra tăng, ảnh hưởng trực tiếp tới việc phát triển tín dụng của ngân

hàng, đặc biệt là CVTD. Mặc dù trong những năm gần đây, sau cuộc khủng

hoảng, nền kinh tế nước ta có sự tăng trưởng cao nhưng còn tiềm ẩn nhiều bất

ổn (giá vàng và USD diễn biến bất thường, thị trường bất động sản nằm ngoài

tầm quản lý dẫn đến hiện tượng đầu cơ, chỉ số giá tiêu dùng tăng cao,...).

Chính những yếu tố đó đã làm cho thu nhập của một bộ phận dân cư giảm

xuống, cầu tiêu dùng do đó cũng giảm theo.

- Thứ hai: Hoạt động CVTD mới chỉ xuất hiện ở Việt Nam từ năm 1993

và chỉ thực sự phát triển từ năm 2002. Do đó, điều kiện pháp lý cho sự tồn tại

và phát triển của nghiệp vụ này còn chung chung và chưa rõ ràng. Hiện nay

vẫn chưa có một văn bản quy phạm pháp luật mang tính thống nhất cụ thể

hướng dẫn thực hiện nghiệp vụ này. Như chúng ta đã biết bất kỳ hoạt động

kinh doanh nào trong nền kinh tế đều phải chịu sự điều chỉnh của luật pháp.

Các quy định điều chỉnh việc cung cấp dịch vụ CVTD hiện nay do nhiều cấp

ban hành, bao gồm các nghị định của Chính phủ, quyết định, thông tư hướng

dẫn của NHNN và các quy định, quy trình nghiệp vụ của các NHTM. Nhìn

chung, cơ sở pháp luật về CVTD còn thiếu nhiều quy định cần thiết, các quy

định thiếu cụ thể và khơng thích hợp. Các chính sách, luật lệ của NHNN cũng

gây hạn chế đáng kể cho sự phát triển của hoạt động CVTD. Các quy định

thiên về thủ tục, giấy tờ khiến cho các ngân hàng dù muốn vẫn khó lòng đơn



67



giản các quy trình, thủ tục cho khách hàng. Để ra một sản phẩm mới, các ngân

hàng cũng phải trải qua rất nhiều bước nhiều khâu xin phép, trình duyệt,…

Điều đó khiến các NHTM khơng n tâm đầu tư phát triển nó một cách mạnh

mẽ vì lo sợ sự thay đổi của cơ chế chính sách. Một yêu cầu cấp thiết đặt ra

hiện nay là cần có một cơ chế đơn giản, gọn nhẹ hơn, thống nhất đồng bộ và

dễ hiểu, đảm bảo lợi ích của khách hàng. Điều này đòi hỏi phải sớm điều

chỉnh, tiến tới hình thành mơi trường pháp lý đầy đủ, đồng bộ và thống nhất

giữa các loại hình dịch vụ.

- Thứ ba: Có thể thấy rõ, CVTD là một hình thức khá mới mẻ đối với thị

trường tài chính Việt Nam. Tình trạng quy mơ hoạt động CVTD còn thấp, khả

năng mở rộng các nghiệp vụ cung ứng là khó khăn, dẫn đến hạn chế trong hoạt

động CVTD còn có một ngun nhân chính bắt nguồn từ thói quen và tâm lý

của người Việt Nam. Họ chưa quen với việc đi vay để tiêu dùng, vì họ thường

chỉ chi tiêu trên số tiền kiếm ra chứ không mạo hiểm đi vay để tiêu rồi “ngồi

trên đống nợ”. Nhiều người khi có nhu cầu mua sắm, sửa chữa nhà cửa hay

tiêu dùng khác đều không nghĩ đến việc tìm đến ngân hàng để tài trợ cho nhu

cầu của mình. Đơn giản vì họ khơng thích vay ngân hàng hay ngại tiếp xúc với

nguồn vốn của ngân hàng vì cho rằng nó phức tạp, đồng thời họ có tâm lý e

ngại trong việc công khai thu nhập với ngân hàng, ngại rủi ro khi giao dịch tiền

bạc và phiền phức thủ tục. Nguồn tài chính chủ yếu để xây dựng nhà ở, mua

sắm tài sản chủ yếu là các nguồn khơng chính thức bao gồm các khoản tiền gửi

tiết kiệm, vay từ người thân trong gia đình và bạn bè. Chính điều này đã gây

khó khăn cho ngân hàng trong việc tìm kiếm nguồn khách hàng và mở rộng thị

trường. Như vậy, để đẩy mạnh hoạt động CVTD, các NHTM nói chung và

Ngân hàng No & PTNT quận Cẩm Lệ nói riêng phải tìm ra được biện pháp

xóa bỏ rào cản tâm lý ấy.



68



- Thứ tư: Sự cạnh tranh của các NHTM và các các tổ chức tín dụng khác

trên địa bàn ngày càng gay gắt. Do ảnh hưởng của suy thối kinh tế tồn cầu,

các NHTM đã thắt chặt tín dụng cho vay năm 2008, đặc biệt là cho vay đầu tư

bất động sản. Tuy nhiên với tình hình kinh tế rất khả quan sau năm 2009 thì thị

trường CVTD năm 2010 hết sức sơi động với gói hỗ trợ lãi suất của Chính

phủ. Mặt khác, địa bàn Đà Nẵng là khu vực đầy tiềm năng phát triển nên sự

cạnh tranh quyết liệt giữa các NHTM là điều không thể tránh khỏi. Hơn nữa,

một định hướng chung được các NHTM đặt ra là phát triển thành ngân hàng đa

năng, trong đó tập trung vào hoạt động ngân hàng bán lẻ. Mở rộng hoạt động

CVTD vì thế đang là cái đích mà nhiều ngân hàng nhắm tới. Các ngân hàng

cạnh tranh nhau bằng cách đưa ra các chính sách linh hoạt về lãi suất, sản

phẩm đa dạng,...Đặc biệt, có nhiều NHTM rất chú trọng đối với mở rộng

CVTD với nhiều sản phẩm đa dạng phục vụ cho người tiêu dùng vì vậy ảnh

hưởng rất lớn đến doanh số CVTD của chi nhánh trên địa bàn.

Nguyên nhân chủ quan

Bên cạnh những nguyên nhân khách quan, hoạt động CVTD của Ngân

hàng No & PTNT quận Cẩm Lệ còn có những hạn chế xuất phát từ những

nguyên nhân nội tại, bao gồm:

- Ngân hàng No & PTNT quận Cẩm Lệ với lợi thế rất lớn trong việc cung

cấp dịch vụ bán buôn, nên đã tận dụng khá tốt lợi thế này. Từ đó tất yếu hình

thành tác phong coi trọng bán bn và xem thường bán lẻ. Sự chuyển biến về

tư duy và chiến lược kinh doanh mới thực hiện gần đây, tuy nhiên sự chuyển

biến đó chưa mang tính hệ thống, nói cách khác chưa thấm nhuần trong nhận

thức của tồn thể nhân viên chi nhánh. Đối với đại đa số nhân viên, đặc biệt là

những nhân viên lâu năm họ chỉ quan tâm phục vụ nhóm khách hàng là tập

đồn lớn, các tổng công ty và thường xem nhẹ khách hàng cá nhân. Thực tế tại

chi nhánh lâu nay hầu như là bán buôn chủ yếu nên việc cho vay bán lẻ chỉ



69



mới bắt đầu, sự chú trọng chưa cao, kinh nghiệm trong lĩnh vực này chưa

nhiều, bên cạnh đó cơ chế quản lý của NHTM nhà nước còn nặng nề, chưa có

sự linh hoạt. Cho nên mặc dù vài năm trở lại đây CVTD tại chi nhánh đã được

sự quan tâm của Ban lãnh đạo, nhưng vẫn định hướng chủ yếu theo hoạt động

thế mạnh của chi nhánh là các doanh nghiệp, còn đối với nhu cầu tín dụng của

cá nhân và hộ gia đình thì chưa thực sự được chú trọng. Những cuộc điều tra,

khảo sát về nhu cầu tín dụng của người dân trên địa bàn còn ít, chưa được thực

hiện một cách chu đáo.

- Về cơ cấu tổ chức và đội ngũ nhân sự của phòng tín dụng còn thiếu. Bộ

phận tín dụng của Ngân hàng No & PTNT quận Cẩm Lệ hiện nay bao gồm 1

trưởng phòng, 1 phó phòng tín dụng và 4 CBTD, tại ba phòng giao dịch Hòa

Phát, Khuê Trung và Hòa An chỉ có 3 CBTD. Như vậy, số lượng CBTD q ít

cho mảng tín dụng nói chung và hoạt động CVTD nói riêng. Nếu muốn mở

rộng hoạt động này, việc tăng thêm số lượng nhân sự cho mảng tín dụng cá

nhân là yêu cầu cấp thiết. Hơn nữa, mạng lưới phòng giao dịch của chi nhánh

còn mỏng, phân bố khơng đều, chủ yếu tập trung ở địa bàn. Điều này làm hạn

chế khả năng tiếp cận với nguồn khách hàng ở các quận huyện khác trên địa

bàn thành phố Đà Nẵng.

- Công tác marketing, thông tin tuyên truyền, quảng bá hình ảnh, thương

hiệu chi nhánh còn yếu, thiếu chun nghiệp, tỉ lệ khách hàng cá nhân tiếp

cận và sử dụng sản phẩm CVTD của chi nhánh còn hạn chế. Mặc dù chi

nhánh đã có định hướng phát triển hoạt động ngân hàng bán lẻ, nhưng chưa

có được sự đầu tư thoả đáng cho hoạt động tiếp thị và quảng cáo cho các dịch

vụ mới. Những kênh thông tin này thực sự chưa gần gũi đối với khách hàng,

đặc biệt là các khách hàng cá nhân ở xa khu vực trung tâm hoặc khơng có

điều kiện tiếp cận. Các hoạt động quảng bá khác như quảng cáo trên truyền

hình, thơng qua tờ rơi, các chiến dịch quảng cáo… hầu như chưa được khai



70



thác. Điều này làm hạn chế sự mở rộng về quy mô khách hàng của chi nhánh.

Hoạt động marketing của bộ phận tín dụng chỉ do CBTD đảm trách, song

song với theo dõi quản lý hồ sơ cho vay họ còn phải tiếp thị mở rộng thị

trường.



Kết luận chương 2

Qua nghiên cứu, tìm hiểu thực tế về cơng tác đẩy mạnh cho vay tiêu

dùng tại Ngân hàng No & PTNT quận Cẩm Lệ trong 3 năm 2009 – 2011, tôi

nhận thấy chi nhánh đã đạt được các kết quả khả quan. Mặc dù trong bối cảnh

nền kinh tế không ổn định nhưng dư nợ và lợi nhuận từ hoạt động cho vay

tiêu dùng vẫn tăng trưởng qua các năm, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt



71



động kinh doanh tại chi nhánh. Đây là một nỗ lực rất đáng ghi nhận của tồn

thể CBCNV chi nhánh.

Tuy nhiên, tơi cũng phát hiện ra những điểm còn tồn tại trong hoạt động

cho vay tiêu dùng tại chi nhánh mà xuất phát từ cả những nguyên nhân chủ

quan lẫn khách quan. Vì thế, chi nhánh cần tiếp tục cố gắng phát huy các ưu

điểm đã có cũng như khắc phục các hạn chế trong thời gian đến để hoạt động

cho vay tiêu dùng đạt hiệu quả cao hơn.



Chương 3

GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG

TẠI NH No & PTNT QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

3.1. Định hướng đẩy mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng No

& PTNT quận Cẩm Lệ trong thời gian tới



72



3.1.1 Định hướng chung cho chiến lược phát triển của Ngân hàng No &

PTNT quận Cẩm Lệ

Kể từ khi nước ta bắt đầu hội nhập vào nền kinh tế thế giới cho đến nay,

mục tiêu phát triển của Ngân hàng No & PTNT quận Cẩm Lệ vẫn là kiên định

với chiến lược trở thành “Ngân hàng bán lẻ hàng đầu Việt Nam”, chú trọng

tập trung vào tiếp thị và phục vụ các đối tượng khách hàng là các doanh

nghiệp vừa và nhỏ và các khách hàng cá nhân thuộc tầng lớp trung lưu. Để

hồn thành và duy trì mục tiêu đó, chi nhánh đã không ngừng phấn đấu và

đưa ra những định hướng phát triển mới cho chính mình.

Mục tiêu tổng qt của chi nhánh định hướng trong năm 2012 là “ Bám

sát mục tiêu của toàn ngành, thực hiện thật tốt những nội dung cơ bản của

Ngân hàng No & PTNT Việt Nam. Tiếp tục duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý,

đảm bảo cân đối, an toàn khả năng sinh lời, nâng cao chất lượng dịch vụ ngân

hàng, tập trung đầu tư vào đào tạo nguồn nhân lực, đầu tư đổi mới cơng nghệ

ngân hàng phù hợp với hiện đại hóa, đủ năng lực hội nhập. Nâng cao năng lực

tài chính và phát triển thương hiệu trên cơ sở đẩy mạnh và kết hợp với văn

hóa doanh nghiệp”.

Ngân hàng No & PTNT quận Cẩm Lệ cũng sẽ chú trọng vào phát triển

mạng lưới hoạt động của mình hình thành một hệ thống rộng khắp trên những

địa bàn lân cận nhằm đưa các sản phẩm dịch vụ của chi nhánh đến với công

chúng rộng rãi hơn. Tuy nhiên, hoạt động này cũng được chi nhánh cân nhắc

cẩn trọng và chỉ tập trung mở rộng chi nhánh, phòng giao dịch tại các địa

phương có kinh tế phát triển, đầu mối giao thơng quan trọng. Bên cạnh đó,

việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực luôn được chi nhánh coi như một

công tác trọng yếu. Các chương trình tuyển dụng và đào tạo ln hướng tới

mục tiêu hình thành một đội ngũ nhân viên có đầy đủ kiến thức và năng lực

để tiếp cận công nghệ mới trong lĩnh vực ngân hàng.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 Đánh giá hoạt động đẩy mạnh cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng No & PTNT quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×