Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Trình tự thực hiện của giai đoạn này như sau:

Trình tự thực hiện của giai đoạn này như sau:

Tải bản đầy đủ - 0trang

17



Trong giai đoạn này, các hoạt động sẽ trở thành những điểm tích lũy chi phí,

các nguồn sinh phí chính là các tiêu thức phân bổ chi phí từ hoạt động đến sản

phẩm. Để thể hiện mối quan hệ này, ma trận hoạt động – sản phẩm (APD) sẽ được

thiết lập. Những hoạt động được biểu diễn theo cột còn các sản phẩm được biểu

diễn theo hàng. Nếu sản i sử dụng hoạt động j ta đánh dấu vào ô ij.

Những ô ij đã đánh dấu trên được thay thế bằng một tỷ lệ ước lượng, tỷ lệ

này được xác định bằng cách sử dụng một trong ba phương pháp: ước đoán, đánh

giá hệ thống và thu thập dữ liệu thực tế như đã trình bày ở trên. Tổng các cột của

ma trận APD phải bằng 1.

1.2.2.2. Tính tốn giá trị bằng tiền của các sản phẩm

Để có được giá trị bằng tiền của từng sản phẩm, chúng ta áp dụng cơng thức

sau:



j=1



OCP(i) = ∑ TCA(j) * APD(i,j)

Trong đó:



N



OCP(i)



= chi phí chung của sản phẩm i



N



= Số hoạt động



TCA(j)



= Giá trị bằng tiền của họat động j



APD(i,j)



= tỷ lệ ở ô ij của ma trận EAD



Trong phương pháp truyền thống, tỷ lệ tổng chi phí gián tiếp phân bổ vào

thành phẩm thường phụ thuộc vào tỷ lệ của tổng số giờ lao động trực tiếp cần có để

làm ra thành phẩm đó. Còn trong ABC, các hoạt động gián tiếp đáng chú ý (như

chạy máy, lắp ráp, kiểm tra chất lượng,...) được xác định bởi giám đốc vận hành.

Sau đó, chi phí cho các nguồn lực gián tiếp đã tiêu dùng để thực hiện các hoạt động

đó sẽ được truy ngun theo hoạt động thơng qua kích tố chi phí (cost driver) thích

hợp. Cuối cùng, tập hợp các chi phí của từng hoạt động sẽ được phân bổ tiếp về các

thành phẩm thơng qua các kích tố chi phí hợp lý khác. Nói một cách hình tượng



18



hơn, hệ thống ABC xé nhỏ chiếc bánh chi phí gián tiếp thành các mẩu bánh tương

ứng với mỗi hoạt động nhất định.

1.3. SO SÁNH PHƯƠNG PHÁP TÍNH GIÁ ABC VÀ PHƯƠNG PHÁP TÍNH

GIÁ TRUYỀN THỐNG, ƯU ĐIỂM, HẠN CHẾ VÀ ĐIỀU KIỆN VẬN DỤNG

PHƯƠNG PHÁP TÍNH GIÁ ABC

1.3.1. So sánh phương pháp tính giá ABC và phương pháp

tính giá truyền thống

Mặc dù là một phương pháp đang được áp dụng phổ biến, dưới góc độ phục

vụ cho việc ra các quyết định quản trị, phương pháp tính giá truyền thống vẫn thể

hiện những hạn chế nhất định

Cooper và Robert Kaplan (1988) nghiên cứu và chỉ ra rằng: mơ hình tính giá

truyền thống làm sai lệch giá thành sản phẩm bởi chi phí sản xuất chung được phân

bổ cho sản phẩm, dịch vụ thông qua các yếu tố như giờ công lao động trực tiếp, giờ

máy chạy hay lượng nguyên vật liệu tiêu hao. Vì vậy, mỗi loại sản phẩm có sản

lượng sản xuất khác nhau nhận được chi phí sản xuất chung phân bổ cho từng đơn

vị sản phẩm là như nhau. Cooper và Kaplan cho rằng cần phân tích các hoạt động

thực tế thực hiện phải gánh chịu chi phí. Các hoạt động được kết hợp với đối tượng

chi phí đã tiêu dùng chúng và vì thế, trước tiên chi phí được phân bổ cho các hoạt

động và sau đó chi phí hoạt động được phân bổ cho đối tượng chi phí thơng qua

nguồn phát sinh chi phí.

Việc phân bổ chi phí chung trong phương pháp truyền thống để tính giá

thành sản phẩm chịu sự chi phối lớn bởi việc lập báo cáo tài chính. Chi phí chung

được xác định 1 cách đơn giản, nghĩa là những chi phí chỉ liên quan đến hoạt động

sản xuất. Trong khi đó, một vài chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp có

liên quan đến sản phẩm nhưng khơng được tính vào giá thành sản phẩm vì những

quy định của việc lập báo cáo tài chính. Trong phương pháp ABC, trọng tâm của

phương pháp là giải quyết chi phí sản xuất chung 1 cách tồn diện hơn. Chi phí sản

xuất chung trong phương pháp ABC bao hàm một phạm vi rộng hơn, không chỉ



19



những chi phí liên quan trực tiếp đến sản xuất sản phẩm mà còn những chi phí

mang tính chất chung khác. Điều này có nghĩa là, giá thành sản phẩm sẽ là cơ sở sát

thực hơn cho việc định giá bán sản phẩm.

Innes (1994) cho rằng cả hai phương pháp tính giá đều trải qua hai giai đoạn.

Giai đoạn thứ nhất liên quan đến việc tập hợp chi phí đầu vào vào các trung tâm chi

phí. Giai đoạn hai là phân bổ chi phí cho từng sản phẩm, dịch vụ. Tuy nhiên, sự

khác nhau trong mỗi giai đoạn được thể hiện rõ qua sơ đồ sau:



20



Giai đoạn 1: Tập hợp

chi phí SXC theo các bộ phận



Bộ phận sản xuất



Chi phí

gián tiếp



Giai đoạn 2: Phân bổ chi phí SXC

theo các tiêu thức phân bổ chung



Tiêu thức phân bổ

dựa trên sản lượng



Bộ phận

sản xuất 1



Tiêu thức 1



Bộ phận

sản xuất 2



Tiêu thức 2



Bộ phận

sản xuất …



Tiêu thức…



Sản phẩm



S



n



S



n



p

h



m



p

h



m



A

B



Bộ phận

sản xuất n



Tiêu thức m



Sơ đồ 1.2: Hai giai đoạn tính giá của phương pháp truyền thống

Nguồn: Peter.B.B.Turney (1996), trang 81



21



Giai đoạn 1: Tâp hợp chi phí

SXC theo hoạt động



Chi phí

gián tiếp



Giai đoạn 2: Phân bổ chi phí SXC

của các hoạt động theo từng tiêu thức



Hoạt động



Tỉ lệ chi phí

trên hoạt động



Hoạt động 1



Tỉ lệ CP

trên HĐ 1



Hoạt động 2



Tỉ lệ CP

trên HĐ 2



Sản phẩm



S



n



S



n

p

h



m



Hoạt động...



Tỉ lệ CP

trên HĐ …



p

h



m



Hoạt động n



Tỉ lệ CP

trên HĐ m



A

B



Nguồn: Peter. B.B. Turney (1996), trang 81



Có thể thấy sự khác nhau cơ bản là ở chỗ phương pháp truyền thống sử dụng

Sơ đồ 1.3: Hai giai đoạn tính giá của phương pháp ABC

một tiêu thức phân bổ chung dựa trên sản lượng sản phẩm sản xuất ra hoặc chi phí

tiền lương của lao động trực tiếp đối với chi phí sản xuất chung. Tỷ trọng chi phí

tiền lương của công nhân trực tiếp thường là lớn đối với các doanh nghiệp nhỏ và

ngược lại chi phí này thường thấp hơn đối với các doanh nghiệp có quy mơ lớn. Các

loại sản phẩm có sản lượng lớn hơn, sử dụng nhiều giờ công lao động trực tiếp hơn

sẽ phải gánh chịu nhiều chi phí sản xuất chung hơn so với các sản phẩm có quy mơ

sản xuất ít. Trong khi đó, ở nhiều hoạt động phát sinh chi phí sản xuất chung, loại

sản phẩm sản xuất với quy mô nhỏ có thể tiêu dùng nhiều nguồn lực hơn các sản

phẩm khác. Sở dĩ như vậy là vì, các loại sản phẩm đặc biệt có tính phức tạp cao hơn

và các lơ sản phẩm có quy mơ nhỏ hơn. Hoặc trong một số trường hợp nhất định,

chi phí nhân cơng trực tiếp tỷ lệ nghịch với chi phí chi phí về máy móc thiết bị,

nghĩa là khi mức độ tự động hóa càng cao, chi phí khấu hao càng lớn thì chi phí về

nhân cơng sẽ thấp lại. Như vậy, sử dụng một tiêu thức phân bổ chung như chi phí

nhân cơng trực tiếp cho mọi loại chi phí sản xt gián tiếp là không phù hợp.



22



Cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hoá và dịch vụ, của kinh tế thị

trường, phương pháp kế tốn chi phí truyền thống với những đặc điểm nêu trên đã

tỏ ra khơng còn phù hợp, làm giảm giá trị của thông tin kế tốn đối với cơng tác

quản lý kinh doanh. Trong nền kinh tế còn kém phát triển, chi phí trực tiếp cấu

thành phần lớn giá trị sản phẩm. Do đó, việc phân bổ chi phí gián tiếp dù khơng hợp

lý, thậm chí bỏ qua khơng phân bổ vào giá thành sản phẩm các chi phí bán hàng, chi

phí quản lý cũng không ảnh hưởng lớn đến giá thành sản phẩm. Ngày nay, cùng với

sự phát triển của kinh tế thị trường, sự ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất

kinh doanh, chi phí gián tiếp này càng đóng vai trò quan trọng và chiếm tỷ trọng

cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Ví dụ: chi phí

nghiên cứu phát triển của các cơng ty dược, chi phi quảng cáo của các công ty nước

giải khát, các nhà sản xuất phim. Do mức độ trọng yếu của các chi phí gián tiếp này,

việc khơng phân bổ hay phân bổ không hợp lý sẽ khiến cho giá thành sản phẩm bị

phản ánh sai lệch, cản trở việc ra quyết định tối ưu của các nhà quản lý.

Bên cạnh đó, trong một nền kinh tế chưa phát triển, cạnh tranh chưa gay gắt,

các doanh nghiệp (đặc biệt là các doanh nghiệp có sản phẩm đặc thù) có thể chủ

động trong việc xác định giá bán cao hơn nhiều so với giá thành sản phẩm. Mức lợi

nhuận cao đó khiến cho thiệt hại do những quyết định kinh doanh không tối ưu trở

nên khó nhận biết hơn. Ví dụ, do xác định giá thành khơng chính xác nên một

doanh nghiệp có thể định giá bán thấp hơn giá thành thực tế cho một sản phẩm. Tuy

nhiên mức lỗ do định giá sai đó sẽ được bù đắp bởi mức lãi cao của các sản phẩm

khác. Kết quả là thiệt hại được giảm đi đáng kể. Ngược lại, trong một nền kinh tế

thị trường phát triển, mức độ cạnh tranh khốc liệt khiến cho các doanh nghiệp

không thể tự do xác định giá bán sản phẩm (trừ một số ít doanh nghiệp độc quyền).

Thay vào đó, thị trường sẽ quyết định mức giá bán. Trong điều kiện đó, những sai

sót trong việc xác định giá thành sản phẩm có thể khiến cho các doanh nghiệp phải

trả giá đắt.



23



Tóm lại, sự khác biệt cơ bản của 2 phương pháp này xuất phát từ cách tập

hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung đến từng đối tượng tính giá thành. Cụ thể như

sau:

Nội dung

Đối



tượng



Phương pháp tính giá truyền



Phương pháp tính giá ABC



thống

Chi phí được tập hợp theo cơng



tập hợp chi



việc, nhóm sản phẩm hay nơi phát Tập hợp dựa trên hoạt động



phí



sinh chi phí



Nguồn sinh Có nhiều nguồn sinh phí đối với

phí



đối tượng tập hợp chi phí.







Nguồn sinh phí xác định rõ.







Thường chỉ có 1 nguồn sinh phí

trong mỗi hoạt động.



Dựa trên một trong nhiều tiêu thức

phân bổ chi phí như: giờ công, tiền

Tiêu



thức lương, giờ máy,… Tuy nhiên,



phân bổ chi trong một số trường hợp, tiêu thức

phí



này kém thuyết phục làm cho việc







Dựa trên nhiều tiêu thức phân bổ

ở nhiều cấp độ khác nhau.







Tiêu thức lựa chọn thực sự là

nguồn sinh phí ở mỗi hoạt động.



phân bổ chi phí khơng được chính



xác.

Tính hợp lý Giá thành được tính hoặc quá cao Giá thành chính xác hơn, do vậy tin

và chính xác hoặc quá thấp.

Kiểm



soát Kiểm soát trên cơ sở trung tâm chi



chi phí



phí, phân xưởng, phòng, đơn vị.



thực hiện



và duy trì hệ thống này.



cậy trong việc ra quyết định.

Kiểm soát chi phí theo từng hoạt

động, cho phép những ưu tiên trong



quản trị chi phí.

Chi phí và Đơn giản, ít tốn kém để thực hiện Khá phức tạp, chi phí tương đối cao

để thực hiện và duy trì hệ hống này.



1.3.2. Ưu điểm của phương pháp ABC

Phương pháp ABC được giới thiệu đầu tiên vào giữa thập kỷ 80, bởi Robert

Kaplan và Robin Cooper, trước hết nhằm giải quyết những nhược điểm của phương

pháp kế tốn chi phí truyền thống nêu trên. Theo phương pháp ABC, giá thành sản

phẩm không chỉ bao gồm chi phí sản xuất mà là tồn bộ chi phí sản xuất kinh

doanh, bao gồm cả các chi phí gián tiếp như chi phí bán hàng, chi phí quản lý.



24



Như trình bày ở trên, do tỷ trọng chi phí gián tiếp ngày càng lớn, việc không

phân bổ các chi phí này vào giá thành sản phẩm có thể dẫn tới những ngộ nhận về

mức lợi tức sản phẩm và do đó sai lầm trong ra quyết định kinh doanh. Ví dụ, một

sản phẩm mới có thể có giá thành cơng xưởng nhỏ hơn các sản phẩm hiện tại,

nhưng đòi hỏi một khoản chi phí marketing lớn để đưa ra thị trường. Nếu chỉ căn cứ

vào giá thành công xưởng thì có thể thấy sản xuất sản phẩm đó sẽ mang lại lợi

nhuận cao hơn, nhưng nếu phân bổ đủ cả chi phí marketing tăng thêm thì có thể sản

phẩm đó sẽ bị lỗ.

Cùng với việc phân bổ tồn bộ các chi phí vào giá thành sản phẩm, phương

pháp ABC sử dụng một hệ thống các tiêu thức phân bổ được xây dựng trên cơ sở

phân tích chi tiết mối quan hệ nhân quả giữa chi phí phát sinh cho từng hoạt động

và mức độ tham gia của từng hoạt động vào quá trình sản xuất và kinh doanh sản

phẩm, thay vì chỉ sử dụng một tiêu thức phân bổ (ví dụ chi phí nhân cơng trực tiếp)

như phương pháp truyền thống. Các tiêu thức phân bổ do đó phản ánh chính xác

hơn mức độ tiêu hao nguồn lực thực tế của từng sản phẩm. Theo đó, ABC sẽ giúp

các nhà quản lý tránh được những quyết định sai lầm do sử dụng thơng tin khơng

chính xác về giá thành như trình bày ở trên. Ngồi ra, bên cạnh việc cung cấp thơng

tin chính xác về giá thành, ABC còn cung cấp thông tin chi tiết về cơ cấu chi phí

của từng sản phẩm, giúp cho nhà quản lý có thể linh hoạt hơn trong việc lập kế

hoạch ngân sách cũng như điều chỉnh các chính sách, chiến lược sản phẩm của

doanh nghiệp trong điều kiện thị trường luôn biến động.

Như vậy, có thể thấy phương pháp ABC cung cấp thơng tin giá thành chính

xác và hợp lý hơn so với phương pháp kế tốn chi phí truyền thống. Tuy nhiên, đó

chỉ là một trong những mục tiêu của ABC. Việc áp dụng ABC còn tạo điều kiện

nâng cao hiệu quả công tác quản lý doanh nghiệp thông qua các ứng dụng sau:

Để xây dựng được hệ thống các tiêu thức phân bổ chi phí, yêu cầu đầu tiên là

phải xác định được toàn bộ các hoạt động diễn ra trong doanh nghiệp trong một chu

kỳ sản xuất kinh doanh. Bước thứ hai, doanh nghiệp cần xác định mức chi phí cho



25



mỗi hoạt động trong từng kỳ. Cuối cùng, mức đóng góp của từng hoạt động vào

từng sản phẩm được xác định. Với những thông tin chi tiết như vậy, các nhà quản lý

có thể dễ dàng phân loại các hoạt động trong doanh nghiệp theo các nhóm: các hoạt

động có mức đóng góp cao vào giá trị sản phẩm (high value adding activities), các

hoạt động có mức đóng góp thấp (low value adding activities), và các hoạt động

khơng đóng góp, thậm chí là nhân tố cản trở q trình sản xuất kinh doanh (nonvalue adding activities/constraints). Trên cơ sở hiểu rõ tầm quan trọng của các hoạt

động, nhà quản lý có thể đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của

doanh nghiệp bằng cách loại bỏ những hoạt động khơng có đóng góp vào giá trị sản

phẩm, tổ chức lại các hoạt động có mức đóng góp thấp nhằm nâng cao hơn mức

đóng góp của các hoạt động này. Ngay đối với các hoạt động có mức đóng góp cao,

ABC cũng cung cấp thơng tin về q trình phát sinh chi phí, ngun nhân phát sinh

chi phí cho các hoạt động, qua đó tạo cơ hội cắt giảm chi phí kinh doanh. Cần lưu ý

việc cắt giảm chi phí kinh doanh ở đây được xét trên phạm vi tổng thể. Tức là nhà

quản lý có thể tăng chí phí cho một hoạt động cụ thể nào đó nhằm nâng cao mức

đóng góp của hoạt động đó vào q trình sản xuất kinh doanh, qua đó giảm giá

thành sản phẩm.

Ngày nay, trong một nền kinh tế thị trường phát triển, một xu hướng khá phổ

biến là việc các doanh nghiệp khơng còn tự mình thực hiện tồn bộ các hoạt động

sản xuất kinh doanh nữa mà chỉ tập trung vào một số khâu có hiệu quả nhất. Các

cơng đoạn khác sẽ được th ngồi (outsource). Ví dụ, năm 2005 hãng sản xuất

máy bay Airbus công bố thuê ngồi 70% các cơng đoạn trong q trình sản xuất

máy bay. Để ra quyết định th ngồi đó, các doanh nghiệp cần có các thơng tin chi

tiết về tồn bộ các hoạt động của mình, chi phí cho từng hoạt động, vai trò của từng

hoạt động trong tồn bộ q trình sản xuất kinh doanh. Trên cơ sở đó các nhà quản

lý có thể xác định được các hoạt động nào khơng thể th ngồi vì lý do bảo mật

cơng nghệ hoặc vì đó là các hoạt động có tính chất sống còn nên doanh nghiệp phải

ln chủ động kiểm sốt, các hoạt động doanh nghiệp có lợi thế so sánh nên tự thực

hiện sẽ hiệu quả hơn thuê ngoài, và các hoạt động thuê ngoài sẽ hiệu quả hơn. Có



26



thể thấy rằng phương pháp ABC cung cấp tồn bộ các thông tin này với mức độ tin

cậy cao hơn nhiều so với phương pháp truyền thống.

Một ưu điểm nữa của phương pháp ABC so với phương pháp truyền thống là

trong khi phương pháp truyền thống chỉ cung cấp thông tin về mức chi phí thì

phương pháp ABC còn cung cấp thơng tin về q trình và ngun nhân phát sinh

chi phí. Việc hiểu rõ q trình và ngun nhân phát sinh chi phí khơng chỉ giúp tìm

ra biện pháp thích hợp để cắt giảm chi phí mà còn giúp cho nhà quản lý có thể xây

dựng được một cơ chế đánh giá và khuyến khích nhân viên phù hợp, góp phần quan

trọng nâng cao hiệu suất làm việc của nhân viên, qua đó cải thiện hiệu quả sản xuất

kinh doanh của doanh nghiệp (Lợi, 2007). Cụ thể, các thông tin do ABC cung cấp

cho phép nhà quản lý có thể thấy rõ mối liên hệ giữa ba yếu tố: chi phí phát sinh mức độ hoạt động - mức độ đóng góp vào sản phẩm. Việc hiểu rõ mối liên hệ này sẽ

làm thay đổi tư duy quản lý từ chỗ tìm cách cắt giảm chi phí sang nâng cao giá trị

doanh nghiệp. Theo đó, một sự tăng chi phí sẽ khơng phải là khơng tốt nếu như lợi

ích tăng thêm (incremental benefit) cao hơn chi phí tăng thêm (incremental cost), và

do đó tạo ra giá trị tăng thêm (incremental value). Theo phương pháp kế toán truyền

thống, mối liên hệ này là khơng rõ ràng, theo đó các doanh nghiệp có xu hướng xây

dựng cơ chế khuyến khích gắn với việc giảm chi phí, gián tiếp hạn chế các cơ hội

làm tăng giá trị doanh nghiệp do nhân viên chỉ chú trọng tiết kiệm chi phí thay vì

tìm cách tạo ra giá trị gia tăng. Việc áp dụng phương pháp ABC sẽ cho phép doanh

nghiệp có thể xây dựng một cơ chế đánh giá và khuyến khích nhân viên dựa trên

mức độ tạo ra giá trị gia tăng thay vì dựa trên chí phí, qua đó nâng cao hiệu quả hoạt

động chung của doanh nghiệp.

Cuối cùng, việc áp dụng phương pháp ABC còn góp phần hỗ trợ hoạt động

marketing trong việc xác định cơ cấu sản phẩm cũng như chính sách giá. Đặc biệt

trong trường hợp doanh nghiệp có nhiều mặt hàng thì việc đàm phán với khách

hàng hay xử lý đơn hàng một cách nhanh chóng đòi hỏi phải có thơng tin chi tiết về

giá thành cũng như cơ cấu chi phí của từng sản phẩm, qua đó có thể xác định các

mức giá tối ưu cho các đơn hàng khác nhau với cơ cấu sản phẩm khác nhau. Nắm



27



được các thơng tin chi tiết và chính xác về chi phí cho các sản phẩm còn giúp doanh

nghiệp dễ dàng hơn trong việc cải tiến (customization) sản phẩm của mình nhằm

tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường bằng cách đưa thêm vào sản phẩm những

giá trị gia tăng trong điều kiện chi phí còn cho phép. Đồng thời, doanh nghiệp cũng

có thể chủ động xây dựng chiến lược marketing để định hướng nhu cầu khách hàng

vào các mặt hàng có lợi nhuận cao, thay thế cho các mặt hàng mà doanh nghiệp

khơng có lợi thế.

Tóm lại, tính ưu việt của ABC so với phương pháp truyền thông không chỉ ở

việc cung cấp thông tin về giá thành sản phẩm chính xác hơn, mà hơn thế nữa ABC

còn cung cấp thơng tin hữu ích cho cơng tác quản lý doanh nghiệp. Cụ thể, các

thông tin do ABC cung cấp giúp doanh nghiệp có thể quản lý tốt hơn chi phí sản

xuất kinh doanh, ra quyết định, xây dựng hệ thống đánh giá và quản lý nhân sự phù

hợp, hỗ trợ xây dựng chính sách giá, xác định cơ cấu sản phẩm, chiến lượng

marketing. Do việc áp dụng ABC trong thực tế khá phức tạp và tốn kém, kinh

nghiệp từ các nước phát triển cho thấy ABC thường được áp dụng thành công bởi

các doanh nghiệp quy mô lớn nhờ khả năng tài chính dồi dào và những lợi ích tăng

thêm do áp dụng ABC trong các doanh nghiệp lớn, phức tạp thường lớn hơn so với

trong các doanh nghiệp nhỏ, đơn giản.

1.3.3. Hạn chế của phương pháp ABC

Tuy có những ưu điểm rất lớn, phương pháp ABC vẫn có những hạn chế nhất

định. Garrison (1998), Blocher (1999), Wiriya Chongrksut (2002) đã chỉ ra một số

hạn chế của phương pháp ABC:

- Hạn chế lớn nhất của phương pháp ABC là tiêu tốn về chi phí và thời gian.

Các nghiên cứu cho thấy, cần một thời gian thường là hơn 1 năm để thiết kế và thực

hiện ABC để đi đến thành công.

- Khi áp dụng phương pháp ABC, vẫn có nhiều trường hợp khơng thể phân

bổ chi phí sản xuất chung chính xác, bởi vì ngun nhân gây ra chi phí khơng thể



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Trình tự thực hiện của giai đoạn này như sau:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×