Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
c. Cho vay có bảo đảm

c. Cho vay có bảo đảm

Tải bản đầy đủ - 0trang

9



-Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho

người sử dụng.

- Sự chuyển nhượng này có thời hạn hay mang tính tạm thời.

- Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí.

Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12), định nghĩa hoạt động Cấp

tín dụng là “việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc

cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo ngun tắc có hồn trả bằng

nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh

ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”.

- Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam

kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định

trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với ngun tắc có hồn trả cả

gốc và lãi.

- Bao thanh tốn là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên

mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải

thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng

dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ.

- Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín

dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện

nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng khơng thực hiện hoặc

thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và

hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận.

- Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi

các cơng cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước

khi đến hạn thanh tốn.

- Tái chiết khấu là việc chiết khấu các cơng cụ chuyển nhượng, giấy tờ

có giá khác đã được chiết khấu trước khi đến hạn thanh toán.



10



- Hoạt động cho thuê tài chính là việc cấp tín dụng trung hạn, dài hạn

trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài chính và phải có một trong các điều kiện sau

đây:

+ Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được nhận

chuyển quyền sở hữu tài sản cho thuê hoặc tiếp tục thuê theo thỏa thuận của

hai bên;

+ Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được quyền

ưu tiên mua tài sản cho thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của

tài sản cho thuê tại thời điểm mua lại;

+ Thời hạn cho thuê một tài sản phải ít nhất bằng 60% thời gian cần

thiết để khấu hao tài sản cho thuê đó;

+ Tổng số tiền thuê một tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài

chính ít nhất phải bằng giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng.

1.1.3.2. Phân loại tín dụng ngân hàng

a. Căn cứ vào thời hạn, tín dụng ngân hàng có các loại sau:

- Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm, được sử

dụng để cho vay bổ sung vốn lưu động tạm thời của các doanh nghiệp và cho

vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt của cá nhân.

- Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng ở giữa hai kỳ hạn trên, loại tín

dụng này được cung cấp để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ

thuật, mở rộng và xây dựng các cơng trình nhỏ có thời gian thu hồi vốn

nhanh.

- Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên năm năm, được sử dụng

để cấp vốn cho các doanh nghiệp, đáp ứng các nhu cầu như: xây dựng cơ bản,

đầu tư xây dựng xí nghiệp mới, cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất.

b. Căn cứ vào tính chất luân chuyển vốn, tín dụng ngân hàng có các

loại sau:



11



- Tín dụng vốn lưu động: là loại tín dụng được dùng để hình thành vốn lưu

động, được sử dụng để bù đắp mức vốn thiếu hụt tạm thời cho các tổ chức kinh tế,

được chia ra làm các loại sau: bổ sung vốn lưu động, dự trữ hàng hóa, thanh tốn

các khoản nợ… Thời hạn cho vay đối với loại tín dụng này là ngắn hạn.

- Tín dụng vốn cố định: là loại tín dụng được dùng để hình thành tài sản

cố định, thường được đầu tư để mua tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ

thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các xí nghiệp và cơng trình mới. Thời hạn

cho vay đối với loại tín dụng này là trung hạn và dài hạn.

c. Căn cứ vào tính chất đảm bảo, tín dụng ngân hàng có các loại sau:

- Tín dụng bằng tín chấp (hay tín dụng bảo đảm khơng bằng tài sản): là

loại cho vay khơng có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của bên thứ

ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng. Đối với

những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài chính

mạnh, quản trị có hiệu quả thì ngân hàng có thể cấp tín dụng dựa vào uy tín,

khả năng trả nợ thực chất của bản thân khách hàng mà không cần một nguồn

thu nợ thứ hai bổ sung.

- Tín dụng có đảm bảo: là loại cho vay được ngân hàng cung ứng phải có

tài sản thế chấp hoặc cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của bên thứ ba. Đối

với khách hàng khơng có uy tín cao đối với ngân hàng, khi vay vốn đòi hỏi

phải có sự bảo đảm. Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm

một nguồn thu thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn.

d. Căn cứ vào mối quan hệ giữa các chủ thể, tín dụng ngân hàng có các

loại sau:

- Tín dụng trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho khách hàng có nhu

cầu và khách hàng trực tiếp trả nợ vay cho ngân hàng.

- Tín dụng gián tiếp: Là khoản vay được thực hiện thông qua việc mua

lại các khế ước, chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh tốn,



12



như chiết khấu thương phiếu, mua các phiếu bán hàng tiêu dùng…

e. Căn cứ vào phương pháp cấp tiền vay, tín dụng ngân hàng có các loại

sau:

- Tín dụng từng lần: Mỗi lần vay vốn khách hàng và ngân hàng thực hiện

thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.

Tín dụng hạn mức: Ngân hàng và khách hàng xác định và thoả thuận

một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định.

f. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn, tín dụng ngân hàng có các loại

sau:

- Tín dụng sản xuất và lưu thơng hàng hóa: là loại tín dụng dành cho các

doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh để tiến hành sản xuất và lưu thơng

hàng hóa.

- Tín dụng tiêu dùng: là hình thức tín dụng dành cho các cá nhân để đáp

ứng nhu cầu như: mua nhà cửa, xe cộ, du học… thường do các ngân hàng,

quỹ tiết kiệm, hợp tác xã tín dụng và các tổ chức tín dụng cung cấp. Ngồi ra,

bán trả góp cũng được coi là hình thức tín dụng do các cơng ty, cửa hàng thực

hiện.

1.1.3.3. Vai trò của tín dụng ngân hàng

a. Đối với bản thân NHTM

Tín dụng là nghiệp vụ mang lại nguồn thu lớn nhất và chủ yếu cho Ngân

hàng trong quá trình hoạt động của mình.

NHTM là tổ chức trung gian tài chính kinh doanh tiền tệ thơng qua nhiều

nghiệp vụ để thu lời. Trong các hoạt động của ngân hàng thì tín dụng là

nghiệp vụ truyền thống và đem lại nguồn thu chủ yếu, cũng như lợi nhuận lớn

nhất cho ngân hàng. Trước đây, hoạt động này thường đem lại khoảng 70%

doanh thu của ngân hàng, nay các ngân hàng trên thế giới đã trở thành tổ chức

tài chính đa năng, trong xu thế hội nhập các ngân hàng Việt Nam để tồn tại và



13



đứng vững trong cạnh tranh thì cũng đang tiến hành đa dạng hoá các nghiệp

vụ. Mặc dù, tỷ trọng doanh thu từ hoạt động tín dụng mang lại cho ngân hàng

có giảm dần nhưng vẫn chiếm tỷ lệ lớn nhất trong các nghiệp vụ.

b. Đối với nền kinh tế

i. Tín dụng ngân hàng góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế, thực hiện

chiến lược kinh tế của Nhà nước.

Tín dụng ngân hàng là một trong những công cụ hữu hiệu để thực hiện

chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Để khuyến khích ngành nghề, khu vực hay thành

phần kinh tế nào phát triển, ngân hàng sẽ thực hiện ưu đãi tín dụng với ngành

nghề, khu vực hay thành phần kinh tế đó. Từ đó, ngân hàng sẽ tạo điều kiện

để các doanh nghiệp đó dễ dàng tiếp cận được vốn vay ngân hàng, trở thành

đòn bẩy để giúp ngành nghề, khu vực hay thành phần kinh tế đó phát triển.

Nhằm thực hiện được việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo mục đích đã

định, ngân hàng cần phải nghiên cứu và thực thi chính sách tín dụng phù hợp.

Chính sách tín dụng đóng một vai trò hết sức quan trọng nó sẽ là một trong

những biện pháp để thực hiện thành cơng sự nghiệp cơng nghiệp hố và hiện

đại hố đất nước.

ii. Kích thích tính năng động linh hoạt của các doanh nghiệp, nâng cao

năng lực cạnh tranh đáp ứng yêu cầu hội nhập

Ngày nay, khi thông tin và công nghệ thông tin không ngừng thay đổi

và phát triển một cách rất nhanh chóng, các doanh nghiệp luôn đứng trước

yêu cầu cần phải thay đổi cho phù hợp. Điều đó, đòi hỏi các doanh nghiệp

phải thường xun thay đổi máy móc, kỹ thuật, nâng cấp nhà xưởng, đổi mới

sản phẩm…và ngân hàng chính là kênh cung cấp vốn tốt nhất cho các doanh

nghiệp. Theo đó, đã mang đến cho doanh nghiệp cơ hội nhằm đổi mới kích

thích tính năng động của doanh nghiệp, đáp ứng cho sản xuất kinh doanh,

nâng cao khả năng cạnh tranh tạo tiền đề cho sự phát triển.



14



iii. Tín dụng ngân hàng giúp tăng nhanh vòng quay của vốn, giảm

lượng tiền mặt trong lưu thơng

Tín dụng ngân hàng giúp Nhà nước tăng cường quản lý vĩ mơ nền kinh

tế. Thơng qua tín dụng, ngân hàng huy động được một lượng lớn tiền nhàn rỗi

trong nền kinh tế, thực hiện cho vay, đầu tư vào sản xuất kinh doanh mà

không cần phát hành thêm tiền mặt. Qua đó, ngân hàng còn thực hiện được

nhiệm vụ điều hoà vốn giữa các ngành, các khu vực, các thành phần kinh tế,

qua đó việc quản lý, lưu thông tiền tệ sẽ được thực hiện tốt hơn. Hoạt động tín

dụng càng mở rộng thì càng hạn chế phương thức thanh toán dùng tiền mặt do

ngân hàng sử dụng phương thức chuyển khoản, L/C,... từ đó, giảm chi phí lưu

thông tiền mặt trong nền kinh tế phù hợp với định hướng của Nhà nước.

iv. Tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy q

trình mở rộng quan hệ giao lưu kinh tế quốc tế

Tham gia hội nhập kinh tế quốc tế đồng nghĩa với việc phải thực hiện

các cam kết mở cửa thị trường, mối quan hệ giữa các nước trên thế giới và

trong khu vực được mở rộng và phát triển đa dạng cả về chiều rộng và chiều

sâu. Theo đó các doanh nghiệp phải đối mặt với quá trình cạnh tranh ngày

càng gay gắt và buộc phải tự tìm hướng cho chính bản thân doanh nghiệp để

tồn tại và phát triển. Thực hiện chủ trương mở rộng hợp tác kinh tế, tăng

cường các quan hệ đối ngoại. Do đó, đầu tư vốn tín dụng thúc đẩy xuất khẩu

hàng hoá là mối quan tâm của các ngân hàng trong tình hình hiện nay. Ngân

hàng với tư cách là tổ chức kinh doanh tiền tệ, thông qua hoạt động cho vay

sẽ trở thành nền tảng, là người cung cấp vốn cho các nhà đầu tư kinh doanh

xuất nhập khẩu hàng hố. Qua đó, ngân hàng sẽ trở thành đòn bẩy thúc đẩy

q trình mở rộng và giao lưu kinh tế quốc tế, là phương tiện nối liền nền

kinh tế các nước.



15



Như vậy, tín dụng NHTM ra đời là một tất yếu khách quan, phù hợp với

xu thế phát triển của lịch sử, đóng góp một vai trò tích cực đối với sự phát

triển của nền kinh tế - xã hội. Tuy tín dụng NHTM đã giữ một vị trí rất quan

trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nói riêng

cũng như nền kinh tế thị trường nói chung nhưng để cho hoạt động tín dụng

thực sự đóng vai trò như vậy trong giai đoạn tới thì vấn đề đặt ra là cần nâng

cao, mở rộng chất lượng tín dụng khơng những từ góc độ ngân hàng mà còn

cả góc độ doanh nghiệp, của nền kinh tế, để đảm bảo hiệu quả của đồng vốn,

đảm bảo khả năng tái tạo vốn của ngân hàng, doanh nghiệp và nền kinh tế.

v. Điều hồ vốn, thúc đẩy sản xuất và lưu thơng hàng hố, đẩy nhanh

q trình tái sản xuất mở rộng trong nền kinh tế

Ngân hàng là chiếc cầu nối giữa những người có vốn tạm thời nhàn rỗi

trong nền kinh tế với những người cần vốn để mở rộng hoạt động kinh doanh,

tiêu dùng…. Trên cơ sở huy động nguồn vốn trong dân cư hay đi vay các tổ

chức kinh tế khác, ngân hàng cho vay với các cá nhân, tổ chức kinh tế đang

cần vốn để phục vụ sản xuất kinh doanh.

Các doanh nghiệp không thể tiến hành sản xuất kinh doanh nếu thiếu

vốn. Nhờ nguồn vốn mà ngân hàng cho vay doanh nghiệp khơng những đảm

bảo q trình sản xuất mà còn mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, áp dụng

công nghệ hiện đại để hạ giá thành sản phẩm, tăng tính cạnh tranh của sản

phẩm trên thị trường. Từ đó, các doanh nghiệp sẽ thúc đẩy sản xuất lưu thơng

hàng hố, đẩy nhanh q trình tái sản xuất mở rộng. Do vậy, tín dụng ngân

hàng đã biến các phương tiện hoạt động có hiệu quả, thu hút nhanh chóng các

vật tư, lao động, những tiềm năng sẵn có khác vào q trình sản xuất.

1.2. MỞ RỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.2.1. Nội dung mở rộng tín dụng của ngân hàng thương mại

Mở rộng tín dụng của NHTM là q trình NH tăng qui mơ cấp tín dụng,



16



qua đó tăng thu nhập từ hoạt động tín dụng trên cơ sở kiểm soát mức rủi ro và

đảm bảo mức độ sinh lời phù hợp với mục tiêu và chiến lược kinh doanh của

ngân hàng trong từng thời kỳ.

Chỉ tiêu chủ yếu để đánh giá quy mô cấp tín dụng là mức dư nợ tín dụng.

Vì vậy, thực chất của q trình mở rộng tín dụng ngân hàng là q trình tăng

trưởng dư nợ tín dụng. Tuy nhiên, lý thuyết cũng như thực tiễn mở rộng tín

dụng của các ngân hàng đã cho thấy tương quan đánh đổi giữa việc mở rộng

tín dụng với việc gia tăng mức độ rủi ro tín dụng. Vì vậy, q trình mở rộng

tín dụng phải được đặt trong sự xem xét quan hệ với mục tiêu kiểm sốt rủi ro

tín dụng, trong đó mục tiêu tăng trưởng dư nợ phải là mục tiêu ưu tiên.

Mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động kinh doanh của ngân hàng vẫn là

gia tăng khả năng sinh lời. Vì vậy, tăng dư nợ tín dụng cũng nhằm đạt đến

mục tiêu cuối cùng của Ngân hàng là tăng thu nhập từ hoạt động tín dụng,

kiểm sốt tốt chi phí cho hoạt động tín dụng, qua đó tăng lợi nhuận từ tín

dụng, tăng tỷ suất sinh lời trên dư nợ tín dụng. Tuy nhiên, tùy thuộc vào chiến

lược kinh doanh của từng thời kỳ nhất định, nhằm đạt các mục tiêu về nâng

cao sức cạnh tranh trên thị trường, ngân hàng vẫn có thể chấp nhận một mức

sinh lợi thấp hơn để ưu tiên cho mục tiêu tăng trưởng dư nợ tín dụng.

1.2.2. Tiêu chí đánh giá mở rộng tín dụng ngân hàng

Căn cứ vào nội dung mở rộng tín dụng đã trình bày ở trên, đánh giá q

trình mở rộng tín dụng có thể sử dụng các tiêu chí định lượng (chỉ tiêu) và

tiêu chí định tính sau:

a. Mức tăng trưởng tổng dư nợ cấp tín dụng dưới tất cả các hình thức

Dư nợ tín dụng là phản ánh số tiền mà Ngân hàng đã giải ngân cho

khách hàng nhưng chưa thu lại được. Chỉ tiêu này có thể tính cho từng thời

điểm hay tính bình qn cho từng thời kỳ.

Dư nợ bình qn được tính theo phương pháp bình quân thời điểm.



17



Để đánh giá mức tăng trưởng qua thời gian, 2 chỉ tiêu thường dùng là

mức tăng tuyệt đối và tốc độ tăng hoặc tốc độ phát triển dư nợ

Mức tăng tuyệt đối được tính bằng hiệu số giữa mức dư nợ tín dụng kỳ

báo cáo với dư nợ kỳ gốc.

Mức tăng dư nợ (tuyệt đối) = Dư nợ kỳ báo cáo – Dư nợ kỳ gốc

Tốc độ tăng được tính bằng thương số giữa mức tăng tuyệt đối dư nợ với

dư nợ kỳ gốc.

Tốc độ phát triển dư nợ được tính theo cơng thức:

Tốc độ tăng trưởng tổng dư nợ tín dụng là chỉ tiêu chủ yếu phản ảnh kết

quả cuối cùng của quá trình mở rộng tín dụng của NH.

Trong hai chỉ tiêu tốc độ tăng và tốc độ phát triển thông thường chỉ tiêu

tốc độ tăng được sử dụng phổ biến hơn

b. Mức tăng trưởng số lượng khách hàng của ngân hàng

Chỉ tiêu này đánh giá sự mở rộng số lượng khách hàng có quan hệ tín

dụng với ngân hàng qua các thời kỳ. Tăng trưởng số lượng khách hàng về

thực chất là phương tiện, phương thức để đạt đến mục tiêu tăng trưởng dư nợ

tín dụng nhưng cũng là tiêu chí để đánh giá q trình mở rộng tín dụng.

Chỉ tiêu này nên được tính riêng cho các loại khách hàng doanh ngiệp và

khách hàng cá nhân, hộ vì đặc điểm khác nhau về quy mơ, về tính chất của

các khoản vay theo từng loại khách hàng.

Chỉ tiêu này cùng được thể hiện qua 2 chỉ tiêu: Tốc độ tăng và tốc độ

phát triển theo cách tính tương tự chỉ tiêu tăng trưởng dư nợ.

c. Mức tăng trưởng dư nợ bình quân trên một khách hàng

Dư nợ bình quân trên một khách hàng được tính bằng thương số giữa

tổng dư nợ cho số khách hàng tương ứng.



18



Chỉ tiêu này được đánh giá qua tốc độ tăng và tốc độ phát triển dư nợ

bình qn trên một khách hàng. Nó phản ảnh khả năng của ngân hàng trong

việc phát triến các quan hệ với khách hàng, định hướng cơ cấu khách hàng

hợp lý, hồn thiện các chính sách và cơ chế nhằm tối đa hóa quy mơ cấp tín

dụng với một lượng khách hàng xác định.

Do quy mơ dư nợ bình qn của khách hàng doanh nghiệp khác biệt so

với quy mô dư nợ bình quân của khách hàng hộ và cá nhân nên chỉ tiêu nên

được xem xét riêng cho 2 nhóm khách hàng là khách hàng doanh nghiệp và

khách hàng hộ và cá nhân.

Đối với khách hàng doanh nghiệp:

Mưc tăng trưởng dư nợ bình quân của một khách hàng doanh nghiệp =

Tổng dư nợ cấp tín dụng cho khách hàng DN / Số khách hàng doanh nghiệp

Đối với khách hàng hộ và cá nhân:

Mưc tăng trưởng dư nợ bình quân của một khách hàng hộ và cá nhân

= Tổng dư nợ cấp tín dụng cho khách hàng hộ và cá nhân/ Số khách hàng hộ

và cá nhân

Các chỉ tiêu trên có thể tính cho từng thời điểm hoặc cho từng thời kỳ

trên cơ sở số liệu bình quân.

d. Mức độ tăng trưởng của thị phần cấp tín dụng của ngân hàng trên thị

trường mục tiêu

Chỉ tiêu này được đánh giá qua xem xét sự thay đổi về tỷ trọng dư nợ

cấp tín dụng của ngân hàng trên thị trường mục tiêu so với tổng dư nợ của tất

cả các tổ chức tín dụng trên địa bàn qua thời gian. Thơng thường, dư nợ được

tính theo từng thời điểm vì sự khó khăn trong thu thập dữ liệu. Đây là chỉ tiêu

phản ảnh tổng hợp nhất năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực cấp tín dụng của

ngân hàng.



19



e. Tăng trưởng thu nhập từ hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng

Chỉ tiêu này thể hiện qua tốc độ tăng của thu nhập từ hoạt động cấp tín

dụng qua thời gian. Trong kế tốn ngân hàng, do khơng hạch tốn riêng lợi

nhuận từ hoạt động tín dụng nên thu nhập từ hoạt động cấp tín dụng là tồn bộ

thu nhập từ lãi tín dụng và phí chưa trừ chi phí. Nó thể hiện kết quả của hoat

động tín dụng và cũng là chỉ tiêu phản ảnh tổng hợp quy mô của hoạt động

này.

f. Mức độ đa dạng hóa trong cơ cấu cấp tín dụng

Sự đa dạng về cơ cấu cấp tín dụng bao gồm sự đa dạng về cơ cấu sản

phẩm, loại hình cấp tín dụng, phương thức cấp tín dụng, cơ cấu khách hàng...

Đa dạng hóa vừa là phương thức để hạn chế rủi ro tín dụng, vừa là giải pháp

để mở rộng tín dụng đồng thời cũng phản ảnh q trình mở rộng tín dụng. Do

đó, mức độ đa dạng hóa cơ cấu, sự phù hợp giữa cơ cấu tín dụng với chiến

lược kinh doanh tín dụng của ngân hàng vừa là mục tiêu, vừa là phương tiện

của quá trình mở rộng tín dụng này.

Q trình mở rộng tín dụng ln phải được đặt trong tương quan đánh

đổi giữa rủi ro và sinh lời. Trong q trình đó, mục tiêu tăng trưởng quy mơ

cấp tín dụng là mục tiêu ưu tiên, mục tiêu kiểm soát rủi ro và hiệu quả kinh

doanh là 2 mục tiêu kiểm sốt. Do đó, khi đánh giá việc mở rộng tín dụng

phải xem xét các chỉ tiêu đánh giá hai mục tiêu này như là hai mục tiêu kiểm

sốt.

Để đánh giá rủi ro tín dụng, có thể sử dụng các chỉ tiêu sau:

- Tỷ lệ nợ quá hạn/dư nợ

- Tỷ lệ nợ xấu/dư nợ

- Tỷ lệ xóa nợ ròng/dư nợ



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

c. Cho vay có bảo đảm

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×