Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP DÂN DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Chương 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP DÂN DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ - 0trang

5

- Vốn vay phải được hoàn trả đầy đủ cả vốn gốc và lãi vay theo đúng

thời hạn đã cam kết trong hợp đồng tín dụng: Nguyên tắc này đề ra nhằm đảm

bảo cho các NHTM tồn tại và hoạt động bình thường. Bởi nguồn vốn cho vay

của ngân hàng chủ yếu là nguồn vốn huy động. Đó là một bộ phận tài sản của

các chủ sở hữu mà ngân hàng tạm thời quản lý và sử dụng, ngân hàng phải có

nghĩa vụ đáp ứng các nhu cầu rút tiền của khách hàng mà họ yêu cầu. Nếu các

khoản tín dụng khơng được hồn trả đúng hạn thì nhất định sẽ ảnh hưởng đến

khả năng hoàn trả của ngân hàng.

- Việc đảm bảo tiền vay phải được thực hiện theo quy định của chính

phủ: Q trình cung ứng vốn tín dụng ngắn hạn của NHTM đối với nền kinh

tế sẽ làm tăng sức mua của xã hội, làm tăng khối lượng tiền trong nền kinh tế,

làm tăng áp lực đối với hàng hóa ở trên thị trường. Ngồi ra do tính chất vận

động của vốn tín dụng là gắn liền với sự vận động của vật tư hàng hóa, gắn

liền với hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị. Do đó cần thực hiện

nguyên tắc bảo đảm giá trị vật tư hàng hóa tương đương cho những khoản tín

dụng đang thực hiện. Bảo đảm tiền vay có thể thực hiện bằng thế chấp, cầm

cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba, hoặc bảo đảm bằng chính tài sản được tạo ra

do sử dụng vốn vay hoặc bảo đảm bằng tín chấp.

1.1.3. Phân loại cho vay của NHTM

Hoạt động cho vay của NHTM rất đa dạng và phong phú với nhiều loại

hình tín dụng khác nhau. Việc áp dụng hình thức cho vay nào là tùy thuộc vào

đặc điểm kinh tế của đối tượng sử dụng vốn nhằm sử dụng và quản lý vốn tín

dụng có hiệu quả và phù hợp với sự vận động cũng như đặc điểm kinh tế khác

nhau của đối tượng tín dụng.

Trên thực tế việc phân loại cho vay theo các tiêu thức sau:

 Theo thời hạn vay:

- Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn đến 12 tháng;



6

- Cho vay trung hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 12 tháng đến 5 năm;

- Cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm và thời hạn

tối đa có thể lên đến 20 – 30 năm.

 Theo phương thức cho vay:

- Cho vay từng lần: áp dụng cho những khách hàng có nhu cầu vay vốn

từng lần, mỗi lần vay vốn khách hàng và ngân hàng lập thủ tục và ký hợp

đồng tín dụng.

- Cho vay theo hạn mức tín dụng: áp dụng cho những khách hàng vay

vốn ngắn hạn có nhu cầu vay vốn thường xuyên, hoạt động kinh doanh ổn

định.

- Cho vay theo dự án đầu tư: áp dụng cho những khách hàng vay vốn

để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh hoặc dịch vụ,

thông thường áp dụng trong cho vay trung và dài hạn.

- Thấu chi: hình thức cho vay gắn liền với việc sử dụng tài khoản thanh

tốn của doanh nghiệp thơng qua việc sử dụng quá số dư trong một hạn mức

cho phép, với một thời hạn và phí do ngân hàng quy định.

 Theo hình thức bảo đảm:

- Cho vay bảo đảm bằng tài sản: tài sản đảm bảo (thế chấp, cầm cố) có

thể là tài sản của người đi vay, người bảo lãnh hoặc tài sản hình thành từ vốn

vay. Khi rủi ro xảy ra, ngân hàng sẽ phát mại tài sản này để thu hồi nợ.

- Cho vay bảo đảm không bằng tài sản: là loại hình cho vay trong đó

các khoản nợ vay không được bảo đảm bằng tài sản mà chỉ dựa vào uy tín của

bản thân khách hàng.

* Theo mục đích:

- Cho vay kinh doanh: là hình thức cho vay của ngân hàng nhằm đáp ứng nhu

cầu vốn kinh doanh cho các doanh nghiệp, hộ sản xuất kinh doanh.Ví dụ : Cho vay

cơng nghiệp và thương mại, cho vay bất động sản, cho vay nông nghiệp…



7

- Cho vay tiêu dùng: là loại cho vay của ngân hàng nhằm đáp ứng nhu

cầu tiêu dùng của hộ gia đình, cá nhân như chi tiêu thường xuyên, sửa chữa

nhà cửa, chi mua sắm tài sản…

1.1.4. Quy trình cho vay của ngân hàng thương mại

Quy trình cho vay là tổng hợp các nguyên tắc, quy định của ngân hàng

trong việc cho vay. Quy trình này bao gồm nhiều bước theo một trật tự nhất

định, có thể khái quát như sau [7, tr. 620-623]:

Bước 1: Tiếp nhận và hướng dẫn khách hàng hoàn thiện hồ sơ tín dụng.

Cán bộ tín dụng làm đầu mối tiếp nhận, hướng dẫn khách hàng về hồ

sơ, kiểm tra tính đầy đủ, hợp pháp của hồ sơ.

Bước 2: Thẩm định các điều kiện tín dụng.

Cán bộ tín dụng nghiên cứu, thẩm định hồ sơ theo những nội dung sau:

(1). Đánh giá về khách hàng: năng lực pháp lý, mơ hình tổ chức, bố trí

lao động, quản trị điều hành doanh nghiệp, ngành nghề kinh doanh, các rủi ro

chủ yếu…

(2). Phân tích tình hình tài chính của khách hàng.

(3). Thẩm định phương án, dự án sản xuất kinh doanh; hiệu quả của

phương án, dự án; khả năng trả nợ gốc và lãi của phương án, dự án.

(4). Thẩm định tài sản bảo đảm tiền vay, thẩm định năng lực tài chính

của bên bảo lãnh (nếu có).

(5). Xem xét khả năng nguồn vốn của chi nhánh.

(6). Đề xuất của cán bộ tín dụng.

Cán bộ tín dụng sẽ chịu trách nhiệm về kết quả thẩm định và ý kiến đề

xuất. Sau đó, báo cáo Trưởng phòng tín dụng, Trưởng phòng tín dụng sẽ kiểm

tra xem xét cần thiết thực hiện tái thẩm định. Qua đó, đưa ra ý kiến đánh giá,

đề xuất của mình.



8

Bước 3: Quyết định cho vay, ký hợp đồng tín dụng.

Sau khi có ý kiến đề xuất của Trưởng phòng tín dụng, hồ sơ được

chuyển lên Giám đốc để xem xét và ra quyết định.

Nếu như lãnh đạo đồng ý và sau khi hoàn thành các thủ tục khác theo

quy định thì sẽ tiến hành ký hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm tiền vay.

Bước 4: Giải ngân, theo dõi, giám sát việc sử dụng vốn vay.

Giải ngân là khâu tiếp theo sau khi hợp đồng tín dụng đã được ký kết.

Giải ngân là phát tiền vay cho khách hàng trên cơ sở mức tín dụng đã được

cam kết trong hợp đồng.

Đây là khâu quan trọng vì nó có thể góp phần phát hiện và chấn chỉnh

kịp thời nếu có sai sót ở các khâu trước. Ngồi ra, cách thức giải ngân còn

góp phần kiểm tra và kiểm sốt xem vốn tín dụng có được sử dụng đúng mục

đích cam kết hay khơng.

Bước 5: Thu nợ, lãi, phí và xử lý phát sinh.

Ngân hàng tiến hành thu nợ khách hàng theo đúng những điều khoản đã

cam kết trong hợp đồng tín dụng. Tùy theo tính chất của khoản vay và tình

hình tài chính của khách hàng, hai bên có thể thỏa thuận và lựa chọn những

hình thức thu nợ khác nhau.

Nếu đến hạn trả nợ mà khách hàng khơng có khả năng trả nợ thì ngân

hàng có thể xem xét cho gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ hoặc chuyển sang

nợ quá hạn để sau này có biện pháp xử lý thích hợp nhằm đảm bảo thu hồi nợ.

Bước 6: Thanh lý hợp đồng tín dụng.

Nếu hết thời hạn của hợp đồng tín dụng mà khách hàng đã hoàn tất các

nghĩa vụ trả nợ cả gốc và lãi thì ngân hàng và khách hàng làm thủ tục thanh lý

hợp đồng tín dụng, giải chấp tài sản nếu có và lưu hồ sơ vay vốn của khách

hàng vào kho lưu trữ.



9

1.2. MỞ RỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP DÂN DOANH CỦA NHTM

1.2.1. Đặc điểm doanh nghiệp dân doanh và vai trò của cho vay ngân

hàng đối với doanh nghiệp dân doanh

1.2.1.1. Doanh nghiệp dân doanh

Như chúng ta đều biết, Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có

tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định

của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.

Doanh nghiệp dân doanh là một khái niệm được sử dụng phổ biến trong

thực tiễn quản lý kinh tế Việt Nam. Theo đó, doanh nghiệp dân doanh là tên

gọi chung của các doanh nghiệp có yếu tố tư hữu trong việc sở hữu các tư liệu

sản xuất. Các doanh nghiệp này hoạt động theo luật doanh nghiệp.

Trong nhiều tài liệu và cơng trình nghiên cứu ở nước ta, khu vực kinh

tế dân doanh bao gồm: Công ty cổ phần; Công ty trách nhiệm hữu hạn; Công

ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân.

Công ty cổ phần là một dạng pháp nhân có trách nhiệm hữu hạn, được

thành lập và tồn tại độc lập đối với những chủ thể sở hữu nó. Tại thời điểm

đăng ký kinh doanh thành lập doanh nghiệp, vốn điều lệ của công ty cổ phần

là tổng giá trị mệnh giá các cổ phần do các cổ đông sáng lập và các cổ đông

phổ thông khác đã đăng ký mua và được ghi trong Điều lệ công ty; số cổ

phần này phải được thanh toán đủ trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được

cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp [1]. Các cá nhân hay tổ chức sở

hữu cổ phần được gọi là cổ đông.

Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) là loại hình doanh nghiệp có tư

cách pháp nhân được pháp luật thừa nhận. Cơng ty trách nhiệm hữu hạn là

loại hình doanh nghiệp có khơng q 50 thành viên cùng góp vốn thành lập và

công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài chính khác

trong phạm vi nghĩa vụ tài sản của công ty.



10

Công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó phải có ít nhất hai thành

viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên

chung (gọi là thành viên hợp danh); ngồi các thành viên hợp danh có thể có

thành viên góp vốn. Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm

bằng tồn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của cơng ty. Thành viên góp

vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn

đã góp vào cơng ty. Như vậy, bản chất của công ty hợp danh là công ty trách

nhiệm vô hạn.

Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự

chịu trách nhiệm bằng tồn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh

nghiệp. Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân.

Trong xu thế hội nhập kinh tế, DNDD ngày càng trở thành một thành

phần không thể thiếu được đối với sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế.

Điều đó xuất phát từ các vai trò quan trọng sau:

* Đóng góp quan trọng vào GDP và tốc độ tăng trưởng kinh tế

Theo tiến trình hội nhập, số lượng doanh nghiệp dân doanh ngày càng

gia tăng, kinh doanh mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực nên nó đóng góp rất lớn

vào GDP và tăng trưởng kinh tế. Trong số các loại hình DNDD thì loại hình

Cơng ty TNHH và Cơng ty tư nhân vẫn chiếm đa số. Sự phát triển của doanh

nghiệp dân doanh trên các lĩnh vực phát triển kinh tế, đặc biệt ở khu vực chế

biến, bán lẻ và dịch vụ thời gian qua đã góp phần khơng nhỏ vào GDP của

cả nước.

* Góp phần tạo cơng ăn việc làm cho người lao động

Ở mọi nền kinh tế chuyển đổi, khu vực kinh tế nhà nước đang trong

quá trình tái cơ cấu nên cũng không thể phần lớn giải quyết được việc làm mà

thậm chí còn làm tăng thêm tỷ lệ thất nghiệp do sự đào thải, giảm biên chế

trong quá trình chuyển đổi. Sự xuất hiện và phát triển của các DNDD đã làm



11

tăng thêm cơ hội có việc làm cho tất cả mọi người, đặc biệt là lao động trong

khu vực nông thôn cũng như lao động dư thừa từ các doanh nghiệp nhà nước

giải thể, cổ phần hóa. Đây là một thế mạnh rõ rệt của các DNDD đòi hỏi

Đảng và Nhà nước cần quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ hơn nữa để các DNDD

phát triển tạo nên những bước đi vững chắc trong tương lai.

* Góp phần thúc đẩy đầu tư và phát triển kinh tế

Với chính sách đổi mới kinh tế, nhà nước đã tạo môi trường thuận lợi

để khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư nguồn vốn của mình vào sản xuất

kinh doanh. Trong ba khu vực kinh tế (nhà nước, dân doanh, đầu tư nước

ngồi) thì nguồn vốn đầu tư vào nền kinh tế của khu vực kinh tế dân doanh

chiếm tỷ trọng ngày càng lớn. Đầu tư của khu vực kinh tế dân doanh đã và

đang ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của mình trong quá trình phát

triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trong những năm gần đây, khi nước ta

chính thức gia nhập WTO thì việc đầu tư vốn vào nền kinh tế là rất cần thiết.

Sự lớn mạnh của kinh tế dân doanh đã góp phần bổ sung kịp thời nguồn vốn

thiếu hụt và giữ vững đà phát triển của đất nước, chống lại được sự suy thối

của nền kinh tế tồn cầu.

* Nâng cao tính cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường

Tăng cường cạnh tranh là một đòi hỏi tất yếu trong q trình phát triển

kinh tế thị trường. Tính cạnh tranh cao trên thị trường thể hiện ở chỗ là cạnh

tranh giữa các DNDD với các doanh nghiệp nhà nước, giữa các DNDD với

nhau. Đây thực sự là một động lực giúp cho nền kinh tế phát triển và góp

phần nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nền kinh tế. Thơng qua

cạnh tranh, các doanh nghiệp có thể tiết kiệm được chi phí sản xuất vì giảm

chi phí sản xuất đồng nghĩa với giảm giá thành, đồng thời cũng thúc đẩy các

doanh nghiệp nhanh chóng đổi mới thiết bị, cơng nghệ. Cạnh tranh không

những giúp các doanh nghiệp đáp ứng tốt nhất mọi nhu cầu về tiêu dùng cho



12

sản xuất hay tiêu dùng cho cá nhân trong xã hội, mà thơng qua đó nó còn giúp

đào thải và bình tuyển tự nhiên các doanh nghiệp, doanh nghiệp nào làm ăn

không có hiệu quả sẽ nhanh chóng bị loại ra khỏi thị trường, trên thị trường

chỉ tồn tại các doanh nghiệp có hiệu quả thực sự.

* Tăng nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước

Như mọi người đều biết, nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước là

thuế. Về mặt pháp luật các DNDD cũng như các doanh nghiệp nhà nước có

nghĩa vụ như nhau trong việc nộp thuế. Đối với các doanh nghiệp nhà nước,

để đóng góp tiền thuế vào ngân sách nhà nước thì nhà nước cũng phải có đầu

tư, trợ cấp nhất định cho các doanh nghiệp này. Ngân sách nhà nước vì vậy

phụ thuộc vào các nguồn thu khác ngày càng nhiều, đặc biệt là từ sự đóng góp

thuế của khối doanh nghiệp dân doanh. Do đó sự phát triển của các DNDD

cũng như sự thành công trong hoạt động sản xuất kinh doanh của họ sẽ góp

phần đáng kể làm tăng nguồn thu cho ngân sách. Như vậy, phát triển khu vực

kinh tế dân doanh một cách bền vững là biện pháp quan trọng nhất để đảm

bảo ngân sách quốc gia.

1.2.1.2. Đặc điểm Doanh nghiệp dân doanh

Qua khái niệm và nội dung nêu trên, doanh nghiệp dân doanh là loại hình

doanh nghiệp doanh nghiệp gắn với một khu vực kinh tế rộng lớn, đó là khu vực

kinh tế tư nhân_một khu vực có xu hướng phát triển mạnh mẽ trong q trình

tồn cầu hóa kinh tế. Tuy nhiên, tự trong bản thân các doanh nghiệp loại hình

này cũng chứa đựng những đặc điểm khác nhau tạo nên những thuận lợi và bất

lợi trong quá trình phát triển. Đó chính là các ưu nhược điểm cơ bản sau:

Ưu điểm:

- Doanh nghiệp dân doanh là thành phần kinh tế năng động, có tính tự

chủ cao nên dễ thích ứng với những biến động của thị trường, cơ chế chính

sách của nhà nước;



13

- Do có yếu tố tư hữu trong việc sở hữu về vốn và các tư liệu sản xuất

nên hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ln gắn liền với quyền

lợi, lợi ích cá nhân của người sản xuất cũng như chủ doanh nghiệp. Chính vì

vậy, mà các Doanh nghiệp dân doanh ln tập trung phát huy tối đa năng lực

kinh doanh và nâng cao tính cạnh tranh trong thị trường;

- Bộ máy quản lý, tổ chức, kinh doanh của các doanh nghiệp dân doanh

thường có gọn nhẹ, đơn giản. Từ đó các quyết định được thực hiện nhanh;

công tác kiểm tra, điều hành trực tiếp. Điều này góp phần đáng kể trong việc

giảm chi phí quản lý doanh nghiệp;

- Doanh nghiệp dân doanh tận dụng triệt để được lợi thế về nguồn lao

động dồi dào ở địa phương.

Nhược điểm:

- Nguồn vốn chủ sở hữu còn hạn chế. Bất kỳ doanh nghiệp nào muốn

tiến hành sản xuất kinh doanh đều cần phải có một lượng vốn chủ sở hữu nhất

định. Các Doanh nghiệp dân doanh khi mới được thành lập thường có quy mơ

vốn đầu tư nhỏ, đây cũng là hạn chế lớn cho doanh nghiệp khi muốn đầu tư

mở rộng sản xuất kinh doanh. Việc tiếp cận được nguồn vốn tín dụng ngân

hàng đã khó, song để có được nguồn vốn đủ cho việc mở rộng sản xuất kinh

doanh thì nguồn vốn tự có, nguồn vốn khác của doanh nghiệp đôi khi là rào

cản bởi nó khơng đáp ứng được các tỷ lệ an tồn theo u cầu của ngân hàng;

- Trình độ cơng nghệ ứng dụng trong sản xuất kinh doanh có giới hạn,

nhiều khi còn yếu kém, tạo nên sự yếu kém trong cạnh tranh, hạn chế năng

suất lao động, chất lượng sản phẩm, khơng tiết giảm chi phí.

- Chất lượng lao động thấp, trình độ tay nghề chưa cao, đặc biệt là trình

độ quản lý nói chung còn hạn chế, người lao động ít được đào tạo cơ bản và

chưa đáp ứng được so với yêu cầu phát triển. Trong thực tế, một số doanh

nghiệp khi hoạt động ở quy mô nhỏ thì có hiệu quả, nhưng khi mở rộng quy



14

mơ sản xuất kinh doanh thì trình độ quản lý của chủ doanh nghiệp không đáp

ứng một cách tương xứng nên đã dẫn đến thua lỗ.

- Các Doanh nghiệp dân doanh thường có tài chính khơng minh bạch,

việc nắm bắt các thơng tin về ngân hàng còn hạn chế, họ thường e ngại khi

tiếp xúc với ngân hàng. Họ khơng có đội ngũ kế toán chuyên nghiệp nên việc

cập nhật số liệu thường khơng phản ánh trung thực.

1.2.1.3. Vai trò của cho vay ngân hàng đối với doanh nghiệp dân doanh

a. Đáp ứng nhu cầu vốn để quá trình sản xuất kinh doanh của các

doanh nghiệp dân doanh được diễn ra thường xuyên, liên tục

Như phần trên đã phân tích, nhược điểm lớn đối với DNDD chính là

nguồn vốn bị hạn chế. Nguồn vốn điều lệ của doanh nghiệp phần lớn đã tập

trung cho việc đầu tư ban đầu vào máy móc, thiết bị, nhà xưởng và đất đai.

Do đó, phần vốn dành cho vốn lưu động để luân chuyển trong hoạt động sản

xuất kinh doanh cũng như tái sản xuất mở rộng là rất hạn chế. Trong khi đó

hoạt động chiếm dụng vốn của nhau thơng qua hình thức mua bán trả chậm

của các doanh nghiệp là một việc rất phổ biến. Và điều này đã gây khó khăn

cho hoạt động của các doanh nghiệp có vốn lưu động nhỏ bé như các DNDD.

Mặt khác khi thiếu vốn, DNDD cũng không thể thực hiện được hoạt động tái

sản xuất mở rộng. Tái sản xuất mở rộng chính là tiền đề cho sự tăng trưởng và

phát triển của các doanh nghiệp nói chung và các DNDD nói riêng. Một

doanh nghiệp chỉ có thể khẳng định được vị trí của mình trên thị trường

thông qua hoạt động tái sản xuất mở rộng của mình. Bên cạnh đó, nguồn vốn

để đầu tư chiều rộng cũng như chiều sâu vào các máy móc thiết bị, dây

chuyền sản xuất hiện đại là khơng nhỏ. Tín dụng ngân hàng đã giúp đỡ cho

DNDD trong việc hỗ trợ vốn lưu động và đầu tư mở rộng sản xuất. Với các

hình thức cho vay hỗ trợ vốn lưu động như cho vay theo hạn mức, chiết khấu

các giấy tờ có giá... DNDD mới kịp thời chớp lấy các cơ hội kinh doanh, tăng



15

tốc độ luân chuyển của vốn lưu động, làm cho quá trình sản xuất kinh doanh

của doanh nghiệp được liên tục. Trên cơ sở các dự án khả thi của DNDD về

việc đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, ngân hàng sẽ xem xét việc cấp tín

dụng tài trợ cho dự án. Với sự giúp đỡ về nguồn vốn trung dài hạn sẽ giúp cho

DNDD có được một số vốn để tiến hành sản xuất kinh doanh. Sự tài trợ này

sẽ giúp doanh nghiệp tăng doanh thu, tăng lợi nhuận và hiện đại hố cơng

nghệ. Như vậy, tín dụng ngân hàng là nguồn hỗ trợ vốn rất quan trọng đối với

các DNDD.

b. Góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của các DNDD

Hầu hết các nguồn vốn kinh doanh của DNDD chính là sự tài trợ vốn

của các ngân hàng thương mại. Nhưng khi các ngân hàng thương mại cho vay

vốn thì ln đặt ra nguyên tắc cho các doanh nghiệp là phải hoàn trả vốn gốc

và lãi theo quy định. Chính nguyên tắc này đã thúc đẩy các doanh nghiệp nói

chung và DNDD nói riêng khi vay vốn phải nâng cao tối đa hiệu quả sử dụng

vốn để thu hồi được đồng tiền đầu tư để trả gốc và lãi cho ngân hàng. Khoản

lãi phải trả cho ngân hàng là một khoản chi phí của doanh nghiệp, do đó

doanh nghiệp phải tích cực nâng cao hiệu quả của mình để tăng doanh thu bù

đắp cho chi phí tăng lên đó.

Mặt khác, trong q trình cấp tín dụng, ngân hàng phải thường xun

kiểm tra, giám sát vốn vay và quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng.

Chính cơ chế kiểm tra giám sát này sẽ thúc đẩy tích cực hoạt động của doanh

nghiệp.

c. Góp phần quan trọng trong việc mở rộng các mối quan hệ kinh tế

giữa doanh nghiệp dân doanh và thị trường quốc tế

Trong quá trình hội nhập, các doanh nghiệp nói chung và DNDD nói

riêng ln phải gắn chặt với thị trường khu vực và thế giới. Thông qua hoạt

động cung ứng vốn cho khối DNDD, ngân hàng đã giúp cho doanh nghiệp có



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP DÂN DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×