Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Giá trị doanh nghiệp là tổng hiện giá của tất cả thu nhập có khả năng mang lại trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh.

Giá trị doanh nghiệp là tổng hiện giá của tất cả thu nhập có khả năng mang lại trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh.

Tải bản đầy đủ - 0trang

9



- Giá trị thực tế của doanh nghiệp: là tổng giá trị thực tế của tài sản (hữu hình

và vơ hình) thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp tính theo giá thị trường tại thời

điểm xác định giá trị doanh nghiệp.

- Giá trị lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp: là giá trị tăng thêm do các yếu

tố lợi thế tạo ra như vị trí địa lý, thương hiệu, thị trường và thị phần trong nước

cũng như nước ngoài, của doanh nghiệp.

1.2.2. Mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và giá trị doanh nghiệp

Phân tích EBIT -EPS có thể được dùng để giúp doanh nghiệp xác định khi nào

tài trợ nợ có lợi và khi nào tài trợ bằng vốn cổ phần có lợi hơn.

b. Phân tích điểm hòa vốn EBIT

Giả sử có 2 phương án:

+ Phương án 1: Doanh nghiệp sử dụng 100 % vốn cổ phần

+ Phương án 2: Cùng 1 số vốn như phương án 1 nhưng nguồn vốn tài

trợ là nguồn hỗn hợp bao gồm nợ và vốn cổ phần.

Đây là kế hoạch tài chính cùng với một qui mô về vốn của cùng một công ty

nên EBIT của 2 phương án là như nhau

Ta có EBIT của phương án 1 và phương án 2 như sau:

Phương án 1:



EBIT(1-T)

EPS 1



=

NE



Phương án 2:

(EBIT – R)(1-T)

EPS 2



=

NDE



Trong đó:

R: lãi vay

NE: Vốn chủ sở hữu phương án 1

NDE: Vốn chủ sở hữu phương án 2

Điểm hòa vốn EBIT chính là EBIT thỏa điều kiện EPS1 = EPS



2



10



EBIT(1-T)



(EBIT – R)(1-T)

=



NE



NDE



Do 2 phương án có phương thức tài trợ khác nhau dẫn đến khi EBIT thay đổi

làm cho EPS của các phương án thay đổi khác nhau.

Từ đồ thị ta thấy rủi ro tài chính của phương án 2 sẽ lớn hơn phương án 1.

Đường biểu diễn của phương án 2 có độ dốc nhiều hơn ,nghĩa là mức độ nhạy cảm

của EPS khi EBIT thay đổi trong phương án này cao hơn phương án doanh nghiệp

được tài trợ 100% vốn cổ phần.

Hai đường biểu diễn của 2 phương án cắt nhau tại 1 điểm , điểm này được gọi

là điểm hòa vốn EBIT. Qua đó ta thấy có 3 trường hợp xảy ra:

Nếu EBIT của doanh nghiệp nhỏ hơn điểm hòa vốn EBIT thì doanh nghiệp

nên duy trì cấu trúc vốn100% vốn cổ phần. Lúc này EBIT của doanh nghiệp nằm

trong khoảng giá trị bên trái điểm EBIT hòa vốn trên đồ thị .Do đó trong trường hợp

này đường biểu diễn EPS của phương án 1 sẽ nằm trên đường biểu diễn của phương

án 2 nghĩa là EPS1> EPS2

Nếu EBIT của doanh nghiệp bằng đúng điểm hòa vốn EBIT thì doanh nghiệp

có thể tài trợ bằng bất cứ phương án nào cũng đem lại cùng giá trị EPS.

Nếu EBIT của doanh nghiệp vượt qua điểm hòa vốn EBIT thì doanh nghiệp

nên sử dụng đòn cân nợ. Lúc này EBIT của doanh nghiệp nằm trong khoảng giá trị

bên phải điểm hòa vốn EBIT do đó trong trường hợp này đường biểu diễn EPS của

phương án 2 sẽ nằm trên đường biểu diễn của phương án 1 tức là EPS2 > EPS1

Lý thuyết trên được áp dụng đối với công ty cổ phần. Còn đối với doanh

nghiệp nhà nước, dựa vào lý thuyết trên ta có sự thay đổi như sau: EPS được thay

thế bằng chỉ tiêu lãi ròng /vốn chủ sở hữu.

Lúc này EBIT hòa vốn sẽ được xác định thơng qua việc so sánh lãi ròng / vốn

chủ sở hữu giữa các phương án.

Tóm lại: Việc sử dụng nợ trong cấu trúc vốn của doanh nghiệp có thể làm lợi

nhuận tăng nhanh đồng thời cũng làm gia tăng thêm rủi ro cho doanh nghiệp. Vì



11



vậy việc phân tích điểm hòa vốn EBIT của doanh nghiệp là tối cần thiết cho quyết

lựa chọn cấu trúc nguồn vốn tối ưu cho doanh nghiệp

Nếu ta cho rằng một doanh nghiệp nếu vượt quá điểm hòa vốn EBIT thì một

cấu trúc vốn thiên về sử dụng đòn bẩy tài chính tỏ ra có lợi cho cổ đơng nhiều hơn

do EPS cao hơn thì chưa chắc đã chính xác vì ta đã bỏ qua yếu tố giá cổ phần doanh

nghiệp,có thể EPS tăng nhưng giá cổ phần khơng tăng thậm chí có thể giảm.

1.2.3. Khái niệm cấu trúc vốn tối ưu

Một trong những vấn đề luôn làm quan tâm của các nhà quản trị tài chính

doanh nghiệp là xây dựng cấu trúc vốn của doanh nghiệp như thế nào, vốn chủ sở

hữu bao nhiêu, vay ngân hàng bao nhiêu để có thể làm tối đa hóa giá trị của doanh

nghiệp, cụ thể là tối đa hóa giá trị thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS) và chi phí sử

dụng vốn thấp nhất. Cấu trúc vốn đề cập tới cách thức doanh nghiệp tìm kiếm

nguồn tài chính thơng qua các phương án kết hợp giữa bán cổ phần, quyền chọn

mua cổ phần, phát hành trái phiếu và đi vay. Một cấu trúc vốn phù hợp là quyết định

quan trọng với mọi doanh nghiệp không chỉ bởi nhu cầu tối đa hóa lợi ích thu được

từ các cá nhân và tổ chức liên quan tới doanh nghiệp và hoạt động của doanh

nghiệp mà còn bởi tác động của quyết định này tới năng lực kinh doanh của doanh

nghiệp trong môi trường cạnh tranh.

Vậy Cấu trúc vốn tối ưu là cấu trúc vốn mà tại đó tối thiểu hóa chi phí sử

dụng vốn, tối thiểu hóa rủi ro và tối đa hóa giá trị doanh nghiệp.

Tức là một doanh nghiệp muốn đạt tới cấu trúc vốn tối ưu thì tối thiểu phải

thõa mãn 3 điều kiện chính :

+ Tỷ suất lợi nhuận cao nhất

+ Chi phí và rủi ro thấp nhất

+ Giá trị doanh nghiệp cao nhất.

Một cấu trúc vốn tối ưu của doanh nghiệp được xác định bởi các yếu tố như

rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp, thuế suất thuế TNDN, thuế thu nhập cá nhân,

mức độ phá sản nếu có, chi phí đại lý, và vai trò của chính sách cấu trúc vốn trong

việc cung cấp các tín hiệu về thành quả của doanh nghiệp cho các thị trường vốn.



12



Ngoài ra, các quyết định cấu trúc vốn trong thực tiễn còn bị chi phối bởi các tiêu

chuẩn ngành, tác động của tín hiệu, ưu tiên quản trị, mức độ ưa thích của các nhà

quản lý và thậm chí là các vấn đề về đạo đức nữa.

1.2.4. Các lý thuyết về cấu trúc vốn tối ưu

1.2.4.1. Lý thuyết cấu trúc vốn theo quan điểm truyền thống

Theo quan điểm về cấu trúc vốn truyền thống cho rằng nợ vay có nhiều điểm

thuận lợi, với chi phí thấp và rào chắn từ thuế. Từ đó, nếu doanh nghiệp càng tăng

nợ vay lên thì chi phí sử dụng vốn WACC sẽ giảm xuống.

Tuy nhiên, khi tỷ lệ giữa vốn nợ và vốn chủ sở hữu tăng, tác động của tỷ lệ

vốn vay so với tổng vốn buộc các chủ sở hữu tăng lợi tức yêu cầu của họ (nghĩa là

chi phí vốn chủ sở hữu tăng). Ở mức tỷ lệ vốn nợ và vốn chủ sở hữu cao, chi phí nợ

cũng tăng bởi vì khả năng doanh nghiệp khơng trả được nợ là cao hơn ( nguy cơ phá

sản cao hơn), Vì vậy, ở mức tỷ số giữa vốn nợ và vốn chủ sở hữu cao hơn, WACC

sẽ tăng.

Vấn đề chính của quan điểm truyền thống là khơng có một lý thuyết cơ sở thể

hiện chi phí VCSH nên tăng bao nhiêu do tỷ lệ giữa vốn nợ và VCSH hay chi phí

nợ nên tăng bao nhiêu do nguy cơ vỡ nợ

1.2.4.2. Lý thuyết cấu trúc vốn theo quan điểm của Modigliani và Miller

Giải thiết: Họ giả định thị trường vốn là hồn hảo, vì vậy sẽ khơng có các chi

phí giao dịch và tỷ lệ vay giống như tỷ lệ cho vay và bằng với tỷ lệ vay miễn phí;

Việc đánh thuế được bỏ qua và nguy cơ được tính hồn tồn bằng tính khơng ổn

định của các luồng tiền.

Mặc dù những giả định về thị trường vốn hòan hảo là khơng có thực, tuy

nhiên, có 2 giả thiết cần được nhấn mạnh và chúng có tác động đáng kể đến kết quả:

1. Giả định là khơng có việc đánh thuế: Đây là vấn đề quan trọng và một trong

những thuận lợi then chốt của nợ là việc giảm nhẹ thuế cho những chi tiêu tiền lãi.

2. Nguy cơ trong lý thuyết MM được tính tốn hồn tồn bởi tính biến đổi của

các luồng tiền. Họ bỏ qua khả năng các luồng tiền có thể dừng vì vỡ nợ. Đây là vấn

đề đáng kể khác với lý thuyết này nếu nợ cao.



13



Đưa ra giả định này có nghĩa chỉ có một thuận lợi của viêc vay tiền ( nợ rẻ hơn

và ít rủi ro cho nhà đầu tư) và một bất lợi (chi phí VCSH tăng cùng với nợ vì tỷ lệ

vốn vay so với tổng vốn)

Modigliani và Miller chỉ ra là những tác động này cân bằng một cách chính

xác. Việc sử dụng nợ mang đến cho chủ sở hữu tỷ suất lợi tức cao hơn, nhưng lợi

tức cao hơn này chính xác là những gì họ bù đắp cho nguy cơ tăng lên từ tỷ lệ vốn

vay so với tổng vốn. Với các giả thiết trên, dẫn đến các phương trình cho lý thuyết

M&M

Vg = V u

Tổng giá trị của doanh nghiệp sử dụng nợ = Tổng giá trị doanh nghiệp không

sử dụng nợ

Năm 1963, Modigliani và Miller đưa ra một nghiên cứu tiếp theo với việc loại

bỏ giả thiết về thuế thu nhập doanh nghiệp. Theo M&M, với thuế TNDN, việc sử

dụng nợ sẽ làm tăng giá trị của doanh nghiệp. Vì chi phí lãi vay là chi phí hợp lý

được khấu trừ khi tính thuế TNDN, do đó mà một phần thu nhập của doanh nghiệp

có sử dụng nợ được chuyển cho các nhà đầu tư theo phương trình :

Vg =Vu + T.D

Giá trị của doanh nghiệp sử dụng nợ = Giá trị của doanh nghiệp không sử

dụng nợ + khoản lợi từ việc sử dụng nợ.

Trong đó:

D: Tổng số nợ sử dụng.

T : Thuế suất thuế TNDN.

TD: Khoản lợi từ việc sử dụng nợ.

Như vây theo mơ hình thuế M&M ( 1963) cấu trúc vốn có liên quan đến giá trị

của doanh nghiệp. Sử dụng nợ càng cao thì giá trị của doanh nghiệp càng tăng và

giá tăng đến tối đa khi doanh nghiệp được tài trợ 100% nợ.

Tóm lại, theo lý thuyết của M&M thì khơng tồn tại một cấu trúc vốn tối ưu

cho mỗi doanh nghiệp; thuế và rủi ro tài chính có tác động đến cấu trúc vốn vì làm

tăng giá trị của doanh nghiệp. Tuy nhiên, kết luận của M&M là chưa mang tính thực



14



tế do chưa tính đến những vấn đề nảy sinh mâu thuẫn đại diện bên trong các doanh

nghiệp và các nhân tố khác có ảnh hưởng đáng kể đến việc quyết định cấu trúc vốn

công ty.

1.2.4.3. Lý thuyết cân đối ( Trade-off Theory-TOT)

Tại thị trường hoàn hảo và hiệu quả, Modigliani và Miler (1958) chứng minh

rằng cấu trúc vốn là khơng thích hợp. Nhưng theo mơ hình M&M (1963), việc đánh

thuế cao hơn vào lợi tức cho thấy nợ nhiều hơn. Còn De Angelo và Masulis (1980)

thì cho rằng bảo trợ thuế cao hơn cho thấy nợ ít hơn.

Mơ hình MM giả định tiền lãi mong đợi hàng năm không đổi nên giá trị DN

là như nhau bất chấp cấu trúc vốn. Nếu thực tế tiền lãi mong đợi đang ở chiều

hướng đi xuống thì việc sử dụng nợ sẽ có tác động ngược lại và có thể dẫn DN đến

chỗ phá sản. Trong quá trình phá sản sẽ phát sinh các khoản chi phí như chi phí

pháp lý và chi phí hành chính, và các khoản thiệt hại của DN do thiếu sự vỡ nợ nên

nợ lớn buộc các nhà quản lý bỏ qua các các cơ hội đầu tư có lời (Myers, 1977). Chi

phí đó gọi là chi phí khánh tận tài chính. Các chi phí khánh tận tài chính cao hơn

cho thấy nhiều vốn cổ phần hơn trong cấu trúc vốn

Thuyết chi phí trung gian thì cho thấy các vấn đề trung gian có thể là ngun

nhân cho nhiều hay ít nợ hơn. Quá nhiều vốn cổ phần có thể dẫn đến dòng tiền mặt

tự do và mâu thuẫn về lãi, lợi ích giữa các nhà quản lý và cổ đông (Jensen, 1986).

Nợ quá nhiều có thể dẫn đến ký quỹ tài sản và mâu thuẫn về lãi, lợi ích giữa các nhà

quản lý và trái chủ (Fama và Miller, 1972; Jensen và Meckling, 1976). Đối với mâu

thuẫn giữa nhà quản lý và cổ đông, mâu thuẫn phát sinh người quản lý sở hữu ít hơn

100% VCSH. Khi đó, họ khơng được hưởng toàn bộ lợi nhuận từ hoạt động đầu tư

mà họ lại phải gánh chịu tồn bộ chi phí từ hoạt động đầu tư đó. Vì vậy, đã phát

sinh các chi phí trung gian để giám sát hoạt động và hạn chế các hành vi không

mong muốn. Đối với mâu thuẫn giữa nhà quản lý và trái chủ phát sinh khi các trái

chủ lo sợ các khoản vốn cho vay của mình khơng thể thu hồi khi kết quả đầu tư

không hiệu quả do trách nhiệm hữu hạn của các khoản đầu tư.



15



Vì vậy, phát sinh các khoản chi phí trung gian của nhà quản lý dưới hình thức

chi phí nợ vay cao nhằm giám sát các DN phải tuân thủ các điều khoản trong hợp

đồng vay. Ngoài ra, các điều khoản trong hợp đồng vay cũng hạn chế nhiều lợi ích

của doanh nghiệp.

Thuyết cân bằng xác định kết cấu vốn tối ưu bằng cách cộng thêm vào mơ

hình Modigliani và Miler (1958) các yếu tố phi hoàn hảo khác nhau, bao gồm thuế,

chi phí khánh tận tài chính và chi phí trung gian, song vẫn khơng mất đi các giả

định tính hiệu quả của thị trường và thơng tin cân bằng. Như vậy, tác động tổng hợp

3 yếu tố: thuế, chi phí khánh tận tài chính và chi phí trung gian khi sử dụng nợ với

những tác động ngược chiều nhau hình thành lý thuyết cấu trúc tài chính tối ưu.

Nhìn chung, việc đưa chi phí khánh tận tài chính và chi phí trung gian vào mơ

hình MM và mơ hình Modigliani và Miler (1958) dẫn đến lý thuyết cân bằng về cấu

trúc vốn. Những mơ hình này đều thừa nhận một cấu trúc vốn tối ưu.

1.2.4.4. Lý thuyết trật tự phân hạng ( Pecking Order Theory-POT)

Lý thuyết trật tự phân hạng (Pecking Order Theory-POT) được phát triển bởi

Myers (1984) là một lý thuyết cấu trúc vốn có nhiều khả năng lựa chọn nguồn tài

trợ dựa trên vấn đề bất cân xứng thông tin giữa các đối tượng tham gia hoạt động

kinh doanh trên thị trường.

Myers đưa ra định nghĩa về POT như sau: Một công ty được gọi là tuân theo

một trật tự phân hạng nếu công ty đó thích sử dụng tài trợ nội bộ hơn là tài trợ từ

bên ngồi và thích sử dụng nợ hơn là sử dụng vốn cổ phần khi phát hành chứng

khoán ra thị trường.

Myers và Majluf (1984) cho rằng sự bất cân xứng thông tin tồn tại giữa các

nhà quản lý của một cơng ty và thị trường đòi hỏi cần phải có một trật tự phân hạng

khi lựa chọn các nguồn vốn tài trợ sẵn có. Theo POT, sử dụng nguồn vốn nội bộ để

tài trợ cho các quyết định đầu tư mang tính chiến lược là sự lựa chọn hàng đầu của

đa số các công ty.

Giả thuyết cho rằng, ban quản trị cho biết về hoạt động tương lai của doanh

nghiệp nhiều hơn các nhà đầu tư bên ngoài (thơng tin khơng cân xứng) và việc



16



quyết định tài chính có lẽ cho biết mức độ kiến thức của nhà quản lý và sự không

chắc chắn về lưu lượng tiền mặt tương lai.

Khi ban quản trị tin tưởng cổ phiếu được đánh giá cao hơn là đánh giá thấp,

họ có thể phát hành chứng khốn (nguồn tài chính bên ngồi). Vì thế, khi doanh

nghiệp đi theo thị trường vốn bên ngoài, những thị trường này chấp nhận cổ phiếu

được đánh giá cao hơn là đánh giá thấp, và vì vậy, hoạt động này sẽ chuyển tải

thông tin không thuận lợi cho các nhà đầu tư. Kết quả là ban quản trị sẽ nỗ lực để

tránh đi theo các thị trường vốn (nguồn tài chính bên ngồi). Nếu ban quản trị đi

theo những thị trường vốn này, có khả năng họ phát sinh nợ nhiều hơn nếu như họ

tin là cổ phiếu của họ được đánh giá thấp và sẽ sinh ra vốn cổ phần nếu như họ cho

rằng cổ phiếu của họ được đánh giá cao.

Vì vậy, sự phát hành vốn cổ phần từ việc bán cổ phiếu sẽ chuyển tải nhiều

thông tin không thuận lợi hơn là sự phát hành tiền cho vay. Điều này khiến các nhà

quản trị quan tâm đến tiền cho vay hơn là vốn cổ phần từ việc bán cổ phiếu.

Những quyết định về kết cấu vốn không dựa trên tỷ lệ Nợ/Tài sản tối ưu mà

được quyết định từ việc phân hạng thị trường. Trước hết, các nhà quản trị sẽ dự định

sử dụng nguồn tài chính nội bộ, tiếp đến có thể phát hành tiền cho vay, và cuối cùng

là phát hành vốn cổ phần.

Tiêu điểm của thuyết này không tập trung vào kết cấu vốn tối ưu nhưng tập

trung vào sự quyết định tài chính hiện hành sắp tới.

Tỷ lệ Nợ/ Tài sản = f {hoạt động kinh doanh, nhu cầu đầu tư}

Như vậy, Myers và Majluf cho rằng sẽ khơng có một cấu trúc vốn tối ưu với

các doanh nghiệp. Sự kết hợp tối ưu giữa nợ và vốn chủ sở hữu là điều không thể

xảy ra. Như vậy, Dnaldson (1961) và Myers đã tìm ra một trật tự phân hạng cho các

công ty muốn thiết lập nguồn tài trợ dài hạn như sau : Trước tiền nên sử dụng lợi

nhuận giữ lại, sau đó đến nợ vay, phát hành trái phiếu và cuối cùng mới là vốn cổ

phần mới.

1.2.4.5. Lý thuyết tín hiệu

Stephen Ross (1977) trình bày một lý thuyết cấu trúc vốn dựa trên nền tảng



17



thông tin bất cân xứng. Theo ơng, khi doanh nghiệp phát hành chứng khốn mới, sự

kiện này có thể được coi là cung cấp một tín hiệu cho thị trường tài chính về viễn

cảnh tương lai của doanh nghiệp. Các nhà đầu tư sẽ “ diễn giải” cấu trúc vốn khác

nhau như là những tín hiệu về chất lượng thu nhập (quality of cash flows) của

doanh nghiệp ở tương lai.

Ross lập luận rằng, những tín hiệu do các thay đổi cấu trúc vốn là đáng tin cậy,

vì nếu dòng tiền tương lai khơng xảy ra, doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với chi phí

phá sản. Nói chung, các hành động làm tăng đòn bẩy tài chính thường gắn với thu

nhập cổ phần dương và các hành động làm giảm đòn bẩy tài chính thường gắn với

thu nhập cổ phần âm.

1.3. CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ CẤU TRÚC VỐN

Phần dưới đây trình bày tóm tắt các kết quả của các nghiên cứu thực nghiệm

về cấu trúc vốn, trong đó phân chia thành năm nhóm khác nhau. Năm nhóm này

được phân chia trên cơ sở liên quan đến nội dung của các nghiên cứu lý thuyết về

cấu trúc vốn. Nhóm thứ nhất nghiên cứu theo mơ hình các vấn đề đại diện; nhóm

thứ hai tập trung về thơng tin bất cân xứng; nhóm thứ ba liên quan đến các đặc tính

của sản phẩm hay thị trường; nhóm thứ tư nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc

vốn và các vấn đề kiểm soát doanh nghiệp; và nhóm thứ năm là những nghiên cứu

thực nghiệm khơng có mối quan hệ trực tiếp nào đối với các nghiên cứu lý thuyết về

cấu trúc vốn. Trong giới hạn của bài nghiên cứu này, mà chỉ nêu tóm tắt kết luận

liên qua tới vấn đề nghiên cứu mà tác giả đúc kết được.

1.3.1. Nhóm các nghiên cứu theo mơ hình các vấn đề về đại diện

Có thể nói, các mơ hình về các vấn đề đại diện được xem là thành công hơn

cả trong việc gợi ra những hàm ý đáng quan tâm về các yếu tố tác động đến cấu trúc

vốn của doanh nghiệp. Các mơ hình này phản ảnh các mối tương quan giữa tỷ lệ

đòn bẩy tài chính và các nhân tố như giá trị doanh nghiệp, dòng tiền tự do, giá trị

thanh lý, tỷ suất sinh lời, cơ hợi phát triển... hay những thay đổi về cấu trúc vốn

cùng phát ra những tín hiệu làm giá chứng khốn tăng hay giảm.

Có hai nội dung chính mà nhóm các nghiên cứu theo mơ hình này đúc kết

được. Đó là: thứ nhất cấu trúc vốn có sự tranh giành quyền kiểm sốt doanh nghiệp,



18



thơng qua ảnh hưởng của việc phân phối quyền biểu quyết; thứ hai cấu trúc vốn có

ảnh hưởng đến những đòi hỏi về sự phân phối dòng tiền giữa vốn cổ phần và nợ.

Cũng như nhóm các nghiên cứu theo mơ hình đặc tính của sản phẩm và thị

trường, khơng có nhiều các nghiên cứu thực nghiệm tương thích với nội dung của

các nghiên cứu lý thuyết theo nhóm này.

Bảng 1.1: Nhóm các nghiên cứu theo mơ hình các vấn đề đại diện

ST

T

1



2



Nghiên cứu lý thuyết

Đòn bẩy tài chính có

tương quan (+) với giá trị

doanh nghiệp

Harris và Raviv (1990),

Stulz (1990), Hirshleifer

và Thakor (1989)



Nghiên cứu thực nghiệm

Đồng thuận

Không đồng thuận

Lys



Sivaramakrishman

(1988), Cornett và

Travlos (1989), Dann

và cộng sự (1989),

Israel và cộng sự (1990)



Đòn bẩy tài chính tăng khi

thiếu vắng cợ hội phát

triển

Jensen



Meckling

(1976), Stulz (1990)



Kim và Sorrensen

(1986), Titman và

wessels

(1988),

Chaplinsky



Nichaus (1990

3

Kesster (1986), Friend

Đòn bẩy tài chính tăng và Hasbrouck (1988),

cùng với sự giảm tỷ suất Friend



Lang

sinh lợi

(1988), Gonedes và

Chang (1987)

cộng

sự

(1988),

Titman và Wessels

4

(1988).

Bradley và cộng sự

Đòn bẩy tài chính tăng (1984),

Long



cùng với sự gia tăng giá Malitz (1985), Friend

trị thanh khoản

và Hasbrouck (1988),

Williamson (1988), Haris Friend



Lang

và Raviv (1990)

(1988), Gonedes và

cộng

sự

(1988),

Titman và Wessels

(1988),

Chaplinsky

vàNiehaus (1990)

1.3.2 Nhóm nghiên cứu theo mơ hình thơng tin bất cân xứng

Các nghiên cứu theo mơ hình thơng tin bất cân xứng tập trung xem xét ảnh

hưởng của việc phát hành chứng khoán đến giá cổ phiếu và mối tương quan giữa



19



đòn bẩy tài chính và một số nhân tố khác như xu hướng bất cân xứng thông tin, tỷ

suất sinh lời hay dòng tiền tự do... Ngồi ra, các nghiên cứu theo mơ hình này cũng

đi vào tìm hiểu liệu có hay khơng một trật tự phân hạng trong các quyết định tài trợ

Bảng 1.2 Nhóm nghiên cứu thoe mơ hình thơng tin bất cân xứng

ST

T

1



Nghiên cứu lý thuyết

Đòn bẩy tài chính tăng cùng



với sự gia tăng tỷ suất sinh Long và Malitz (1985)



Kester (1986), Friend



lợi

Ros (1977), Leland và Pyle



và Hasbrouck (1988),



(1977),



Gonedes và cộng sự



Heinkel



Blazenko

2



Nghiên cứu thực nghiệm

Đồng thuận

Không đồng thuận



Friend và Lang (1988),



(1982),



(1987),



John



(1988),



(1987), Poitevin (1989), Cornett

Ravid và Sarig (1989)

Đón bẩy tài chính có

tương quan (+) với giá trị







(1989),



Titman







Travlos Wessels (1988)



Lys



Sivaramakrishman





(?



1988), Dann và cộng



sự (1989), Israel và

doanh nghiệp

Ross (1977), Noe (1988), cộng sự (1990)

Narayanan



(1988),



Poitevin (1989)

1.3.3 Nhóm nghiên cứu theo mơ hình về đặc tính của sản phẩm và thị trường

Các mơ hình nghiên cứu cấu trúc vốn trên cơ sở những ảnh hưởng từ đặc

tính của sản phẩm và thị trường vẫn đang trong q trình hồn thiện. Tuy vậy, có

thể phân chia các mơ hình nghiên cứu này thành hai nhóm. Nhóm thứ nhât nghiên

cứu mối quan hệ giữa cấu trúc vốn doanh nghiệp và các chiến lược cạnh tranh (đối

với nhà cung cấp, khách hàng); nhóm thứ hai nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc

vốn và các đặc tính của sản phẩm hay các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp

Tuy nhiên, khơng có nhiều các nghiên cứu thực nghiệm tương thích với nội

dung của các nghiên cứu lý thuyết

Bảng 1.3 Nhóm các nghiên cứu theo mơ hình về đặc tính của sản phẩm và thị

trường



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Giá trị doanh nghiệp là tổng hiện giá của tất cả thu nhập có khả năng mang lại trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×