Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Mở rộng hoạt động cho vay xuất nhập khẩu của NHTM

2 Mở rộng hoạt động cho vay xuất nhập khẩu của NHTM

Tải bản đầy đủ - 0trang

16

Để đánh giá sự mở rộng hoạt động cho vay xuất nhập khẩu của ngân hàng

thương mại là một công việc khơng dễ bởi nó đòi hỏi phải xem xét trên nhiều mặt,

thông qua sự tổng hợp kết quả phân tích nhiều chỉ tiêu khác nhau và trong phạm

vi bài viết này đề tài chỉ tập trung nghiên cứu, phân tích dưới góc độ ngân hàng.

Dưới đây là một số chỉ tiêu cơ bản để đánh giá sự mở rộng cho vay xuất nhập

khẩu của ngân hàng thương mại dưới góc độ ngân hàng.

1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá mở rộng hoạt động cho vay XNK của NHTM

1.2.2.1 Các chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng quy mô hoạt động cho vay

+ Dư nợ cho vay xuất nhập khẩu: là chỉ tiêu phản ánh quy mô hoạt động

cho vay xuất nhập khẩu. Nếu tổng dư nợ cho vay xuất nhập khẩu quá thấp trong

nhiều năm liền cho thấy Ngân hàng chưa thể phát triển tốt hoạt động này cả về

mặt quy mơ cũng như mặt chất lượng, uy tín của Ngân hàng chưa cao và do đó

chưa thể phát triển tốt sản phẩm này. Tuy nhiên nếu tổng dư nợ cho vay xuất nhập

khẩu quá cao cũng chưa thể nói Ngân hàng phát triển hoạt động cho vay tốt mà

còn phải phụ thuộc vào các rủi ro tiềm ẩn trong các khoản vay, do vậy cần phải

xem xét thêm các chỉ tiêu khác.

+ Số khách hàng, số hợp đồng vay vốn xuất nhập khẩu: Trước đây các

ngân hàng thiên về việc cho vay XNK đối với các doanh nghiệp nhà nước và

không yên tâm khi cho vay đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Song để

mở rộng cho vay XNK mà chỉ tập trung vào đối tượng khách hàng là doanh

nghiệp nhà nước sẽ khơng hiệu quả vì thực tế nhiều năm cho thấy với cơ cấu tổ

chức cồng kềnh, bộ máy quản lý thiếu năng động, quản lý vốn khơng hiệu quả, chi

phí quản lý lớn tại các doanh nghiệp nhà nước thì việc cho vay đối với đối tuợng

này chứa đựng khá nhiều rủi ro. Hơn nữa với chủ trương cổ phần hoá các doanh

nghiệp nhà nước, trong tương lai các doanh nghiệp ngoài quốc doanh sẽ chiếm ưu

thế. Vì vậy việc hướng tới đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp tư nhân và

các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp liên doanh...là hết sức cần thiết.

Thơng qua việc đa dạng hố đối tượng khách hàng cho vay cũng giúp ngân hàng

có thể phân tán được rủi ro.



17

+ Thị phần cho vay xuất nhập khẩu của Ngân hàng: Chỉ tiêu này phản ánh

khả năng chiếm lĩnh thị trường của ngân hàng, quy mô hoạt động cho vay của

ngân hàng chiếm bao nhiêu phần trăm trong thị trường cho vay của ngành ngân

hàng nói chung. Chỉ tiêu này càng cao càng tốt.

+ Sự đa dạng các sản phẩm cho vay xuất nhập khẩu: Mở rộng cho vay

XNK yêu cầu Ngân hàng phải đa dạng hoá các sản phẩm cho vay để đáp ứng nhu

cầu ngày càng tốt hơn cho khách hàng, đặc biệt trong điều kiện thương mại quốc

tế ngày càng phát triển. Các ngân hàng phải chủ động nghiên cứu và ứng dụng các

sản phẩm cho vay XNK mà các nước tiên tiến trên thế giới đang áp dụng (không

dừng lại ở các sản phẩm tài trợ truyền thống như tài trợ trong thanh toán mở L/C,

chiết khấu chứng từ xuất khẩu...nghiên cứu áp dụng các phương thức mới như bao

thanh toán, thuê mua ..). Bên cạnh đó ngân hàng khơng chỉ cho vay XNK với thời

hạn ngắn mà còn mở rộng cho vay đối với các dự án đầu tư trung, dài hạn. Đồng

thời Ngân hàng cũng không dừng lại ở việc cho vay các khách hàng bằng ngoại tệ

là Đơla Mỹ mà còn cho vay bằng Việt nam đồng và các ngoại tệ khác tuỳ từng

thời điểm và tuỳ nguồn vốn mà ngân hàng huy động được.

1.2.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng hoạt động cho vay xuất nhập khẩu

Chất lượng hoạt động cho vay xuất nhập khẩu ở đây được hiểu theo nghĩa

giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng, do vậy nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu là hai chỉ tiêu

thường được dùng để đánh giá chất lượng của hoạt động này.

Nợ xấu là các khoản nợ được xếp từ nhóm 3 đến nhóm 5 theo quyết định

493 của Ngân hàng Nhà nước; trong khuân khổ của Luận văn này, nợ xấu được

xác định theo điều 7 Quyết định 493.

Nợ nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: các khoản nợ được tổ chức tín

dụng đánh giá là khơng có khả năng thu hồi gốc và lãi khi đến hạn. Các khoản nợ

này được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi.

Nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ) bao gồm: các khoản nợ được tổ chức tín dụng

đánh giá là khả năng tổn thất cao.



18

Nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: các khoản nợ được tổ chức

tín dụng đánh giá là khơng còn khả năng thu hồi, mất vốn.

Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lượng hoạt động cho

vay của tổ chức tín dụng. Tỷ lệ này càng thấp càng tốt.

+ Mức trích lập dự phòng rủi ro: là một chỉ tiêu chi phí trong hoạt động tín

dụng của NHTM, do đó nó trực tiếp quyết định việc lợi nhuận có tăng lên cùng với

sự mở rộng cho vay hay khơng.

Theo quy định về trích lập dự phòng rủi ro tại quyết định số 493/2005/QĐNHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước, số tiền dự phòng rủi

ro mà các NHTM phải trích được tính bằng:

R  max 0, (A - C)  x r

Trong đó: R: số tiền dự phòng cụ thể phải trích

A: giá trị của khoản nợ

C: giá trị của tài sản bảo đảm

r: tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể, tỷ lệ này được quy định tương

ứng với từng nhóm nợ của khách hàng, nhóm nợ có mức độ rủi ro càng cao thì tỷ lệ

trích lập dự phòng càng lớn.

Như vậy, trong điều kiện dư nợ hiện có, các NHTM muốn giảm mức trích dự

phòng rủi ro thì cần tăng giá trị TSBĐ và giảm tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể, tức là

giảm nợ xấu của ngân hàng. Do đó, chỉ tiêu tỷ lệ tài sản đảm bảo và tỷ trọng nợ xấu

trong tổng dư nợ của khối DNVVN cũng là các chỉ tiêu phản ánh mức độ mở rộng

cho vay của NHTM trên phương diện tiết kiệm chi phí để gia tăng lợi nhuận.

+ Tỷ lệ xóa nợ ròng: Chỉ tiêu xóa nợ ròng thể hiện trong một số khoản cho

vay khơng còn giá trị và ngân hàng xóa khỏi sổ sách (theo dõi ngoại bảng) gọi là

khoản cho vay được xóa nợ. Nếu một trong những khoản cho vay đó mà cuối

cùng ngân hàng cũng thu được thì khoản thu nhập đó sẽ khấu trừ tổng các khoản



19

xóa nợ tạo thành khoản xóa nợ ròng. Khoản xóa nợ ròng là mức tổn thất thật sự ,

phản ánh mức rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay của ngân hàng. Do vậy, để

đánh giá chính xác hơn về mức độ rủi ro, người ta sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ xóa nợ

ròng. Nếu tỷ lệ này cao chứng tỏ hoạt động tín dụng của ngân hàng bị tổn thất lớn,

danh mục cho vay có chất lượng thấp, hoạt động kinh doanh khơng hiệu quả. Chỉ

tiêu tỷ lệ xóa nợ ròng được tính như sau:

Dư nợ xóa ròng

Tỷ lệ xóa nợ ròng =



X 100%

Tổng dư nợ cho vay



1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển cho vay xuất nhập khẩu

1.2.3.1. Các nhân tố từ phía ngân hàng

+ Chính sách của ngân hàng: bao gồm chính sách tín dụng, chính sách

khách hàng, chính sách sản phẩm cho vay xuất nhập khẩu.

Chính sách tín dụng chính là các chủ trương, đường lối đảm bảo cho hoạt

động tín dụng đi đúng mục tiêu của ngân hàng đồng thời tuân thủ tốt qui định của

Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, nó có liên quan đến việc mở rộng hay thu hẹp

hoạt động cho vay, thay đổi cơ cấu dư nợ trong từng thời kỳ và có ý nghĩa quyết

định sự thành bại của một ngân hàng. Một chính sách tín dụng đúng đắn sẽ thu hút

được nhiều khách hàng, đảm bảo khả năng sinh lời của hoạt động cho vay trên cơ

sở mở rộng và nâng cao được chất lượng các khoản vay.

Chính sách khách hàng, chính sách sản phẩm cho vay XNK: là những chính

sách ưu đãi đối với khách hàng (như lãi suất, phí…) đồng thời ngày càng đưa ra

nhiều sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, từ đó thu hút họ về giao dịch với

ngân hàng mình. Bất cứ một ngân hàng nào muốn phát triển được hoạt động cho

vay đều phải có chính sách khách hàng và chính sách sản phẩm phù hợp với điều

kiện của ngân hàng mình cũng như phải căn cứ vào đòi hỏi của thị trường.



20

+ Nguồn vốn của các NHTM: Hiện nay trên thế giới, để đảm bảo tính thanh

khoản cho các NHTM, NHTW các quốc gia đều có quy định đối với nguồn vốn

ngắn hạn cho vay trung và dài hạn. Theo tiêu chuẩn quốc tế thì tỷ lệ này là 40%.

Tất nhiên đối với mỗi quốc gia khác nhau, tuỳ từng điều kiện cụ thể của từng nước

thì tỷ lệ này không giống nhau. Ở Việt Nam tỷ lệ này là 25%. Chính vì vậy nếu

muốn cho vay trung, dài hạn thì buộc các ngân hàng phải huy động nguồn vốn

trung, dài hạn. Bởi nếu dùng nguồn vốn huy động ngắn hạn (nguồn vốn chủ sở

hữu chủ yếu để đầu tư tăng năng lực) để cho vay trung dài hạn sẽ gặp rủi ro về

thanh khoản và NHTM các nước kiểm soát rất chặt chẽ tỷ lệ này. Như vậy, điều

kiện này đã có tác động đến sự tăng trưởng của hoạt động tín dụng, trong đó ảnh

hưởng trực tiếp đến nguồn cho vay trung, dài hạn.

+ Trình độ đội ngũ cán bộ nhân viên tín dụng XNK: Đây có thể coi là yếu tố

quan trọng nhất có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của không chỉ hoạt động

cho vay mà cả sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Hoạt động kinh tế đối ngoại

càng phức tạp, cơng nghệ ngân hàng càng hiện đại thì đòi hỏi trình độ, năng lực của

cán bộ ngân hàng trong lĩnh vực xuất nhập khẩu phải được nâng cao hơn. Với một

đội ngũ cán bộ nhân viên có nghiệp vụ giỏi, có đạo đức và năng lực trong sáng tạo quản lí, hiểu biết về hoạt động kinh doanh XNK và thông lệ quốc tế sẽ giúp ngân

hàng hạn chế được những rủi ro, nắm bắt được những cơ hội tốt để cho vay và tất

yếu sẽ dẫn đến nâng cao chất lượng hoạt động cho vay XNK của ngân hàng.

+ Quy trình cho vay: Đây là những trình tự, những giai đoạn, những bước,

công việc cần phải thực hiện theo một thủ tục nhất định trong việc cho vay bắt đầu

từ việc xem xét đơn xin vay của khách hàng đến khi thu nợ nhằm bảo đảm an toàn

vốn vay. Việc phát triển cho vay xuất nhập khẩu phụ thuộc vào việc lập ra một qui

trình cho vay xuất nhập khẩu đảm bảo tính khoa học vừa nhanh chóng, thuận tiện,

vừa đảm bảo thực hiện đầy đủ nghiêm túc các bước của quy trình.

+ Thơng tin tín dụng: Thơng tin tín dụng là hết sức cần thiết, nó là cơ sở để

xem xét quyết định cho vay và theo dõi, quản lí khoản cho vay. Thơng tin các khoản

vay vốn XNK có thể thu được từ nhiều nguồn khác nhau như: hồ sơ vay vốn của



21

khách hàng, nguồn số liệu thống kê của Tổng cục thống kê, số liệu của Bộ Thương

mại về tình hình XNK của các đơn vị, từ doanh nghiệp hay điều tra trực tiếp tại các

cơ sở, thông tin về thị trường quốc tế, thông tin về khách hàng XNK ở nước ngoài.

Mở rộng hoạt động cho vay xuất nhập khẩu và chất lượng các khoản cho vay chỉ có

thể được nâng cao khi ngân hàng có những nguồn thơng tin đầy đủ, chính xác, kịp

thời để dự đoán và đề ra các biện pháp ngăn ngừa phòng chống rủi ro.

+ Cơng tác kiểm tra, kiểm sốt nội bộ: Thơng qua cơng tác kiểm tra, kiểm

soát nội bộ, Ban lãnh đạo ngân hàng sẽ nắm được tình hình hoạt động kinh doanh

đang diễn ra trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, những thuận lợi, khó khăn cũng như

việc chấp hành những qui định pháp luật, nội dung, qui chế, chính sách kinh

doanh, thủ tục vay vốn từ đó giúp Ban lãnh đạo có những đường lối, chủ trương

đúng đắn, giải quyết những khó khăn, vướng mắc, phát huy những nhân tố thuận

lợi, nâng cao hiệu quả kinh doanh. Chất lượng và hiệu quả của mở rộng cho vay

xuất nhập khẩu phụ thuộc vào việc chấp hành những quy chế, thể lệ, chính sách và

mức độ kịp thời phát hiện sai sót cũng như những nguyên nhân dẫn đến sai sót

lệch lạc trong q trình thực hiện các khoản vay.

1.2.3.2. Các nhân tố từ môi trường bên ngồi

+ Các nhân tố từ phía khách hàng

Khách hàng có vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển cho vay nói

chung và cho vay xuất nhập khẩu nói riêng bởi họ là những người trực tiếp sử

dụng các khoản vay để đưa vào sản xuất kinh doanh và thực hiện chi trả cho ngân

hàng. Một khoản vay chỉ gọi là có chất lượng khi mà nó được khách hàng sử dụng

đúng mục đích và có hiệu quả. Để đạt được điều đó bản thân khách hàng cũng cần

phải được chú trọng đến nhiều khía cạnh khác nhau như:

+ Tình hình sản xuất kinh doanh và chiến lược phát triển của các doanh

nghiệp xuất nhập khẩu: Tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tốt hay

xấu được thể hiện qua kết quả hoạt động kinh doanh và đây cũng chính là cơ sở để

ngân hàng quyết định có nên tài trợ vốn cho doanh nghiệp hay không. Các doanh



22

nghiệp xuất nhập khẩu kinh doanh thường dựa trên chủ trương, chính sách phát

triển xuất nhập khẩu của Nhà nước để từ đó đề ra chiến lược phát triển cho chính

đơn vị mình. Trên cơ sở nhận định, đánh giá chính xác tiềm năng thế mạnh của

doanh nghiệp như: trình độ công nghệ, khả năng cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ,

xu hướng phát triển của mặt hàng xuất nhập khẩu của doanh nghiệp cùng với

những khó khăn thuận lợi hiện tại và trong tương lai. Doanh nghiệp sẽ quyết định

chiến lược mở rộng, thu hẹp hay giữ qui mô kinh doanh ổn định từ đó xây dựng

các kế hoạch cụ thể về sản xuất tiêu thụ. Việc xây dựng một chiến lược kinh doanh

đúng đắn có ý nghĩa quan trọng đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp.

Từ đó tác động đến khả năng huy động và trả nợ đối với các nguồn tài trợ.

+ Trình độ, phẩm chất của đội ngũ cán bộ lãnh đạo của doanh nghiệp:

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường cạnh tranh là một tất yếu. Để tồn tại các

doanh nghiệp phải biết nắm bắt và tận dụng các cơ hội trong kinh doanh, điều này

đòi hỏi ban lãnh đạo của doanh nghiệp phải có trình độ, có năng lực quản lí và ra

quyết định. Khi việc kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra thuận lợi sẽ có tác động

tích cực đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp cho ngân hàng. Ngồi ra, trình độ,

phẩm chất của người lãnh đạo cũng có tác động rất lớn đến việc sử dụng vốn vay

cũng như mong muốn trả nợ của doanh nghiệp từ đó tác động đến chất lượng của

khoản vay. Đối với các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu đòi hỏi đội ngũ

cán bộ phải am hiểu về thị trường và thông lệ quốc tế, am hiểu nghiệp vụ hoạt

động ngoại thương. Đặc biệt đối với hoạt động cho vay xuất nhập khẩu thì phẩm

chất của khách hàng là một yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đến việc phát triển

cho vay xuất nhập khẩu cũng như chất lượng của nó.

Rủi ro ngành: Những ngành tăng trưởng thấp, cạnh tranh ở mức cao, đòi

hỏi vốn lớn, có tính chu kỳ hay khơng ổn định thì rủi ro về vốn sẽ lớn hơn các

ngành ổn định với ít đối thủ cạnh tranh, rào cản gia nhập ngành cao, nhu cầu có

thể dự báo dễ dàng.

+ Vị thế của doanh nghiệp trong ngành: một vài nhân tố tác động đến năng

lực cạnh tranh của doanh nghiệp như vị thế của doanh nghiệp trên thị trường, sự xuất



23

hiện các sản phẩm thay thế, khả năng mặc cả với người mua và người bán. Để duy trì

vị thế của mình các doanh nghiệp phải dựa vào sự đa dạng hóa sản phẩm, bán hàng

trải đều khắp các khu vực, đa dạng hóa khách hàng và người cung ứng, quản lý tốt

chi phí sản xuất.

+ Nhóm nhân tố thuộc về mơi trường kinh tế:

- Vấn đề tỷ giá: Khi tỷ giá hối đối khơng ổn định; chẳng hạn khi tỷ giá

giảm thì các DN sẽ gặp khó khăn trong việc hồn trả khoản vay bằng ngoại tệ

trước đó, vì cần phải có nhiều tiền vốn nội tệ hơn mới mua đủ số ngoại tệ cần để

trả. Do vậy, các DN hoặc là sẽ hạn chế sử dụng vốn vay hoặc sẽ không trả được

nợ cho ngân hàng điều này làm cho hoạt động cho vay XNK giảm cả về qui mô và

chất lượng.

- Nhân tố lãi suất: Mức độ phù hợp giữa lãi suất trên thị trường với mức lợi

nhuận của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh XNK trong nền kinh tế cũng ảnh

hưởng tới việc phát triển cho vay XNK. Lợi nhuận ngân hàng thu được bị giới hạn

bởi lợi nhuận của doanh nghiệp sử dụng vốn vay, nên với mức lãi suất cao, các

doanh nghiệp khơng trả được nợ, hoặc sẽ có ý định khơng muốn trả nợ, từ đó hoạt

động cho vay xuất nhập khẩu của ngân hàng khơng còn là đòn bẩy để thúc đẩy sản

xuất kinh doanh phát triển và tất nhiên việc phát triển hoạt động này cũng giảm sút.

- Lạm phát: có tác động mạnh lên nhiều mặt như khả năng tiêu thụ hàng

hoá, giá cả thị trường, hiệu quả kinh doanh... Do vậy, nó tác động mạnh đến khơng

chỉ hoạt động cho vay mà còn cả nền kinh tế. Chẳng hạn trong thời kì lạm phát

cao sản xuất kinh doanh bị thu hẹp, đầu tư, tiêu dùng giảm, nhu cầu vay vốn giảm,

vốn vay đã thực hiện cũng khó có thể sử dụng có hiệu quả hoặc trả nợ đúng hạn

cho ngân hàng. Ngồi ra còn phải kể đến việc công chúng không muốn gửi tiền

vào ngân hàng để đề phòng mất giá tiền tệ.

+ Nhóm nhân tố thuộc về mơi trường pháp lý, chủ trương chính sách của

Nhà nước: Mơi trường pháp lí tác động đến hoạt động ngân hàng thông qua hệ



24

thống các luật và các văn bản pháp qui có liên quan đặc biệt là chủ trương chính

sách phát triển kinh tế của Nhà nước.

Chính sách kinh tế vĩ mơ của Nhà nước: Đây là nhân tố rõ nét tác động đến

hoạt động tín dụng. Chính sách đầu tư, luật thuế XNK … sẽ có tác động khuyến

khích hay hạn chế nhập khẩu hay xuất khẩu một loại hàng hố hoặc cơng trình nào

đó. Do vậy tất yếu sẽ tác động đến chính sách cho vay của các ngân hàng.

Chính sách tín dụng của Ngân hàng nhà nước: Ngân hàng nhà nước với

chức năng thực hiện quản lý Nhà nước đối với hoạt động ngân hàng, tuỳ theo

những biến động của nền kinh tế như: lạm phát, giảm phát, tác động từ những nền

kinh tế lớn … mà NHTW có thể điều chỉnh các quy định về cho vay, đảm bảo chất

lượng cho vay cũng như thực hiện vai trò điều tiết hoạt động ngân hàng theo định

hướng của Nhà nước đó.

Sự thay đổi chủ trương chính sách của Nhà nước sẽ làm tăng cao hay giảm

bớt sự phát triển của hoạt động cho vay xuất nhập khẩu điều này nó cần phải được

đánh giá trong mối quan hệ với việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế

hướng về xuất khẩu của Nhà nước, thực thi chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà

nước. Bên cạnh đó cũng cần thấy rằng sự thay đổi mơi trường pháp lí còn có tác

động rất lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu mà cụ thể là các

chính sách về khuyến khích xuất khẩu hay hạn chế nhập khẩu.

+ Sự cạnh tranh giữa các NHTM trong hoạt động cho vay xuất nhập khẩu

đối với doanh nghiệp: Mức độ cạnh tranh giữa các NHTM trong hoạt động cho

vay xuất nhập khẩu đối với doanh nghiệp càng cao thì tốc độ phát triển của hoạt

động này càng giảm. Tuy nhiên trước áp lực cạnh tranh, các NHTM cần phải

khơng ngừng hồn thiện các hoạt động của ngân hàng, nâng cao chất lượng phục

vụ khách hàng, mang lại nhiều tiện ích hơn cho khách hàng khi đến giao dịch tại

ngân hàng; nếu NHTM nào đáp ứng được những điều kiện trên thì sẽ có cơ hội

phát triển.



25

+ Tập quán thương mại: Đây là yếu tố mang tính chất cụ thể ở từng quốc gia

mà đơi khi khơng tn theo một luật lệ hay chính sách nào cả. Điều đó sẽ có một tác

động nhất định đối với những nhà XNK nước ngoài mà các hợp đồng thương mại

có được ký kết hay bị huỷ bỏ. Yếu tố này cũng thường được các nhà XNK xem xét

đến trong quá trình thương thảo hợp đồng ngoại thương nhằm tránh các tranh chấp

hay tạo ra sự thuận lợi về phía mình khi phải đưa ra luật pháp. Yếu tố này cũng

được các ngân hàng quan tâm khi cấp tín dụng cho khách hàng.



26



CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CHO VAY XUẤT NHẬP KHẨU

TẠI NH TECHCOMBANK CHI NHÁNH KHÁNH HÒA



2.1. Khái quát tình hình hoạt động của NH Techcombank CN Khánh Hòa

2.1.1 Sơ lược về sự hình thành và phát triển của Techcombank chi nhánh

Khánh Hòa

Tên tiếng Anh: Techcombank Khanh Hoa

Địa chỉ: Trụ sở chính tại 38-40 Thống Nhất - Nha Trang - Khánh Hòa

Ngày 27/09//2005, Techcombank chi nhánh Khánh Hòa đã được thành lập.

Sau hơn 2 năm hoạt động và không ngừng phát triển, năm 2006

Techcombank chi nhánh Khánh Hòa đã được Ngân hàng Nhà nước cơng nhận là

một trong ba Ngân hàng thương mại cổ phần hoạt động hiệu quả nhất trên địa bàn

tỉnh Khánh Hòa.

Ngồi ra, tháng 6 năm 2007, thành lập phòng giao dịch Mã Vòng tại 16

Đường 23/10-Nha Trang-Khánh Hòa, từng bước mở rộng mạng lưới

Techcombank ở khu vực miền Trung.

Năm 2008, tổng số nhân viên tăng lên 40 người (bao gồm một chi nhánh

và một phòng giao dịch). Và năm 2008 cũng là năm chính thức Techcombank

Khánh Hòa trực thuộc sự quản lý của chi nhánh Hồ Chí Minh - khu vực phía

Nam (trước đây chi nhánh trực thuộc sự quản lý của chi nhánh Nha Trang- khu

vực miền Trung).

Năm 2009, tổng số nhân viên làm việc tăng lên 50 người (bao gồm một chi

nhánh và một phòng giao dịch).

Năm 2010, mở thêm một phòng giao dịch tại 2-4 Vĩnh Hải với số lượng

nhân viên tăng lên 60 người với quy mô ngày càng lớn. Đây cũng là năm

Techcombank có sự thay đổi về sự quản lý, nó khơng thuộc sự quản lý của chi

nhánh Hồ Chí Minh mà trực thuộc sự quản lý của chi nhánh Nha Trang- khu vực



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Mở rộng hoạt động cho vay xuất nhập khẩu của NHTM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×