Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ MỞ RỘNG CHO VAY XUẤT NHẬP KHẨU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ MỞ RỘNG CHO VAY XUẤT NHẬP KHẨU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ - 0trang

5

động XNK đang là mối quan tâm không chỉ của ngân hàng, của các nhà XNK mà

còn của các nhà lập pháp, toà án, các nhà nghiên cứu kinh tế …

Như vậy, cho vay XNK là việc ngân hàng hỗ trợ về mặt tài chính giúp các

doanh nghiệp hồn thành nghĩa vụ của mình khi tham gia vào các hoạt động

XNK.[1]

- Sự phát triển khách quan của cho vay XNK: Cho vay XNK thể hiện mối

quan hệ kinh tế giữa một bên là ngân hàng, bên đưa ra sự hỗ trợ về tài chính, và một

bên là các doanh nghiệp XNK, bên cần hỗ trợ. Cho vay XNK là quá trình ngân hàng

cung cấp vốn dưới các hình thức khác nhau cho các doanh nghiệp XNK.

Sự ra đời và phát triển của cho vay XNK là một yêu cầu tất yếu khách quan

gắn liền với các quan hệ TMQT. Khi TMQT càng phát triển thì kéo theo sự phát

triển của cho vay XNK. Khác với trước đây, ngân hàng tham gia vào TMQT chủ

yếu ở khâu thanh toán. Ngày nay, mọi giai đoạn của hoạt động ngoại thương đều

có thể dẫn tới sự hỗ trợ của ngân hàng. Đứng về phía nhà xuất khẩu, từ lúc chưa

ký kết được hợp đồng ngoại thương, nhà xuất khẩu đã cần có tài trợ từ ngân hàng

dưới hình thức ngân hàng đứng ra bảo lãnh và giúp nhà xuất khẩu giành được hợp

đồng. Trong giai đoạn thực hiện hợp đồng, việc xuất hiện nhu cầu vốn có khi là rất

lớn và vượt quá khả năng hiện có của nhà xuất khẩu, do đó làm nảy sinh nhu cầu

được tài trợ vốn từ ngân hàng. Sau khi đã giao hàng nhưng còn phải chờ thanh

tốn từ phía nước ngồi với thời gian khá lâu (nên hợp đồng ký theo phương thức

thanh toán trả chậm) mà nhà xuất khẩu lại cần tiền ngay để tham gia vào một

thương vụ khác, ngân hàng sẽ hỗ trợ cho anh ta thông qua chiết khấu hối phiếu

hay chiết khấu bộ chứng từ. Về phía nhà nhập khẩu, khi ký hợp đồng nếu nhà

nhập khẩu không tin tưởng vào khả năng tài chính của mình hoặc tạm thời chưa

đủ vốn, anh ta có thể nhờ cậy vào uy tín của ngân hàng. Ngân hàng có thể phát

hành một thư bảo lãnh thay cho việc nhà nhập khẩu phải đặt cọc để đảm bảo thanh

toán giá trị hợp đồng hoặc ngân hàng đứng ra mở L/C, cam kết trả tiền hàng nhập,

tạo ra niềm tin cho nhà xuất khẩu nước ngồi. Thơng thường để mua chịu hàng,

tức thanh tốn trả chậm, nhà nhập khẩu ln phải có sự đảm bảo từ phía ngân



6

hàng. Tới lúc phải thanh tốn tiền hàng, nếu chưa có đủ vốn, ngân hàng sẽ tài trợ

bằng cách cho vay vốn thanh tốn hàng nhập. Nói chung, dù là nhà xuất khẩu hay

nhập khẩu thì trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình thực hiện hoạt động ngoại

thương, đều có thể xuất hiện nhu cầu được tài trợ rất phong phú, đa dạng. Đặc biệt

trong điều kiện hiện nay, khi TMQT phát triển mạnh mẽ, khối lượng hàng hố

dịch vụ và cùng với nó là một khối lượng tiền tệ và dịch vụ tài chính khổng lồ

đang di chuyển qua các biên giới quốc gia với quy mô ngày một tăng, nhu cầu về

cho vay XNK sẽ ngày càng lớn mạnh. Với nguồn vốn, các nghiệp vụ cộng với uy

tín cũng như quan hệ đối ngoại rộng rãi của mình, ngân hàng tham gia cho vay

XNK giúp cho hoạt động này diễn ra thuận lợi, giảm bớt rủi ro và khơng ngừng

phát triển. Đến lượt mình, sự phát triển của hoạt động XNK lại thúc đẩy hoạt động

cho vay XNK của ngân hàng phát triển mạnh mẽ.

1.1.2. Đặc điểm của cho vay XNK

Cho vay XNK gắn liền với TMQT: Xuất phát từ hoạt động XNK là được

thực hiện giữa các đối tác ở ít nhất hai quốc gia, nên việc cho vay để nhập khẩu

hay xuất khẩu các ngân hàng đều phải xem xét đến các khía cạnh mang tính quốc

tế. Q trình ln chuyển bộ chứng từ hay hàng hoá bằng đường biển, đường sắt

hay máy bay đều phải xét đến các đặc điểm của từng loại hàng hố. Trong q

trình đó ngân hàng sẽ phải tính tốn đến các yếu tố như: chi phí vận chuyển, rủi ro

trong q trình di chuyển hàng hố (mất cắp, thiếu hụt…), sự phù hợp và kịp thời

của bộ chứng từ với hàng hoá, hay giữa bộ chứng từ với L/C và đặc biệt là tập

quán TMQT ở mỗi quốc gia. Từ đó ngân hàng sẽ tư vấn cho khách hàng và cung

cấp tín dụng vừa đảm bảo đáp ứng vốn kịp thời cho khách hàng đồng thời giảm

thiểu được rủi ro.[2]

Cho vay XNK được kết hợp chặt chẽ với các phương thức TTQT: Đi đôi với

mỗi phương thức TTQT đều có thể có một hình thức cấp tín dụng. Đây là quan hệ

ràng buộc có tính chất tương đối lẫn nhau. Chẳng hạn: với phương thức tín dụng

chứng từ thì mở L/C là một cam kết trả nợ của ngân hàng đối với khách hàng…

Mở rộng quan hệ đối ngoại, đẩy mạnh và đa dạng hoá các phương thức thanh tốn



7

có tác dụng đa dạng hố được các loại hình tín dụng, đáp ứng nhu cầu ngày càng

nhiều của nền kinh tế. Ngược lại, công tác cho vay XNK được đảm bảo cung ứng

kịp thời nhu cầu vốn cho khách hàng thì thúc đẩy hoạt động TTQT sơi động hơn

qua đó các ngân hàng tăng thu nhập từ hoạt động này.

Cho vay XNK với việc hình thành nhiều loại giá cả: Một trong những sự

khác biệt với hình thức tín dụng thơng thường là giá cả của cho vay XNK. Sự

phong phú, đa dạng trong việc cấp tín dụng: cho vay trực tiếp, bảo lãnh, chiết

khấu, thanh tốn … tương ứng là giá cả tín dụng: lãi suất cho vay, phí bảo lãnh, lãi

suất chiết khấu, giá mua nợ… Các ngân hàng trong nền kinh tế đều cố gắng đa dạng

các hình thức cấp tín dụng với mong muốn nâng cao khả năng cạnh tranh, tăng thu

nhập cho ngân hàng. Như vậy ngoài các nghiệp vụ đơn thuần và truyền thống, đa số

các ngân hàng hiện nay đều có xu hướng phát triển các loại hình dịch vụ dưới nhiều

hình thức, có khi vươn ra khỏi lĩnh vực ngân hàng và cạnh tranh với các tổ chức

kinh doanh khác trong nền kinh tế.

Đối tượng cho vay của Ngân hàng trong cho vay XNK có thể ở nhiều quốc

gia khác nhau: Đây là đặc trưng riêng có của hoạt động cho vay XNK. Tuy nhiên

ở đây sẽ phát sinh sự ràng buộc về quy chế, luật lệ ở mỗi nước, các vấn đề về giá

cả, lãi suất …. và dẫn đến những vướng mắc trong nghiệp vụ. Thông thường các

ngân hàng chỉ áp dụng trường hợp này cho các khách hàng có khả năng tài chính

và uy tín trên thị trường quốc tế. Đối với những nước đang phát triển hoặc các

nước kém phát triển thì đặc điểm này bị hạn chế, khơng rõ nét. Song sự xích lại

gần nhau của nền kinh tế thế giới, việc gia nhập vào các liên minh kinh tế như EU,

APEC, ASEAN … thì việc được vay vốn từ các ngân hàng nước ngoài càng trở

nên dễ dàng.

1.1.3 Nguyên tắc của hoạt động cho vay

Thứ nhất: Cho vay phải có kế hoạch, có mục tiêu và hiệu quả kinh tế, đơn

vị vay vốn phải có kế hoạch và đơn xin vay gửi ngân hàng, trong đó phải nói rõ

khối lượng cần vay, thời gian vay vốn và mục đích sử dụng vốn vay. Bên cạnh

cũng hoạt động cho vay cũng phải đề cập đến tính hiệu quả của việc sử dụng vốn



8

vay, sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng và có

hiệu quả kinh tế. Tín dụng cung ứng cho nền kinh tế phải hướng đến mục tiêu và

yêu cầu về phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển.

Thứ hai: Cho vay trên nguyên tắc hoàn trả lại đúng kỳ hạn cả vốn lẫn lãi.

Đơn vị vay vốn phải trả lại vốn vay cho ngân hàng bởi nguồn vốn đó ngân hàng

cũng phải đi vay. Nguyên tắc này đề ra nhằm đảm bảo cho các ngân hàng thương

mại tồn tại và hoạt động bình thường.

Thứ ba: Để vay vốn ở NH thì đơn vị vay vốn phải trình những chứng từ,

hố đơn về mua bán vật tư, hàng hố và cơng tác phục vụ. Trên cơ sở đó NH sẽ

tiến hành xét duyệt cho vay một lượng tiền tương đương với giá trị vật tư hàng

hoá, đối với một số đơn vị thì u cầu phải có tài sản thế chấp bằng tài sản hoặc

chứng từ có giá khác. Việc bảo đảm tiền vay phải thực hiện theo qui định của

chính phủ: Q trình cung ứng vốn tín dụng ngắn hạn của ngân hàng thương mại

đối với nền kinh tế sẽ làm tăng sức mua của xã hội, làm tăng khối lượng tiền trong

nền kinh tế, làm tăng áp lực đối với lượng hàng hố ở trên thị trường.

1.1.4 Vai trò của hoạt động cho vay xuất nhập khẩu

1.1.4.1 Đối với hoạt động ngoại thương:

Ngân hàng cho các doanh nghiệp vay để nhập khẩu máy móc thiết bị hiện đại,

đổi mới trang thiết bị kĩ thuật, dây chuyền sản xuất chế biến hàng xuất khẩu với

công nghệ tiên tiến nhằm nâng cao chất lượng hàng hóa, hạ giá thành sản phẩm,

tạo khả năng cạnh tranh với hàng ngoại nhập và kinh doanh có lãi.

Tín dụng tạo điều kiện thuận lợi giúp các đơn vị tiểu thủ công nghiệp phát

triển, tăng nhanh sản lượng hàng hóa, đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu, nâng

cao chất lượng sản phẩm hàng xuất khẩu

Tài trợ vốn để nhập khẩu các hàng hóa cần thiết cho đời sống và sinh hoạt của

nhân dân.



9

Góp phần phục vụ chương trình, mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước, góp

phần mở rộng quan hệ đối ngoại với các nước trên thế giới[4].

1.1.4.2 Đối với ngân hàng thương mại:

Thời gian tài trợ ngắn hạn do gắn liền với thời gian thực hiện thương vụ.

Đối với người xuất khẩu thì thời gian kể từ lúc gom hàng, xuất đi cho đến lúc

nhận được tiền thanh toán của người mua. Đối với người nhập khẩu, thời gian kể

từ lúc nhận hàng tại cảng cho đến khi bán hết hàng và thu tiền về.

Hoạt động cho vay XNK của ngân hàng thương mại có kỳ hạn gắn liền với

thời gian thực hiện thương vụ. Kỳ hạn tài trợ thường ngắn phù hợp với kỳ hạn huy

động vốn của các ngân hàng thương mại thường là dưới 1 năm. Điều này giúp

ngân hàng tránh được rủi ro về thanh khoản.

Đồng vốn tài trợ trong hoạt động cho vay XNK gắn liền với thương vụ và

trong nhiều trường hợp, vốn tài trợ được thanh tốn thẳng cho bên thứ ba mà

khơng qua bên xin tài trợ như thanh toán tiền hàng NK, thanh toán tiền nguyên vật

liệu cho các đại lý gom hàng cho người XK… Việc làm này tránh được tình trạng

sử dụng vốn sai mục đích của bên được tài trợ và góp phần hạn chế rủi ro trong

cho vay.

Hoạt động cho vay XNK góp phần nâng cao tính an tồn cho ngân hàng

bằng việc quản lý các nguồn thu thanh tốn; đồng thời mang lại hiệu quả cho ngân

hàng thơng qua việc thu lãi vay, lãi chiết khấu chứng từ, thu phí dịch vụ…

Tài trợ xuất nhập khẩu đảm bảo sử dụng vốn đúng mục đích. Đồng vốn

thường gắn liền với thương vụ.

Tài trợ xuất nhập khẩu nâng cao tính an tồn cho ngân hàng thơng qua việc

quản lý thu các nguồn thanh toán. Đối với người xuất khẩu, khi ngân hàng chuyển

bộ chứng từ giao hàng để đòi tiền người nhập khẩu đã chỉ định việc thanh toán

tiền hàng phải thông qua tài khoản của người xuất khẩu mở tại ngân hàng. Đối với



10

người nhập khẩu, trong trường hợp có tài trợ, ngân hàng sẽ buộc người nhập khẩu

tập trung tiền bán hàng vào tài khoản mở tại ngân hàng.

Hiệu quả của ngân hàng trong tài trợ xuất nhập khẩu thể hiện thơng qua lãi

suất. Có nhiều loại lãi suất trong quá trình tài trợ: lãi cho vay thanh toán, lãi chiết

khấu chứng từ, lãi vay bắt buộc… Tiền lãi thu cao vì giá trị tài trợ thường ở mức

vừa và lớn. Ngồi ra, thơng qua tài trợ xuất nhập khẩu, ngân hàng còn mở rộng

quan hệ với các doanh nghiệp và ngân hàng nước ngoài, nâng cao uy tín ngân hàng

trên trường quốc tế.

1.1.4.3 Đối với doanh nghiệp:

Ngân hàng cho các doanh nghiệp vay để nhập khẩu máy móc, thiết bị hiện

đại, đổi mới trang thiết bị kỹ thuật, dây chuyền chế biến hàng xuất khẩu với công

nghệ tiên tiến nhằm nâng cao chất lượng hàng hóa, hạ giá thành sản phẩm, tạo khả

năng cạnh tranh với hàng ngoại nhập và kinh doanh có lãi.

Giúp doanh nghiệp thực hiện được những thương vụ lớn: có những thương

vụ đòi hỏi nguồn vốn rất lớn để thanh toán tiền hàng. Mà doanh nghiệp khơng có

đủ vốn lưu động để chuẩn bị hàng xuất hoặc thanh toán tiền hàng. Tài trợ ngân

hàng cho xuất nhập khẩu là giải pháp giúp doanh nghiệp thực hiện được những

hợp đồng lớn.

Tạo được lợi thế trong q trình đàm phán, thương lượng, kí kết hợp đồng

ngoại thương, vì hoạt động ngoại thương thực hiện qua ngân hàng người mua và

người bán, đã thỏa thuận trước với ngân hàng nghĩa là doanh nghiệp đã xác định

được năng lực thực hiện hợp đồng.

Giúp doanh nghiệp thực hiện những thương vụ lớn, quan hệ được với

khách hàng tầm cỡ quốc tế, từ đó nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thị trường

quốc tế.



11

1.1.4.4 Đối với nền kinh tế:

Tín dụng ngồi việc tài trợ để nhập khẩu máy móc thiết bị phục vụ sản

xuất, còn góp phần nhập khẩu các hàng hóa tiêu dùng cần thiết cho đời sống sinh

hoạt của nhân dân.

Tín dụng xuất nhập khẩu góp phần phục vụ chương trình, mục tiêu phát

triển kinh tế của đất nước, góp phần mở rộng mối quan hệ đối ngoại với các nước

trên thế giới.

Tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại tạo điều kiện cho hàng

hóa xuất nhập khẩu lưu thơng trơi chảy: hàng hóa xuất nhập khẩu theo yêu cầu của

thị trường được thực hiện thường xun, liên tục góp phần tăng tính năng động

của nền kinh tế, ổn định thị trường.

Tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại tạo điều kiện cho

doanh nghiệp phát triển, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, tạo động cơ thúc đẩy

nền kinh tế phát triển.

1.1.5. Các hình thức cho vay xuất nhập khẩu

1.1.5.1 Cho vay xuất khẩu

+ Cho vay thông thường: Cho vay thông thường là việc ngân hàng giao cho

khách hàng một khoản tiền để họ sử dụng trong một thời gian nhất định. Khi hết

hạn, người vay phải trả đầy đủ cả gốc và lãi. Đây là hình thức cho vay truyền

thống, về kỹ thuật và phương pháp cho vay giống như các dạng cho vay nội địa

tương ứng thông thường khác.

+ Cho vay trên cơ sở hối phiếu: Nhà xuất khẩu khi cần tiền có thể vay

ngân hàng bằng cách đem chiết khấu các hối phiếu chưa đến hạn trả tiền. Hình

thức cho vay này rất phổ biến ở các nước bởi vì việc chiết khấu thường dễ dàng và

ngay khi giao chứng từ về hàng hố người xuất khẩu đã có thể sử dụng được lợi

nhuận của hoạt động xuất khẩu để tái đầu tư.



12

Thời hạn vay bằng cách chiết khấu hối phiếu là thời hạn còn lại chưa đến

hạn thanh tốn của hối phiếu. Người hồn trả tiền vay và lợi tức là người có nghĩa

vụ trả tiền ghi trên hối phiếu.

+ Chiết khấu bộ chứng từ hàng hóa: Đây là hình thức ngân hàng cấp vốn

cho nhà xuất khẩu trên cơ sở chiết khấu bộ chứng từ trước khi đến hạn thanh tốn.

Với hình thức này ngân hàng tạo điều kiện cho nhà xuất khẩu có thể thu hồi được

vốn nhanh tương tự như chiết khấu hối phiếu. Tỉ lệ chiết khấu phụ thuộc vào

phương thức chiết khấu:

+Tín dụng ứng trước cho người xuất khẩu: Trong quá trình chuẩn bị và

thực hiện hợp đồng xuất khẩu các doanh nghiệp cũng có thể đề nghị ngân hàng

tạm ứng cho một nghiệp vụ xuất khẩu cho đến khi thu được lợi nhuận từ hoạt

động xuất khẩu. Hình thức tín dụng này bao gồm hai hình thức cơ bản sau:

Tín dụng ứng trước trong phương thức nhờ thu kèm chứng từ

Tín dụng ứng trước trong phương thức tín dụng chứng từ

1.1.5.2 Cho vay nhập khẩu

+ Nghiệp vụ cho vay trong khuôn khổ tín dụng chứng từ:

Thư tín dụng (L/C) là văn bản pháp lý trong đó một ngân hàng theo yêu cầu

nhà nhập khẩu sẽ trả một số tiền nhất định cho nhà xuất khẩu trong một thời gian

nhất định với điều kiện nhà xuất khẩu phải thực hiện đúng và đầy đủ những điều

khoản trong thư tín dụng, sức mạnh tài chính của ngân hàng thay thế sức mạnh tài

chính của nhà nhập khẩu. Mọi thư tín dụng mở ở ngân hàng đều theo đề nghị của

nhà nhập khẩu nhưng không phải lúc nào nhà nhập khẩu cũng có đủ số dư trong

tài khoản của mình để làm đảm bảo cho thư tín dụng đó. Vì vậy ngân hàng mở

L/C phải chịu mọi rủi ro khi nhà nhập khẩu mất khả năng thanh tốn hay khơng

muốn thanh tốn L/C đến hạn trả tiền. Để tránh vấn đề bất cập trên ngân hàng cấp

vốn cho nhà nhập khẩu theo hạn mức tín dụng. Trước khi mở thư tín dụng theo

yêu cầu của nhà nhập khẩu, ngân hàng phải kiểm tra mục đích, đối tượng nhập



13

khẩu, khả năng hoạt động cạnh tranh của nhà nhập khẩu ở hiện tại và trong tương

lai, đây chính là q trình thẩm định tín dụng, là cơ sở để đảm bảo vốn vay của

ngân hàng. Trong quá trình cấp vốn ngân hàng chỉ cho phép đơn vị rút vốn trong

chừng mực còn đủ vốn để thanh tốn cho L/C mà đơn vị xin mở theo qui định của

ngân hàng.

+ Tín dụng ứng trước cho nhà nhập khẩu: Cũng như các nhà xuất khẩu,

nhà nhập khẩu cũng rất cần được cho vay theo hình thức ứng trước của ngân hàng.

Đó là khi họ cần phải thanh tốn tiền cho nhà xuất khẩu. Ngồi ra, nhà nhập khẩu

cũng có thể phát sinh nhu cầu tài trợ để thanh toán cho bộ chứng từ khi hàng hoá

chưa về đến cảng và doanh nghiệp chưa tiêu thụ được hàng hoá để thu hồi vốn.

Ngân hàng tài trợ trong trường hợp này có thể sử dụng các chứng từ hàng hố làm

vật đảm bảo[3].

1.1.6 Quy trình thực hiện hoạt động cho vay xuất nhập khẩu tại các NHTM

Quy trình cho vay xuất nhập khẩu được bắt đầu từ khi cán bộ tín dụng tiếp

nhận hồ sơ khách hàng và kết thúc khi thanh lý hợp đồng tín dụng, nó được tiến

hành theo các bước sau:

1.1.6.1 Tiếp nhận và hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ vay

Khi có nhu cầu về vốn trong quá trình kinh doanh xuất nhập khẩu khách

hàng đến ngân hàng xin vay, đồng thời gửi đến ngân hàng các hồ sơ cần thiết như

sau: hồ sơ pháp lý, hồ sơ kinh tế, hồ sơ vay vốn… Cán bộ tín dụng làm đầu mối

tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra tính đầy đủ, hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ; đồng thời hướng

dẫn khách hàng đăng ký những thông tin về khách hàng, các điều kiện vay vốn và

hướng dẫn khách hàng hoàn thiện hồ sơ vay.

1.1.6.2 Thẩm định khách hàng vay vốn

Đây là bước rất quan trọng trong quy trình tài trợ nếu như bước thẩm định

này làm tốt sẽ hạn chế được rất nhiều rủi ro cho ngân hàng. Cán bộ tín dụng phải

thực hiện các bước sau trong quá trình thẩm định khách hàng vay vốn:



14

Tìm hiểu về năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự, năng lực điều

hành, năng lực quản lý sản xuất kinh doanh của khách hàng vay vốn.

Phân tích đánh giá khả năng tài chính của khách hàng vay, bao gồm: đánh

giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đánh giá tình hình

tài chính của doanh nghiệp, thẩm định tính khả thi của phương án kinh doanh,

thẩm định tính hiệu quả và khả năng trả nợ của phương án, tình hình quan hệ tín

dụng với các tổ chức tín dụng khác, chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng.

Thẩm định tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh: thẩm định tính hợp pháp của

tài sản đảm bảo, đồng thời thẩm định giá trị của tài sản.

1.1.6.3 Lập tờ trình xét duyệt cho vay

Trong vòng 10 ngày kể từ khi nhận được hồ sơ khách hàng, CBTD lập báo

cáo thẩm định trình lên trưởng phòng tín dụng. Báo cáo này phải nêu rõ tình hình

tài chính của DN; nhu cầu vốn, số tiền xin tài trợ; tính khả thi, hiệu quả của

phương án kinh doanh và kiến nghị của CBTD có nên cho vay hay khơng. Trưởng

phòng tín dụng căn cứ ý kiến của CBTD đồng thời xem xét lại hồ sơ và cho ý kiến

để trình lên Ban giám đốc xét duyệt. Nếu món vay đủ điều kiện cho vay, CBTD sẽ

hướng dẫn khách hàng lập hợp đồng tín dụng. Nếu khơng đủ điều kiện cho vay,

CBTD phải ghi rõ lý do để giải thích cho khách hàng và trả lại hồ sơ xin vay.

1.1.6.4 Hoàn thiện hồ sơ, ký kết hợp đồng và giải ngân

Khi khoản vay được phê duyệt thì ngân hàng và khách hàng cùng ký kết

hợp đồng tín dụng; hợp đồng thế chấp, cầm cố tài sản (hợp đồng thế chấp, cầm cố

phải thực hiện công chứng và đăng ký giao dịch đảm bảo); lập giấy nhận nợ và

tiến hành giải ngân cho khách hàng.

1.1.6.5 Kiểm tra và giám sát khoản vay

Kiểm tra và giám sát khoản vay là quá trình thực hiện các bước, công việc

sau khi cho vay nhằm hướng dẫn, đơn đốc người vay sử dụng đúng mục đích, có



15

hiệu quả số tiền vay, hoàn trả nợ gốc, lãi vay đúng hạn, đồng thời thực hiện các biện

pháp thích hợp nếu người vay không thực hiện đầy đủ, đúng hạn các cam kết.

1.1.6.6 Thu hồi nợ gốc, lãi

Ngân hàng sẽ tính lãi theo lãi suất hai bên đã thoả thuận tại thời điểm ký

kết hợp đồng. Sắp đến ngày đáo hạn thì ngân hàng phải thơng báo cho khách hàng

biết để chuẩn bị tiền trả nợ cho ngân hàng.

1.1.6.7 Thanh lý hợp đồng tín dụng và giải chấp tài sản bảo đảm

Sau khi khách hàng hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi tiền vay, cán bộ tín dụng

tất tốn khoản vay và chuyển hồ sơ vay vốn vào hồ sơ lưu của khách hàng. Lập

biên bản giao trả tài sản bảo đảm nợ vay trình trưởng phòng tín dụng kiểm sốt,

trưởng phòng tín dụng trình lãnh đạo ký duyệt.

1.2 Mở rộng hoạt động cho vay xuất nhập khẩu của NHTM

1.2.1 Quan niệm về mở rộng hoạt động cho vay xuất nhập khẩu

Mở rộng là quá trình lớn lên, tăng trưởng về mọi mặt của sự vật hay hiện

tượng, nó bao gồm sự tăng trưởng về mặt số lượng và ngày càng hoàn thiện về

mặt chất lượng của một sự vật hay hiện tượng nào đó.

Mở rộng hoạt động cho vay xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại có

nghĩa là quy mô hoạt động cho vay xuất nhập khẩu của ngân hàng ngày càng được

tăng trưởng trên cơ sở bảo đảm giảm thiểu xảy ra những rủi ro đồng thời nó cũng

phản ánh sự hài lòng của khách hàng về nhu cầu vốn, thời gian đáp ứng, những

tiện ích mà khách hàng nhận được đối với hoạt động cho vay xuất nhập khẩu.

Mở rộng cho cho vay hoạt động xuất nhập khẩu các ngân hàng để thực hiện

được thì các ngân hàng phải có các chính sách phù hợp đối với hoạt động cho vay

xuất nhập khẩu, đánh giá được nhu cầu khách hàng về vốn đối với hoạt động xuất

nhập khẩu, ngồi ra còn phải nghiên cứu cải tiến qui trình cho vay, cải tiến cơng

nghệ thơng tin trong hoạt động của ngân hàng nói chung và đối với hoạt động cho

vay xuất nhập khẩu nói riêng.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ MỞ RỘNG CHO VAY XUẤT NHẬP KHẨU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×