Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Kết cấu luận văn

Kết cấu luận văn

Tải bản đầy đủ - 0trang

3



Chương 1: Lý luận cơ bản về kiểm soát nội bộ chu trình mua hàng và thanh

tốn trong doanh nghiệp.

Chương 2: Thực trạng kiểm sốt nội bộ chu trình mua hàng và thanh tốn tại

Cơng ty cổ phần Thép Đà Nẵng.

Chương 3: Tăng cường kiểm sốt nội bộ chu trình mua hàng và thanh tốn tại

Cơng ty cổ phần Thép Đà Nẵng.



4



TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Hoạt động kiểm tốn đã có lịch sử phát triển lâu dài và gắng với quá trình phát

triển kinh tế - Xã hội của lồi người. Để phục vụ cho nhu cầu đa dạng của xã hội,

những lĩnh vực và loại hình kiểm tốn khác nhau đã dần dần hình thành và ngày càng

đóng vai trò quan trọng trong các cơ quan, tổ chức, đặc biệt là hoạt động kiểm soát

nội bộ trong các doanh nghiệp. Hoạt động kiểm soát nội bộ giúp cho việc sử dụng

hợp lý các nguồn lực liên quan đến quá trình sản xuất kinh doanh, đến công tác kiểm

tra, giám sát các hoạt động của công ty. Đồng thời giúp cho các nhà quản lý phát hiện

ra những tồn tại, hạn chế, bất cập trong cơng tác kiểm sốt nội bộ, qua đó xây dựng

hệ thống kiểm sốt nội bộ vững mạnh, giảm bớt nguy cơ rủi ro tiềm ẩn trong sản xuất

kinh doanh để doanh nghiệp hoạt động một cách hiệu quả nhất. Điều này có thể

khẳng định rằng, hoạt động kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp sản xuất kinh

doanh là cần thiết và không thể thiếu. Đặc biệt là kiểm sốt nội bộ trong ngành cơng

nghiệp thép vì đây là ngành khá quan trọng trong quá trình cơng nghiệp hóa - Hiện

đại hóa đất nước như Bộ chính trị đã nhận định “Thép là vật liệu chủ yếu của nhiều

ngành cơng nghiệp, có vai trò quyết định tới sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại

hóa của đất nước”.

Trong kinh doanh, các nhà quản lý thường xây dựng hệ thống kiểm sốt nội bộ

trong doanh nghiệp mình để hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả tốt nhất. Với vị trí,

vai trò và tầm quan trọng của cơng tác kiểm soát nội bộ đã nêu ở trên, nên đã có rất

nhiều cơng trình khoa học nghiên cứu về đề tài Kiểm sốt nội bộ chu trình mua

hàng và thanh tốn ở nhiều lĩnh vực, nhiều ngành, nhiều khía cạnh khác nhau và có

thể kể đến một số cơng trình nghiên cứu sau:

+ “Tăng cường Kiểm soát nội bộ chu trình cung ứng tại Tổng cơng ty cổ phần

Dệt may Hòa Thọ”, Huỳnh Thị Cam Thảo, (2009), Luận văn thạc sĩ kinh tế, chuyên

ngành kế toán. Luận văn đã nghiên cứu thực tiễn chu trình cung ứng tại Tổng cơng ty

cổ phần Dệt may Hòa Thọ, đối tượng nghiên cứu là Kiểm sốt chu trình mua hàng và

Thanh tốn tại Tổng cơng ty Dệt may Hòa Thọ. Tác giả đã chỉ ra những tồn tại, hạn



5



chế trong quá trình mua hàng và thanh toán cũng như những bất cập trong hệ thống

kiểm sốt nội bộ của cơng ty đồng thời đề xuất các giải pháp để khắc phục.

+ “Tăng cường Kiểm sốt nội bộ chu trình mua hàng và thanh tốn tại cơng ty

cổ phần Dược vật tư y tế Quảng Nam”, Nguyễn Thị Hạnh, (2010), Luận văn thạc sĩ

kinh tế, chuyên ngành kế toán. Luận văn đã nghiên cứu thực tiễn chu trình mua hàng

và thanh tốn tại cơng ty Cổ phần dược vật tư y tế Quảng Nam. Đối tượng nghiên cứu

là Kiểm sốt chu trình mua hàng và thanh tốn tại cơng ty cổ phần Dược vật tư y tế

Quảng Nam. Luận văn chỉ ra những tồn tại bất cập trong cơng tác kiểm sốt nội bộ tại

công ty, nguyên nhân dẫn đến những tồn tại, yếu kém đồng thời đề xuất các gải pháp

nhằm nâng cao hiệu quả kiểm sốt nội bộ tại cơng ty và một số đề tài khác như:

+ “Tăng cường kiểm soát nội bộ về chi phí ở các doanh nghiệp thuộc khu quản

lý đường bộ 5”, Trịnh Thị Hoàng Dung, 2006, Luận văn thạc sĩ kinh tế, chuyên ngành

kế toán.

+ “Tăng cường kiểm sốt nội bộ chu trình bán hàng - Thu tiền tại cơng ty cổ

phần Kim khí miền Trung”, Bùi Minh Nam, 2010, Luận văn thạc sĩ kinh tế, chun

ngành kế tốn.

+ “Kiểm sốt nội bộ chu trình bán hàng và thu tiền tại công ty cổ phần Sách và

Thiết bị trường học Đà Nẵng, Nguyễn Thị Điệp, 2010, Luận văn thạc sĩ kinh tế,

chun ngành kế tốn.

+ “Hồn thiện hệ thống kiểm sốt nội bộ chi phí sản xuất tại công ty Sông Thu

Đà Nẵng”, Trần Thị Sáu, 2008, Hội nghị sinh viên nghiên cứu khoa học – Đại Học

Đà Nẵng.

Qua nghiên cứu các luận văn trên, các tác giả đã hệ thống hóa và đưa ra các

giải pháp nhằm tăng cường Kiểm sốt nội bộ chu trình mua hàng và thanh tốn tại

các cơng ty, tuy nhiên các nghiên cứu trên còn bao quát, chung chung chưa đi vào các

nghiệp vụ cụ thể, chưa chỉ ra được những nguyên nhân khách quan và chủ quan của

những tồn tại, hạn chế, bất cập trong hệ thống kiểm soát nội bộ, các giải pháp đưa ra

khó thực hiện hoặc chưa phù hợp với tình hình thực tế tại cơng ty, chưa đề cập đến

vấn đề kiểm soát nội bộ chu trình mua hàng và thanh tốn trong doanh nghiệp sản

xuất Thép nói chung và tại cơng ty Cổ phần Thép nói riêng. Cho đến nay, chưa có đề



6



tài khoa học nào nghiên cứu về kiểm soát nội bộ chu trình mua hàng và thanh tốn tại

cơng ty cổ phần Thép Đà Nẵng. Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Kiểm sốt nội bộ chu

trình mua hàng và thanh tốn tại công ty cổ phần Thép Đà Nẵng” làm luận văn tốt

nghiêp. Để từ đó tìm ra những hạn chế, bất cập trong việc kiểm sốt chu trình mua

hàng và thanh tốn đồng thời đưa ra các giải pháp hồn thiện hệ thống kiểm soát nội

bộ, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty.



7



CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KIỂM SỐT NỘI BỘ CHU TRÌNH

MUA HÀNG VÀ THANH TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP

1.1. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ

1.1.1. Khái niệm về kiểm soát nội bộ

Theo Ủy ban của Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về việc chống gian lận về báo

cáo tài chính (COSO): “Kiểm sốt nội bộ là một q trình bị chi phối bởi người quản

lý, Hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị, nó được thiết lập để cung cấp một

sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu sau đây:

- Sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động.

- Sự tin cậy của báo cáo tài chính.

- Sự tuân thủ pháp luật và các quy định.” [2;1]

Trong định nghĩa trên, bốn nội dung cơ bản là kiểm sốt nội bộ là một q

trình, con người, đảm bảo hợp lý và các mục tiêu. Chúng được hiểu như sau:

- Kiểm soát là một quá trình. Thơng qua q trình lập kế hoạch, thực hiện và

giám sát. Để đạt được mục tiêu mong muốn, đơn vị cần kiểm sốt các hoạt động của

mình, Kiểm sốt nội bộ khơng phải là một sự kiện hay tình huống mà là một chuỗi

các hoạt động hiện diện trong mỗi bộ phận, quặn chặt vào hoạt động của tổ chức và là

một nội dung cơ bản trong hoạt động của tổ chức. Kiểm soát nội bộ sẽ hữu hiệu khi

nó là một bộ phận khơng tách rời chứ khơng phải chức năng bổ sung cho các hoạt

động của tổ chức.

- Kiểm soát nội bộ được thiết lập và vận hành bởi con người, đó là Hội đồng

quản trị, Ban giám đốc, nhà quản lý và các nhân viên trong đơn vị. Kiểm sốt nội bộ

là một cơng cụ được nhà quản lý sử dụng chứ không thay thế nhà quản lý. Nói cách

khác, nó được thực hiện bởi những con người trong tổ chức, bởi suy nghĩ và hành

động của họ. Chính họ sẽ vạch ra mục tiêu, đưa ra biện pháp kiểm soát và vận hành

chúng.

- Kiểm soát nội bộ cung cấp sự đảm bảo hợp lý. Vì khi vận hành hệ thống

kiểm sốt, những yếu kém có thể xảy ra do những sai lầm của con người nên dẫn đến



8



không thực kiện được các mục tiêu. Kiểm sốt nội bộ có thể ngăn chặn và phát hiện

những sai phạm nhưng không thể đảm bảo là chúng không bao giờ xảy ra. [1]

Theo liên đồn kế tốn quốc tế (IFAC): “Kiểm soát nội bộ là một chức năng

thường xuyên của các đơn vị, tổ chức và trên cơ sở xác định rủi ro có thể xảy ra trong

từng khâu cơng việc để tìm ra biện pháp ngăn chặn nhằm thực hiện có hiệu quả tất cả

các mục tiêu đặt ra của đơn vị:

- Bảo vệ tài sản của đơn vị.

- Đảm bảo độ tin cậy của các thông tin.

- Bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý.

- Bảo đảm hiệu quả của hoạt động và năng lực quản lý.”

Theo chuẩn mực 400 của Bộ tài chính (Ban hành theo Quyết định số

143/2001/QĐ-BTC ngày 21 tháng 12 năm 2001 của Bộ tài chình): Kiểm sốt nội bộ

là các quy định và các thủ tục kiểm soát do đơn vị được kiểm toán xây dựng và áp

dựng nhằm đảm bảo cho đơn vị tuân thủ pháp luật và các quy định, để kiểm tra, kiểm

soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót; để lập báo cáo tài chính trung thực và

hợp lý; nhằm bảo vệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản của đơn vị. [3]

Kiểm sốt nội bộ là tồn bộ những chính sách và thủ tục do ban Giám đốc đơn

vị thiết lập nhằm đảm bảo việc quản lý chặt chẽ và sự hiệu quả của các hoạt động

trong khả năng có thể. Các thủ tục này đòi hỏi việc tn thủ các chính sách quản lý,

bảo quản tài sản, ngăn ngừa và phát hiện ra sai sót hay gian lận, tính đầy đủ và chính

xác của các ghi chép kế toán, đảm bảo lập các báo cáo trong thời gian mong muốn.

1.1.2. Mục tiêu của Kiểm soát nội bộ

Kiểm soát nội bộ là một chức năng thường xuyên của các đơn vị, tổ chức và

trên cơ sở xác định rủi ro có thể xảy ra trong từng khâu cơng việc để tìm ra biện pháp

ngăn chặn nhằm thực hiện có hiệu quả các mục tiêu đặt ra của đơn vị:

Mục tiêu 1: Bảo vệ tài sản của đơn vị.

Tài sản của đơn vị bao gồm cả tài sản vơ hình và tài sản hữu hình, chúng có

thể bị đánh cắp, lạm dụng vào những mục đích khác nhau hoặc bị hư hại nếu không

được bảo vệ bởi một hệ thống Kiểm sốt nội bộ thích hợp. Ngồi những tài sản, vật

chất hiện hữu, trong đơn vị còn có những tài sản phi vật chất như sổ sách kế toán, các



9



tài liệu quan trọng khác,…cũng cần được bảo vệ và bảo mật, nếu không sẽ gây ảnh

hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị.

Mục tiêu 2: Đảm bảo độ tin cậy của các thông tin

Thông tin kinh tế, tài chính do bộ máy kế tốn xử lý và tổng hợp là căn cứ

quan trọng cho việc hình thành các quyết định của nhà quản lý.

Như vậy, thông tin cung cấp phải :

- Đảm bảo tính kịp thời về thời gian, tính chính xác và tin cậy về thực trạng

hoạt động.

- Phản ánh đầy đủ và khách quan các nội dung chủ yếu của hoạt động kinh tế,

tài chính của đơn vị.

Mục tiêu 3: Đảm bảo việc thực hiện các chế độ pháp lý

Hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết lập trong doanh nghiệp do nhà quản lý

xây dựng dựa vào những điều kiện thực tế và khả năng thực hiện tại đơn vị mình. Tuy

nhiên, hệ thống kiểm soát nội bộ vẫn phải đảm bảo tuân thủ tuyệt đối các quyết định

và chế độ pháp lý liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hệ

thống kiểm sốt nội bộ cần:

- Duy trì và kiểm tra việc tn thủ các chính sách có liên quan đến các hoạt

động của doanh nghiệp.

- Ngăn chặn và phát hiện kịp thời cũng như xử lý các sai phạm và gian lận

trong mọi hoạt động của doanh nghiệp.

- Đảm bảo việc ghi chép kế toán đầy đủ, khách quan, chính xác cũng như việc

lập báo cáo tài chính trung thực và hợp lý.

Mục tiêu 4: Bảo đảm hiệu quả của hoạt động và năng lực quản lý

Các quá trình kiểm sốt trong đơn vị được thiết kế nhằm ngăn ngừa sự lặp lại

không cần thiết các tác nghiệp, gây ra sự lãng phí trong hoạt động và sử dụng kém

hiệu quả các nguồn lực trong doanh nghiệp. Bên cạnh đó, định kỳ các nhà quản lý

thường đánh giá kết quả hoạt động của doanh nghiệp, tình hình thực hiện các quy

định, chính sách trong hệ thống Kiểm sốt nội bộ cũng như số lượng và tính chất

các sai phạm xảy ra. Từ đó thiết lập lại các hệ thống kiểm soát nội bộ với cơ chế



10



giám sát thiết thực, hữu hiệu hơn nhằm nâng cao năng lực quản lý, khả năng điều

hành bộ máy quản lý doanh nghiệp.

1.1.3. Các bộ phận cấu thành của Kiểm soát nội bộ

1.1.3.1. Mơi trường kiểm sốt

Mơi trường kiểm sốt bao gồm tồn bộ nhân tố bên trong và bên ngồi đơn vị

có tác động đến việc thiết kế, hoạt động và xử lý dữ liệu của các loại hình kiểm sốt

nội bộ. Các nhân tố thuộc mơi trường kiểm sốt chủ yếu liên quan đến quan điểm,

thái độ nhận thức cũng như hành động của nhà quản lý trong doanh nghiệp.

- Đặc thù về quản lý: Các đặt thù về quản lý đề cập đến các quan điểm và nhận

thức khác nhau trong điều hành quản lý của các nhà quản lý. Các quan điểm đó sẽ

ảnh hưởng đến chính sách, chế độ, các quy định và cách thức tổ chức kiểm tra, kiểm

sốt trong doanh nghiệp.

Mỗi nhà quản lý có nhận thức, phong cách lãnh đạo khác nhau. Có nhà quản lý

rất quan tâm tới việc lập BCTC và việc hoàn thành vượt mức kế hoạch đã đề ra. Đối

với phong cách này, nhà quản lý trong quá trình kinh doanh sẽ rất thận trọng để giảm

rủi ro cho các số liệu và thơng tin chính xác, đáng tin cậy. Vì vậy, thủ tục kiểm soát

cần được xây dựng hiệu quả. Ngược lại, có nhà quản lý lại hài lòng với những hoạt

động kinh doanh có mức rủi ro cao nhưng có thể thu được nhiều lợi nhuận. Như vậy

thì số liệu trên BCTC sẽ không trung thực, không đủ độ tin cậy.

- Cơ cấu tổ chức: Cơ cấu tổ chức là một trong những nhân tố đóng vai trò quan

trọng đối với việc chỉ đạo, kiểm soát các hoạt động sản xuất, kinh doanh của đơn vị.

Một cơ cấu tổ chức hợp lý góp phần ngăn ngừa có hiệu quả hành vi gian lận, sai

sót trong hoạt động tài chính doanh nghiệp.

Để thiết lập một cơ cấu tổ chức thích hợp và có hiệu quả, các nhà quản lý phải

tuân thủ các nguyên tắc sau:

+ Thiết lập được sự điều hành và kiểm sốt trên tồn bộ hoạt động của doanh

nghiệp, khơng bỏ sót lĩnh vực nào, đồng thời khơng có sự chồng chéo giữa các bộ

phận.

+ Thực hiện sự phân chia rành mạch 3 chức năng: Xử lý nghiệp vụ, ghi chép

sổ sách và bảo quản tài sản.



11



+ Đảm bảo sự độc lập tương đối giữa các bộ phận nhằm đạt được hiệu quả cao

nhất trong hoạt động của các bộ phận chức năng.

- Chính sách nhân sự: Bao gồm công tác quản lý và chế độ quản lý nhân sự

đối với việc tuyển dụng, huấn luyện, đề bạt, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công nhân

viên trong đơn vị. Sự phát triển của mọi doanh nghiệp luôn gắn liền với đội ngũ nhân

viên và họ luôn là nhân tố quan trọng trong mơi trường kiểm sốt đồng thời là chủ thể

trực tiếp thực hiện mọi thủ tục kiểm sốt trong hoạt động của doanh nghiệp.

- Cơng tác kế hoạch: Cơng tác lập kế hoạch và dự tốn có ý nghĩa rất lớn trong

kiểm soát nội bộ. Hệ thống kế hoạch và dự toán bao gồm các kế hoạch sản xuất, tiêu

thụ, thu chi quỹ, kế hoạch hay dự án đầu tư, sửa chữa tài sản cố định, đặc biệt là kế

hoạch tài chính gồm những ước tính cân đối tình hình tài chính, kết quả hoạt động và

sự luân chuyển tiền trong tương lai,...là những nhân tố quan trọng trong mơi trường

kiểm sốt. Nếu việc lập và thực hiện kế hoạch được tiến hành một cách khoa học và

nghiêm túc thì hệ thống kế hoạch và dự án sẽ trở thành cơng cụ kiểm sốt hữu hiệu.

- Uỷ ban kiểm soát

Uỷ ban kiểm soát bao gồm những người trong bộ máy lãnh đạo cao nhất của

đơn vị như thành viên của Hội đồng quản trị nhưng không kiêm nhiệm các chức vụ

quản lý và những chuyên gia am hiểu về lĩnh vực kiểm soát. Uỷ ban kiểm soát

thường có nhiệm vụ, quyền hạn sau:

+ Giám sát việc chấp hành luật pháp của Công ty

+ Kiểm tra và giám sát cơng việc của kiểm tốn viên nội bộ

+ Giám sát tiến trình lập báo cáo tài chính

+ Dung hồ những bất đồng (nếu có) giữa Ban giám đốc với Kiểm tốn viên

bên ngồi.

- Bộ phận kiểm tốn nội bộ

Kiểm toán nội bộ là một bộ phận độc lập được thiết lập trong đơn vị, tiến hành

công việc kiểm tra, giám sát và đánh giá các hoạt động phục vụ yêu cầu quản trị nội

bộ đơn vị. Bộ phận kiểm tốn nội bộ cung cấp thơng tin, đánh giá thường xuyên về

toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp. Bộ phận kiểm toán nội bộ hoạt động hữu hiệu sẽ

giúp cho doanh nghiệp có những thơng tin kịp thời và xác thực về các hoạt động của



12



doanh nghiệp, từ đó kịp thời điều chỉnh, bổ sung các quy chế, thủ tục kiểm sốt mới

thích hợp và hữu hiệu hơn.

- Mơi trường bên ngồi

Mơi trường kiểm sốt chung của doanh nghiệp còn phụ thuộc vào các nhân tố

bên ngoài. Các nhân tố này tuy khơng thuộc sự kiểm sốt của nhà quản lý nhưng có

ảnh hưởng rất lớn đến thái độ, phong cách điều hành của các nhà quản lý cũng như sự

thiết kế và vận hành các quy chế và thủ tục kiểm soát nội bộ. Các nhân tố này bao

gồm: Luật pháp, sự kiểm soát của cơ quan Nhà nước, ảnh hưởng của các chủ nợ,

đường lối phát triển của đất nước.

Như vậy, mơi trường kiểm sốt bao gồm tồn bộ những nhân tố có ảnh hưởng

lớn đến q trình thiết kế, vận hành và xử lý dữ liệu của hệ thống kiểm sốt nội bộ

doanh nghiệp, trong đó nhân tố chủ yếu và quan trọng là nhận thức về hoạt động

kiểm tra, kiểm soát và điều hành hoạt động của các nhà quản lý doanh nghiệp.

1.1.3.2. Hệ thống kế tốn

Thơng qua việc ghi nhận, tính tốn, phân loại, kết chuyển vào sổ cái, tổng hợp

và lập báo cáo, hệ thống kế tốn khơng những cung cấp những thơng tin cần thiết cho

q trình quản lý mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm sốt các mặt hoạt

động của đơn vị nên nó là một bộ phận quan trọng trong soát nội bộ.

Một hệ thống kế toán hữu hiệu phải đảm bảo cho các mục tiêu tổng quát sau

đây sẽ được thực hiện:

Tính có thực: Cơ cấu kiểm sốt khơng cho phép ghi chép những nghiệp vụ

khơng có thực vào sổ sách của đơn vị.

Sự phê chuẩn: Bảo đảm mọi nghiệp vụ xảy ra phải được phê chuẩn hợp lý.

Tính đầy đủ: Bảo đảm việc phản ánh trọn vẹn các nghiệp vụ kinh tế phát sinh.

Sự đánh giá: Bảo đảm khơng có sai phạm trong tính tốn các giá và phí.

Sự phân loại: Bảo đảm các nghiệp vụ được ghi chép đúng theo sơ đồ tài khoản

và ghi nhận đúng đắn ở các loại sổ sách kế tốn.

Tính đúng kỳ: Bảo đảm việc ghi sổ các nghiệp vụ phát sinh được thực hiện kịp

thời theo quy định.



13



Quá trình luân chuyển sổ và tổng hợp chính xác: Số liệu kế toán được ghi vào

sổ phải được tổng cộng và chuyển sổ đúng đắn, tổng hợp chính xác trên các Báo cáo

tài chính của doanh nghiệp.

Bất kỳ một hệ thống kế toán nào cũng được thực hiện qua 3 giai đoạn sau:

- Lập chứng từ kế toán

Đây là giai đoạn đầu tiên và đóng vai trò quan trọng trong quy trình kế tốn

nói riêng và trong hệ thống kiểm sốt nội bộ nói chung. Ngay sau khi nghiệp vụ kinh

tế phát sinh, kế toán tiến hành lập báo cáo chứng từ liên quan, phản ánh đầy đủ, chính

xác, trung thực mọi nghiệp vụ phát sinh. Nhằm cung cấp các thông tin kế tốn, tài

chính chính xác, trung thực. Các chứng từ kế toán được lập phải đảm bảo hợp lý, hợp

lệ, hợp pháp. Qua đó có thể ngăn ngừa, hạn chế sai phạm xảy ra.

- Ghi chép sổ sách kế tốn

Đây là giai đoạn chính trong tiến trình xử lý số liệu kế toán bằng việc thu thập,

ghi chép, phân loại, tính tốn, tổng hợp,...để chuẩn bị cung cấp thơng tin tổng hợp

trên báo cáo tài chính. Trong Kiểm sốt nội bộ, hệ thống sổ sách kế tốn có vai trò rất

quan trọng, là cầu nối trung gian giữa chứng từ và báo cáo tài chính. Sổ sách kế tốn

cũng là cơ sở để kiểm tra, đối chiếu, truy cập lại chứng từ khi cần thiết.

- Lập báo cáo tài chính

Đây là giai đoạn cuối cùng của q trình xử lý, kế toán tiến hành tổng hợp số

liệu ở sổ sách đưa ra một con số tổng hợp cụ thể của từng chỉ tiêu thể hiện trên báo

cáo tài chính. Người đọc nhìn vào số liệu trên báo cáo tài chính có thể biết được tình

hình hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng như tình hình tài chính của đơn vị tại

thời điểm lập báo cáo tài chính. Các nhà lãnh đạo căn cứ vào các số liệu trên báo

cáo tài chính có thể phân tích, phát hiện ra những vấn đề bất thường của số liệu để

từ đó tìm ra nguyên nhân và cách giải quyết.

Trong doanh nghiệp, hằng năm phải lập báo cáo tài chính vào cuối năm theo

quy định của Nhà nước và theo nhu cầu quản lý, các thông tin được thể hiện trên báo

cáo tài chính phải phản ánh trung thực tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh

của đơn vị. Báo cáo tài chính phải được trình bày tn thủ đúng theo các chuẩn mực

kế tốn hiện hành. Ngồi báo cáo tài chính ra, doanh nghiệp còn có hệ thống báo cáo



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Kết cấu luận văn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×