Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Hoạt động cho vay tiêu dùng của NHTM

1 Hoạt động cho vay tiêu dùng của NHTM

Tải bản đầy đủ - 0trang

5



này làm cho chi phí tính trên một đơn vị tiền tệ CVTD cao hơn so với các loại

hình cho vay khác.

- Nhu cầu của khách hàng thường phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế. Đây là

món vay rất nhạy cảm với tình trạng “sức khoẻ” của nền kinh tế. Khi nền kinh

tế mở rộng, tăng trưởng tốt và ổn định thì nhu cầu vay tiêu dùng tăng lên, vì

mọi người cảm thấy lạc quan về tương lai nên sẵn sàng chi tiêu cho cuộc sống

của mình. Và ngược lại, khi nền kinh tế lâm vào suy thoái, tâm lý chung của

các cá nhân là không tin tưởng về cuộc sống tương lai, lo sợ tình trạng thất

nghiệp xảy ra, nên họ sẽ tiết kiệm trong việc chi tiêu của mình và hạn chế tối

đa việc vay mượn ngân hàng.

- Nhu cầu tiêu dùng của khách hàng hầu như ít co giãn với lãi suất.

Thông thường, người đi vay quan tâm đến số tiền phải thanh toán hơn là lãi

suất mà họ phải chịu. Vì đây là những món vay tiêu dùng, khơng vì mục đích

kinh doanh nên người vay thường ít quan tâm đến chi phí phải trả này, hơn

thế nữa, đối tượng vay ở đây lại là những người lao động bình thường, họ ít

am hiểu về các vấn đề của ngân hàng như lãi suất,… điều quan tâm của họ

đơn giản là món vay có thỏa mãn được nhu cầu của họ không và số tiền họ

phải trả mỗi kỳ là bao nhiêu.

- Chất lượng các thông tin tài chính của khách hàng vay thường khơng

cao. Thơng tin tài chính của cá nhân và hộ gia đình thường khó đầy đủ và rõ

ràng như thơng tin về doanh nghiệp (cơng khai thơng qua báo cáo tài chính),

dẫn đến rủi ro đạo đức và rủi ro thông tin khơng cân xứng. Các cá nhân có thể

tìm cách trốn tránh khơng trả các khoản vay cho dù có khả năng thanh tốn.

Do đó, tư cách của khách hàng là yếu tố khó xác định, song lại rất quan trọng,

quyết định sự hoàn trả của khoản vay.

- Mức thu nhập và trình độ học vấn là hai biến số có quan hệ rất mật

thiết với nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng. Nguồn trả nợ của người đi



6



vay có thể biến động lớn, phụ thuộc vào quá trình làm việc, kỹ năng và kinh

nghiệm đối với công việc của những người này. Nguồn trả nợ chủ yếu là từ

thu nhập ổn định tại thời điểm hiện tại của người vay. Do vậy, nếu người vay

gặp vấn đề về sức khoẻ, mất việc làm hay gặp các biến cố bất ngờ ảnh hưởng

đến thu nhập hàng tháng, ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong thu hồi nợ. Đây là

rủi ro khó lường trước, khác với món vay kinh doanh ta có thể hạn chế được

thơng qua nâng cao chất lượng thẩm định dự án.

1.1.2 Phân loại cho vay tiêu dùng

1.1.2.1 Căn cứ vào mục đích vay

- Cho vay tiêu dùng cư trú: Đây là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho

nhu cầu mua sắm, xây dựng, cải tạo nhà ở.

- Cho vay tiêu dùng phi cư trú: Đây là các khoản cho vay tài trợ cho việc

trang trải các chi phí mua sắm xe cộ, đồ dùng sinh hoạt, chi phí y tế, học

hành, giải trí, du lịch,...

1.1.2.2 Căn cứ vào phương thức hoàn trả

- Cho vay tiêu dùng trả góp: Đây là hình thức cho vay mà người đi vay

trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng nhiều lần theo những kỳ hạn nhất định trong

thời hạn vay (thường áp dụng cho món vay lớn, thời gian vay dài).

- Cho vay tiêu dùng phi trả góp: Đây là phương thức vay mà khách hàng

thanh toán nợ cho ngân hàng chỉ một lần khi đến hạn (thường áp dụng cho

món vay nhỏ, thời gian vay ngắn). Đối với loại cho vay này, ngân hàng cần

chú ý một số nội dung sau:

+ Loại tài sản được tài trợ

+ Số tiền phải trả trước (số tiền mà khách hàng tham gia góp vào để

hình thành tài sản), hay nói cách khác ngân hàng chỉ nên cho vay một phần tài

sản.

+ Chi phí tài trợ



7



+ Điều khoản thanh tốn

- Cho vay tiêu dùng tuần hồn: Đây là hình thức cho vay mà ngân hàng

cho phép khách hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành loại séc được phép

thấu chi dựa trên tài khoản vãng lai. Với phương thức này, thời hạn tín dụng

phải được thỏa thuận trước căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập kiếm

được từng kỳ, khách hàng được ngân hàng cho phép vay và trả nợ nhiều kỳ

một cách tuần hồn, theo một hạn mức tín dụng nhất định.

- Cho vay theo thẻ tín dụng: Ngân hàng cung cấp thẻ tín dụng cho khách

hàng. Khách hàng được vay tiền qua việc mua hàng bằng thẻ tín dụng với hạn

mức tối đa được ngân hàng cho phép. Số tiền này được trả một lần hoặc trả

dần với lãi suất tương đối cao.

1.1.2.3 Căn cứ vào nguồn gốc của khoản nợ

- Cho vay tiêu dùng gián tiếp: Đây là hình thức cho vay trong đó ngân

hàng mua các khoản nợ phát sinh do những công ty bán lẻ đã bán chịu hàng

hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng. Các hình thức mua nợ áp dụng trong trường

hợp này có thể là truy đòi tồn bộ, truy đòi hạn chế, miễn truy đòi, tài trợ có

mua lại.

NGÂN HÀNG

(6)

(

6)



(4)

(1) 4)

(5) 1)

5)



(

(

(



CƠNG TY BÁN LẺ



(2)



(3)

(



NGƯỜI TIÊU DÙNG

2)



(

3)



Sơ đồ 1.1a: Quy trình cho vay tiêu dùng gián tiếp

Trong đó:

(1) Ngân hàng và công ty bán lẻ ký kết hợp đồng mua bán nợ.

(2) Công ty bán lẻ và người tiêu dùng ký hợp đồng mua bán chịu hàng hóa.



8



(3) Cơng ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng.

(4) Công ty bán lẻ bán bộ chứng bán chịu hàng hóa cho ngân hàng.

(5) Ngân hàng thanh tốn tiền cho cơng ty bán lẻ.

(6) Người tiêu dùng thanh tốn tiền trả góp cho ngân hàng.

Cho vay tiêu dùng gián tiếp cho phép ngân hàng tăng doanh số cho vay

tiêu dùng dễ dàng, tiết kiệm chi phí cho vay, mở ra khả năng quan hệ rộng với

khách hàng để phát triển hoạt động ngân hàng khác. Tuy nhiên, ngân hàng

không tiếp xúc trực tiếp với khách hàng, nên thiếu sự kiểm soát đối với công

ty bán hàng. Hơn nữa, nghiệp vụ khá phức tạp nên ít ngân hàng mở rộng cho

vay tiêu dùng theo phương thức này.

- Cho vay tiêu dùng trực tiếp: Đây là khoản cho vay mà ngân hàng tiếp

xúc trực tiếp với khách hàng để cho vay và thu nợ.

NGÂN HÀNG

(1)



(5)

(

6)



(

(

(3) 4)

1) (

5)



CÔNG TY BÁN LẺ

(4)



(2)



NGƯỜI TIÊU DÙNG



(

2)



(

3)



Sơ đồ 1.1b: Quy trình cho vay tiêu dùng trực tiếp

Trong đó:

(1) Ngân hàng và người tiêu dùng ký hợp đồng vay.

(2) Người tiêu dùng trả trước một phần số tiền mua tài sản cho Cơng ty bán

lẻ.

(3) Ngân hàng thanh tốn số tiền mua tài sản còn thiếu cho Cơng ty bán lẻ.

(4) Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng.

(5) Người tiêu dùng thanh toán tiền vay cho ngân hàng.



9



Cho vay tiêu dùng trực tiếp có nhiều ưu điểm hơn so với cho vay tiêu

dùng gián tiếp, đó là linh hoạt hơn và do ngân hàng tiếp xúc trực tiếp với

khách hàng nên các khoản cho vay có chất lượng hơn, đồng thời khách hàng

có thể thỏa mãn tốt hơn nhu cầu tiêu dùng của mình.

1.1.3 Quy trình cho vay tiêu dùng

- Bước 1: Tiếp nhận hồ sơ tín dụng và kiểm tra sơ bộ các thơng tin

khách hàng đưa ra trên hồ sơ

CBTD hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ cho vay đầy đủ và đúng quy

định theo mẫu của ngân hàng, nếu thiếu thì yêu cầu khách hàng bổ sung cho

đúng.

- Bước 2: Thẩm định tín dụng

Đây là khâu quan trọng nhất trong quy trình CVTD, quyết định chất

lượng tín dụng, thường bao gồm các nội dung sau:

+ Thẩm định tư cách đạo đức người đi vay: CBTD phải đảm bảo khách

hàng vay vốn có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự, đủ tư cách

pháp lý vay vốn ngân hàng. Đồng thời, đảm bảo khách hàng vay vốn có ý

thức rõ ràng về trách nhiệm phải hoàn trả đầy đủ và đúng hạn các khoản nợ.

+ Thẩm định tình hình tài chính và khả năng thanh tốn: nội dung này

bao gồm xác định mức thu nhập, việc làm, số dư tài khoản tiền gửi và nơi cư

trú. Việc xác định nguồn thu nhập ổn định hàng tháng của khách hàng có ý

nghĩa rất quan trọng vì đây là nguồn trả nợ cho ngân hàng.

+ Thẩm định tài sản đảm bảo: Trước hết, CBTD sẽ kiểm tra quyền sở

hữu hoặc sử dụng hợp pháp tài sản của khách hàng, khả năng chuyển nhượng

của tài sản. Định giá tài sản đảm bảo cũng là một việc rất quan trọng trong khi

thẩm định. Cuối cùng, ngân hàng xem xét khả năng bảo quản tài sản của

người đi vay, hợp đồng bảo hiểm trong trường hợp vay thế chấp để giảm rủi

ro xuống mức thấp nhất cho ngân hàng.



10



+ Lập báo cáo thẩm định: Sau khi thẩm định hồ sơ vay vốn của khách

hàng, CBTD lập báo cáo thẩm định trong đó ghi vắn tắt nhưng tổng quát về

tình hình của khách hàng: nhân thân, mục đích vay, số tiền vay, khả năng trả

nợ, tài sản đảm bảo. CBTD đưa ra những đánh giá về khách hàng và ý kiến

cho vay hay không cho vay đối với khách hàng. Nếu cho vay thì phải ghi rõ

số tiền, thời hạn, lãi suất, các điều kiện kèm theo.

- Bước 3: Xét duyệt và quyết định cho vay

Khi nhận báo cáo thẩm định kèm theo hồ sơ vay vốn liên quan, trưởng

phòng tín dụng xem xét lại và yêu cầu CBTD giải thích bổ sung hoặc chỉnh

sửa nếu có thiếu sót. Sau đó báo cáo được trình Hội đồng tín dụng xét duyệt.

- Bước 4: Hồn tất các thủ tục pháp lý trước khi giải ngân

CBTD và các bộ phận liên quan hoàn tất các thủ tục pháp lý trước khi

giải ngân như ký hợp đồng đảm bảo tiền vay, thỏa thuận phương thức cho

vay, trả nợ, ký hợp đồng tín dụng, đăng ký các giao dịch đảm bảo.

- Bước 5: Kiểm tra sau khi giải ngân và phát hiện nhu cầu mới của

khách hàng

Sau khi giải ngân tiền vay cho khách hàng, CBTD sẽ phải thường xuyên

kiểm tra mục đích sử dụng tiền vay, tài sản thế chấp và đánh giá khả năng trả

nợ của khách hàng, đôn đốc khách hàng trả nợ. Việc kiểm tra thường xuyên sẽ

giúp ngân hàng sớm phát hiện ra các khoản nợ có vấn đề để có các biện pháp

can thiệp kịp thời, đồng thời phát hiện nhu cầu mới của khách hàng để phục

vụ. Kiểm sốt tín dụng cũng giúp các nhà quản lý ngân hàng trong việc đánh

giá toàn bộ rủi ro tiềm tàng của ngân hàng và nhu cầu vốn trong tương lai.

- Bước 6: Thu nợ và xử lý nợ quá hạn

Đây là bước cuối cùng của quy trình tín dụng. CBTD theo dõi việc trả nợ

của khách hàng. Qúa trình này giúp ngân hàng thu vốn và lãi, đồng thời bổ

sung thêm thông tin về khách hàng. Khi phát hiện các khoản nợ có dấu hiệu



11



xấu, CBTD xem xét việc gia hạn nợ, tăng cường kiểm tra, bổ sung các điều

kiện hoặc cam kết, chuyển nợ quá hạn. Đối với những khoản nợ đã quá hạn,

khách hàng khơng có khả năng trả nợ, ngân hàng tiến hành phát mại tài sản

theo các quy định hiện hành.

1.1.4 Lợi ích của cho vay tiêu dùng

CVTD ra đời chính từ sự phát triển của nền kinh tế thị trường cộng với

sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trong hệ thống ngân hàng. Đã có thời kỳ, các

NHTM từ chối các khoản CVTD do đó thường là những món vay nhỏ lẻ và

chứa đựng nhiều rủi ro. Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế ngày càng phát

triển và sức ép cạnh tranh ngày càng khốc liệt trong hệ thống ngân hàng đã

buộc các ngân hàng phải thay đổi và mở rộng các dịch vụ cung ứng của mình

nhằm nâng cao sức cạnh tranh không chỉ trong hệ thống ngân hàng mà còn

với các định chế tín dụng khác.

Một lý do khác khiến CVTD ra đời và phát triển là để giải quyết mâu

thuẫn giữa nhu cầu tiêu dùng với khả năng thanh toán của cá nhân người tiêu

dùng. Cuộc sống ngày càng phát triển, theo đó, nhu cầu tiêu dùng của con

người cũng ngày càng gia tăng mạnh mẽ. Nếu ta lập một bảng thống kê những

nhu cầu của một đời người thì đó là một con số vơ hạn, từ những nhu cầu đơn

giản như ăn, ở, mặc, đi lại, học hành đến những nhu cầu phức tạp hơn như du

lịch, vui chơi giải trí, nhu cầu được tơn trọng,...Tuy nhiên, để thỏa mãn được

tất cả các nhu cầu này khơng phải là một điều dễ dàng bởi nó còn phụ thuộc

vào một nhân tố rất quan trọng, đó là khả năng thanh toán. Đây thực sự là một

vấn đề quan trọng. Làm thế nào để giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu tiêu

dùng là vô hạn và khả năng thanh tốn là có hạn? Trong thực tế có hai cách để

giải quyết. Cách thứ nhất là mua bán chịu. Trong trường hợp này, người tiêu

dùng chỉ được thỏa mãn với một số loại hàng hóa nhất định. Cách thứ hai là

người mua đi vay tiền từ một bên thứ ba và khơng có một tổ chức nào đảm



12



nhận vị trí này tốt bằng các NHTM. Cách này vừa thỏa mãn được nhu cầu đa

dạng của người tiêu dùng, vừa giúp ngân hàng gia tăng lợi nhuận và tạo uy tín

cho ngân hàng.

Tại, Việt Nam, hoạt động CVTD được thực hiện vào những năm 1993 –

1994 và chủ yếu tập trung vào cho vay trả góp, các sản phẩm cung ứng còn

rất đơn điệu. Do chưa có hành lang pháp lý rõ ràng nên hoạt động được một

thời gian thì các NHTM tỏ ra lúng túng trong việc cấp tín dụng theo hình thức

này. Khi thực hiện chủ trương kích cầu của chính phủ nhằm đẩy mạnh hoạt

động tiêu dùng trong dân cư, cụ thể hơn với sự ra đời của văn bản pháp luật

như văn bản số 34/CV-NHNN1 ngày 07/01/2005 và văn bản số 98/CVNHNN1 ngày 28/01/2005 của Thống Đốc NHNN hướng dẫn và cho phép các

tổ chức tín dụng cho vay khơng có đảm bảo bằng tài sản đối với cán bộ cơng

nhân viên…thì vấn đề pháp lý về tín dụng tiêu dùng được xem như đã cởi mở

thơng thống. Từ đây hoạt động CVTD có điều kiện để phát triển mạnh mẽ.

Như vậy, với cuộc sống ngày càng hiện đại, CVTD đã trở nên cần thiết

hơn bao giờ hết và sự hình thành CVTD là điều tất yếu.

1.1.4.1 Đối với NHTM

- CVTD giúp NHTM mở rộng quan hệ với khách hàng, từ đó tăng khả

năng huy động các loại tiền gửi cho NHMT.

- CVTD giúp NHTM nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Như ta đã biết, cho

vay tiêu dùng có chi phí cao nhưng đồng thời cũng tạo ra lợi nhuận lớn hơn

nhiều trên một đồng vốn bỏ ra so với các hình thức cho vay khác.

- CVTD cũng giúp NHTM thu hút thêm khách hàng sử dụng các hình

thức dịch vụ khác, bởi vì thơng thường khi cho vay tiêu dùng khách hàng

cũng có xu hướng sử dụng kèm các dịch vụ ngân hàng cá nhân. Đây cũng là

điều kiện tiên quyết giúp ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập

với xu thế quốc tế.



13



- Hơn nữa, CVTD còn tạo điều kiện cho ngân hàng đa dạng hóa hoạt

động kinh doanh, nhờ vậy, nâng cao thu nhập và phân tán rủi ro cho ngân

hàng.

1.1.4.2 Đối với người tiêu dùng

Thông qua hoạt động CVTD của NHTM, họ được hưởng các tiện ích

trước khi tích lũy đủ tiền, hơn nữa, giúp họ đáp ứng được nhu cầu chi tiêu bức

thiết (thường cho y tế và giáo dục). Tuy nhiên, nếu quá lạm dụng đi vay để

tiêu dùng thì sẽ ảnh hưởng đến khả năng tiết kiệm và gặp khó khăn trong

tương lai.

1.1.4.3 Đối với nền kinh tế

Các chủ thể trong nền kinh tế, dù là trực tiếp hay gián tiếp cũng đều

được hưởng những lợi ích do hoạt động của ngân hàng mang lại. Việc ngân

hàng thực hiện CVTD không chỉ làm thỏa mãn nhu cầu thiết yếu, nâng cao

chất lượng cuộc sống của người tiêu dùng mà còn kích thích người dân mua

sắm hàng hóa, dịch vụ, giúp thúc đẩy sản xuất phát triển, tạo cơng ăn việc

làm, từ đó tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

1.2 Đẩy mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng của NHTM

1.2.1 Quan niệm về đẩy mạnh cho vay tiêu dùng

Đẩy mạnh CVTD là sự mở rộng về quy mô CVTD và chất lượng CVTD

được nâng cao đồng thời phải kiểm soát được rủi ro trong CVTD.

Sự gia tăng quy mô CVTD thể hiện dư nợ CVTD tăng, gia tăng số lượng

khách hàng vay vốn ngân hàng, tăng dư nợ bình quân trên khách hàng cũng

như đa dạng hóa sản phẩm và thị phần, từ đó tăng thu nhập từ CVTD.

Mở rộng quy mơ CVTD luôn phải dựa trên cơ sở nâng cao chất lượng

CVTD. Chất lượng của các khoản CVTD được nâng cao thể hiện ở độ an

tồn, chính xác trong q trình thực hiện nghiệp vụ CVTD, khả năng sinh lời

trong CVTD.



14



Kiểm soát rủi ro trong khi thực hiện CVTD thông qua các biện pháp hạn

chế rủi ro, kiểm soát nợ xấu trong CVTD.

1.2.2 Cơ sở đẩy mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng

- Do nhu cầu tiêu dùng của dân cư tăng nhanh

Việt Nam là một nước có nền kinh tế đang phát triển, với tốc độ tăng

trưởng GDP khá cao trong những năm gần đây. Hơn nữa, với dân số hơn 80

triệu người và phần đông là giới trẻ, năng động, thu nhập không ngừng được

cải thiện, nên nhu cầu tiêu dùng của họ ngày một tăng cao. Đây là một thị

trường đầy tiềm năng cho hoạt động CVTD.

- Do rủi ro của hoạt động cho vay tiêu dùng đã được hạn chế

Có thể nói CVTD là hình thức cho vay có mức độ rủi ro cao nhất trong

các hình thức cho vay của ngân hàng. Nhưng ngày nay, thu nhập của người

dân ngày càng tăng, đồng thời các ngân hàng đều áp dụng các công nghệ hiện

đại trong việc quản lý các khoản vay, trình độ của nhân viên ngày một nâng

cao, hành lang pháp lý dần được hoàn thiện, từ đó góp phần hạn chế rủi ro của

các khoản CVTD.

- Do sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các ngân hàng

Trước sự cạnh tranh gay gắt của các NHTM cũng như các tổ chức tài

chính trong và ngồi nước, để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển, các ngân

hàng cần đa dạng hoá các danh mục đầu tư, phân tán rủi ro, duy trì hoạt động

bền vững cho ngân hàng. Đẩy mạnh CVTD là một phương án được xem xét.

Xuất phát từ những lý do trên, có thể thấy được rằng đẩy mạnh hoạt

động CVTD là một yêu cầu khách quan của nền kinh tế.



1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá đẩy mạnh CVTD tại NHTM

1.2.3.1 Các chỉ tiêu gia tăng quy mô



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Hoạt động cho vay tiêu dùng của NHTM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×