Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
5 Một số kết luận

5 Một số kết luận

Tải bản đầy đủ - 0trang

57

TP Đà Nẵng đã thu hút được khối lượng vốn đáng kể vào ngân hàng, làm gia

tăng nguồn vốn, tỷ trọng vốn huy động trong tổng nguồn vốn cao hơn.

Thứ hai, cơ cấu vốn huy động của chi nhánh NHNo&PTNT TP Đà

Nẵng tập trung chủ yếu vào huy động vốn tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi

thanh toán. Với nhiều dịch vụ đưa ra trong thời gian qua càng chứng tỏ chi

nhánh NHNo&PTNT TP Đà Nẵng quan tâm nhiều đến lượng vốn huy động

trên thị trường này.

Thứ ba, hệ thống phòng giao dịch được bố trí rộng khắp, thuận tiện cho

việc giao dịch của khách hàng.

Thứ tư, quy mô huy động vốn ngày càng tăng, năm 2007 huy động vốn

đạt 3,607 tỷ đồng, đến năm 2011 huy động vốn đạt mức 5,124 tỷ đồng tăng

gấp 1.42 lần so với năm 2007. Chi nhánh NHNo&PTNT TP Đà Nẵng đã khai

thác triệt để nguồn vốn huy động được để mở rộng cho vay và đầu tư.

Thứ năm, chi phí huy động vốn ngày càng được cải thiện. Tỷ lệ chênh

lệch giữa chi phí trả lãi tiền gửi, tiền vay với chi phí thu lãi tiền gửi, tiền vay

ngày càng tăng lên. Lãi suất huy động bình quân của chi nhánh NHNo&PTNT

TP Đà Nẵng ln thấp và có lợi thế cạnh tranh trên địa bàn. Điều này cũng thể

hiện thông qua kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng luôn đảm bảo tổng

thu lớn hơn tổng chi, lợi nhuận năm sau cao hơn lợi nhuận năm trước.

2.5.2 Những tồn tại, hạn chế

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, hoạt động huy động vốn của chi

nhánh NHNo&PTNT TP Đà Nẵng còn có những hạn chế nhất định làm cho

hiệu quả huy động vốn của ngân hàng chưa cao.

Thứ nhất, nguồn vốn huy động cao, song thị phần sụt giảm

Công tác huy động vốn của chi nhánh NHNo&PTNT TP Đà Nẵng đã

đạt được những thành tựu quan trọng, vị trí số 1 về nguồn vốn huy động và thị

phần, là định chế tài chính lớn giữ vai trò chủ chốt trên thị trường liên ngân



58

hàng, giữ vững thanh khoản hệ thống, song đánh giá khách quan vẫn tồn tại

nhiều bất cấp, hạn chế, kém linh hoạt do đó chưa đáp ứng được yêu cầu phát

triển, chậm hơn, kém hơn hoặc có phần thụt lùi so với các TCTD khác, thể hiện

ở một số nội dung sau

Tổng nguồn vốn tăng trưởng qua các năm, song tốc độ tăng trưởng có

xu hướng giảm, thị phần của chi nhánh NHNo&PTNT TP Đà Nẵng thu hẹp

(năm 2007 đạt 37.8%, năm 2011 còn 15.24%). Tốc độ tăng trưởng vốn chậm

so với tốc độ tăng trưởng tín dụng và so với các TCTD khác. Thị phần huy

động vốn chưa tương xứng với mạng lưới chi nhánh hoạt động

Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn trong năm không đều (tháng 1 giảm

mạnh, từ tháng 2 đến tháng 6 tăng chậm, từ tháng 7 đến tháng 11 giảm dần và

tăng chủ yếu vào tháng 12 trong khi các năm trước tăng đều hơn), một số

nguồn vốn biến động bất thường (tiền gửi KKH, tiền gửi CKH từ 12 tháng trở

lên, tiền gửi tổ chức), gây khó khăn cho thanh khoản và cân đối sử dụng

Chưa có chiến lược cụ thể tiếp cận các nguồn vốn rẻ như nguồn vốn từ

các dự án đầu tư nước ngoài, nguồn vốn từ các tổ chức sự nghiệp có thu, các

quỹ từ thiện.

Thứ hai, cơ cấu nguồn vốn huy động chưa hợp lý

Cơ cấu nguồn vốn huy động theo nhóm khách hàng còn nhiều hạn chế

HĐV dân cư ngày càng trở nên khó khăn, nhu cầu gửi của khách hàng

đa dạng, đòi hỏi nhiều dịch vụ tiện ích, chính sách khuyến mãi và chăm sóc

khách hàng phù hợp, trong khi đó nhiều điểm giao dịch của Agribank chưa

tìm hiểu nhu cầu khách hàng để phân loại khách hàng, tư vấn sản phẩm, thực

hiện bán chéo sản phẩm, có chính sách chăm sóc khách hàng phù hợp với

khách hàng truyền thống và khách hàng VIP.

Nguồn tiền gửi của khách hàng TCKT là nguồn vốn thường có lãi suất

thấp hơn, kỳ hạn gửi ngắn, nhiều TCKT gửi KKH với số dư lớn. Song giai



59

đoạn vừa qua, diễn biến của nguồn vốn này không ổn định, sụt giảm mạnh,

đặc biệt là nguồn tiền gửi của KBNN và BHXH, NHCSXH đã ảnh hưởng đến

lãi suất đầu vào bình quân, cân đối vốn kinh doanh của toàn hệ thống. Nhiều

chi nhánh chỉ tập trung phát triển nguồn vốn này, không cân đối giữa tiền gửi

dân cư và TCKT nên khi các TCKT rút đã biến động lớn nguồn tiền gửi và

ảnh hưởng lớn đến việc cho vay, tài chính của chi nhánh. Hơn nữa, việc duy

trì nguồn tiền gửi TCKT phụ thuộc nhiều vào mối quan hệ và chăm sóc khách

hàng, tuy nhiên hoạt động này vẫn chưa được thực hiện tốt.

Cơ cấu nguồn vốn huy động theo kỳ hạn chưa phù hợp

Cơ cấu nguồn vốn của chi nhánh NHNo&PTNT TP Đà Nẵng chủ yếu

là nguồn huy động ngắn hạn, độ biến động lớn. Trong khi đó, số món thanh

tốn trước hạn đối với tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn tương đối lớn

chiếm trên 60% tổng số món thanh toán. Mặt khác, ngân hàng cũng chưa định

lượng được số khách hàng gửi tiền bậc thang và rút tiền gửi luỹ tiến theo thời

gian.

Thiếu chiến lược thu hút nguồn vốn dự án ngân hàng phục vụ, dự án uỷ

thác đầu tư.

Trong quá trình thu hút dự án ngân hàng phục vụ, chi nhánh có thơng

tin ban đầu về dự án và đã được giao nhiệm vụ tiếp cận, tuy nhiên chưa thực

sự chủ động, kịp thời báo cáo cho ban lãnh đạo khi gặp khó khăn để kịp thời

hỗ trợ giả quyết, nên nhiều dự án đã bị chuyển sang NHTM khác, gây lãng

phí nguồn vốn và làm mất cơ hội của chi nhánh có khả năng thu hút dự án về

NHNo&PTNT.

Chi nhánh NHNo&PTNT TP Đà Nẵng chưa xây dựng chiến lược cụ thể

về thu hút vốn dự án nước ngoài, việc quảng bá, giới thiệu, tuyên truyền chưa

được chú trọng đúng mức. Ngoài ra, một số chỉ tiêu tài chính của chi nhánh

NHNo&PTNT TP Đà Nẵng chưa đáp ứng được tiêu chí và yêu cầu của nhà tài



60

trợ, gây ảnh hưởng đến việc tăng hạn mức các dự án đang được thực hiện cũng

như việc tham gia vào các dự án mới.

Thứ ba,về cơ chế chỉ đạo điều hành hoạt động huy động vốn

Cơ chế điều hành về hoạt động huy động vốn và kinh doanh nguồn vốn

hiện nay mang tính tập trung cao, song còn kém linh hoạt, nặng ý chí chủ

quan, áp đặt, thiếu tính liên kết và chưa thực sự gắn với định hướng phát triển

kinh tế xã hội, đặc thù kinh doanh của địa phương

Thiếu tính chủ động trong ước lượng chi phí vốn: chi nhánh

NHNo&PTNT TP Đà Nẵng còn thiếu chủ động trong ước lượng chi phí vốn.

Cơ cấu lãi suất đầu vào, đầu ra tuy đã được tính đến song trên thực tế chi

nhánh NHNo&PTNT TP Đà Nẵng chưa đưa ra được con số chính xác về chi

phí HĐV.

Điều hành lãi suất còn cứng nhắc, khơng linh hoạt (theo quy định về lãi

suất của NHNN), chưa khuyến khích được đơn vị thừa vốn. Điều hành lãi

suất còn chưa theo quy luật (về nguyên tắc kỳ hạn càng dài thì lãi suất huy

động phải càng cao, nhưng ngược lại trong giai đoạn hiện nay, lãi suất huy

động gần như cao bằng nhau giữa các kỳ hạn HĐV, thậm chí lãi suất huy

động dài hạn còn thấp hơn lãi suất huy động ngắn hạn).

Thứ tư, sản phẩm huy động vốn còn chưa đáp ứng nhu cầu khách

hàng, kỹ năng bán chéo sản phẩm yếu, chưa có các gói sản phẩm

Chi nhánh NHNo&PTNT TP Đà Nẵng có nhứng bước tiến rõ rệt về các

sàn phẩm HĐV, đã đa dạng hoá các sản phẩm HĐV. Tuy nhiên chưa có sự

nghiên cứu đầy đủ thị trường nguồn vốn để đưa ra các nhóm sản phẩm

chuyên biệt cho từng nhóm khách hàng, tạo sự khác biệt vượt trội trong HĐV

so với cá TCTD khác. Sản phẩm huy động vốn được áp dụng chung cho

nhóm khách hàng nơng dân cũng như nhóm khách hàng thành thị, như vậy

chưa tạo ra sự thu hút đối với khách hàng có số tiền gửi lớn và khai thác các



61

khoản tiền gửi nhỏ lẻ tại nơng thơn. Chưa có các gói sản phẩm dành cho các

đối tượng khách hàng ở từng phân loại khách hàng.

Chi nhánh chưa thực sự tích cực trong triển khai SPDV hỗ trợ công tác

HĐV, cán bộ thực hiện bán sản phẩm chưa chuyên nghiệp, thực hiện bán chéo

sản phẩm còn yếu, thực hiện đơn lẻ từng sản phẩm theo chức năng của phòng

chun mơn nghiệp vụ

Thứ năm, kênh huy động vốn mở rộng song chưa khai thác huy động

vốn hiệu quả

Hệ thống mạng lưới NHNo&PTNT chưa được khai thác hiệu quả trong

phát triển HĐV, năng lực cạnh tranh yếu và chưa tương xứng với tiềm năng

của NHNo&PTNT.

Kênh phân phối hiện đại đã triển khai thêm nhiều kênh phân phối mới

như qua ATM, EDC/POS, Mobile Banking, Internet Banking, gia tăng thêm

nhiều tiện ích cho khách hàng để phục vụ công tác huy động vốn. Tuy nhiên

so với các NHTM lớn khác, hệ thống kênh phân phối hiện đại của

NHNo&PTNT còn thiếu nhiều dịch vụ tiện ích

Thứ sáu, các chương trình khuyến mãi, quay số dự thưởng, tặng quà,

quảng cáo, tài trợ, hoạt động xã hội từ thiện

Hoạt động quảng bá sản phẩm được thực hiện thống nhất cùng với hệ

thống song cả nội dung và hình thức quảng cáo chưa đa dạng, tính chuyên

nghiệp chưa cao, tần suất, số lượng và thời gian quảng cáo ít.

Việc triển khai cơng tác quảng bá thường bị động và chậm, chưa đẩy

mạnh hình thức quảng cáo tại chỗ, do chưa khai thác thế mạnh về nguồn nhân

lực, cơ sở vật chất.

Hoạt động quảng bá thương hiệu thông qua tài trợ cho các hoạt động xã

hoạt động an sinh xã hội ngoài việc quảng bá thương hiệu NHNo&PTNT,

chưa gắn liền với hoạt động huy động vốn.



62

Thứ bảy, chưa có sự khảo sát, phân tích, đánh giá phân đoạn thị

trường và phân loại khách hàng một cách cụ thể về thị trường huy động vốn

Hoạt động này vẫn chưa được thực hiện bài bản, do đó chi nhánh chưa

phân đoạn thị trường và phân loại khách hàng, cán bộ chi nhánh chưa tìm hiểu

thói quen tiết kiệm và cất giữ tiền của người dân,... để từ đó có chính sách

chăm sóc khách hàng phù hợp nhằm huy động tối đa nguồn vốn, tăng cơ hội

bán chéo sản phẩm.

Chi nhánh NHNo&PTNT TP Đà Nẵng đã có những bước tiến rõ rệt về

các sản phẩm HĐV, đã đa dạng hoá các sản phẩm huy động. Tuy nhiên chưa có

sự nghiên cứu đầy đủ về thị trường nguồn vốn để đưa ra các nhóm sản phẩm

chuyên biệt cho từng nhóm khách hàng, tạo sự khác biệt vượt trội HĐV so với

các TCTD khác.

Thứ tám, hoạt động chăm sóc khách hàng còn chưa chun nghiệp

Chi nhánh NHNo&PTNT TP Đà Nẵng chưa xây dựng tiêu chí khách

hàng VIP, khách hàng lớn, khách hàng truyền thống để phân loại khách hàng

và có các chế độ chăm sóc phù hợp, chưa có sản phẩm, dịch vụ chăm sóc vượt

trội xứng tầm khách hàng VIP. Chưa xây dựng chương trình quản lý quan hệ

khách hàng, tích điểm khách hàng sử dụng SPDV để có cơ sở thực hiện ưu

đãi cho các đối tượng khách hàng khác nhau, thực hiện tri ân khách hàng nhân

các dịp lễ tết, sự kiện, ngày lễ dân tộc.

Chi nhánh NHNo&PTNT TP Đà Nẵng chưa có bộ phận khách hàng lớn

chuyên trách. Do cạnh tranh của các NHTM, nhiều chi nhánh trực thuộc chi

nhánh NHNo&PTNT TP Đà Nẵng chưa tiếp cận được khách hàng TCKT, tập

đoàn kinh tế lớn và các tổ chức khác.

Thứ chín, phong cách giao dịch, chất lượng phục vụ trong huy động

vốn còn nhiều hạn chế



63

Những năm qua, chi nhánh NHNo&PTNT TP Đà Nẵng đã chú trọng

đến việc đào tạo và xây dựng một đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, đủ năng lực

cho qua trình hội nhập và phát triển. Tuy nhiên so với mặt bằng chung của

NHTM thì đội ngũ cán bộ của chi nhánh NHNo&PTNT TP Đà Nẵng còn yếu

và thiếu.

Thứ mười, sử dụng công nghệ thông tin trong hỗ trợ hoạt

động huy động vốn còn nhiều hạn chế

Chưa có sự xây dựng thống nhất bộ mã sản phẩm trong toàn hệ thống

do đó gây khó khăn trong việc quản lý sản phẩm, thống kê, đánh giá hiệu quả

trong triển khai sản phẩm

2.5.3 Nguyên nhân của những hạn chế

2.5.3.1 Nguyên nhân chủ quan

Một là, chính sách lãi suất của NHNo&PTNT chưa thực sự linh hoạt.

Hiện nay, lãi suất huy động của chi nhánh NHNo&PTNT TP Đà Nẵng

đang ở mức thấp hơn so với các ngân hàng khác, đặc biệt là các ngân hàng cổ

phần. Trong điều kiện dư thừa vốn thì duy trì lãi suất huy động thấp là hợp lý.

Tuy nhiên với mức lãi suất thấp, chi nhánh NHNo&PTNT TP Đà Nẵng sẽ gặp

khó khăn trong việc cạnh tranh với các ngân hàng bạn. Trên thực tế đã có

nhiều khách hàng của chi nhánh NHNo&PTNT TP Đà Nẵng rút tiền tiết kiệm

đem sang gửi tại các NHTMCP để hưởng lãi suất hấp dẫn hơn. Nếu ngân

hàng khơng có chính sách lãi suất hợp lý sẽ mất rất nhiều khách hàng, đặc biệt

là các khách hàng truyền thống, có số tiền gửi lớn, thời hạn dài.

Hai là, hình thức huy động vốn chưa phong phú

Hiện nay hình thức huy động vốn của chi nhánh NHNo&PTNT TP Đà

Nẵng vẫn còn khá nghèo nàn, tiện ích chưa phong phú, chủ yếu vẫn là các

hình thức huy động truyền thống như: Tiết kiệm trả lãi sau, tiết kiệm dự

thưởng, trái phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, ... chưa tạo ra được nhiều



64

hình thức huy động mới, hấp dẫn khách hàng. Sản phẩm huy động vốn của

ngân hàng còn mang tính đại trà cho tất cả các khách hàng. Trong thời gian

qua cũng đã có một số hình thức huy động mới được ngân hàng đưa vào ứng

dụng nhưng không đem lại hiệu quả cao do các ngân hàng khác cũng đưa ra

những sản phẩm tương tự với lãi suất cạnh tranh hơn.

Ba là, hoạt động marketing chưa được chú trọng đúng mức

Hiện nay chi nhánh NHNo&PTNT TP Đà Nẵng đã tiến hành các chiến

dịch khuyếch trương thương hiệu và các sản phẩm dịch vụ ngân hàng nói

chung, các sản phẩm huy động vốn nói riêng với nhiều hình thức khác nhau.

Tuy nhiên các chương trình quảng cáo, khuyến mãi được thực hiện theo u

cầu sự vụ do đó hiệu quả khơng cao.

Bốn là, nhân viên ngân hàng tuy còn bị ảnh hưởng rất nhiều bởi tư duy

thời kỳ bao cấp.

Do quan niệm ngân hàng là nơi cung cấp vốn cho khách hàng, nên chưa

thực sự coi khách hàng là thượng đế do đó tác phong phục vụ còn máy móc,

thụ động. Đem theo tư duy đó vào trong cơng việc nên nhân viên ngân hàng

có tư tưởng thụ động, chậm đổi mới. Số cán bộ lâu năm tuy có kinh nghiệm

nhưng trình độ ngoại ngữ, tin học rất hạn chế, ít cập nhật kiến thức, nên sự

chênh lệch về mặt bằng kiến thức và kinh nghiệm của chi nhánh

NHNo&PTNT TP Đà Nẵng so với các ngân hàng mới thành lập ngày càng rút

ngắn lại.

Năm là, chậm đổi mới phương thức phục vụ cho khách hàng.

Chưa liên thông với các ngân hàng trong nước. Chủ trương đa dạng hố

các khách hàng triển khai còn chậm và chưa đồng bộ. Chưa chú trọng đến các

đối tượng là doanh nghiệp vừa và nhỏ để phát triển dịch vụ và thu hút nguồn

vốn huy động từ mảng khách hàng đang ngày một phong phú này.

Sáu là, hệ thống phòng giao dịch chưa đảm bảo yêu cầu.



65

Cơ sở vật chất chưa được bố trí khang trang, chưa thu hút được khách

hàng vì nhiều khách hàng có tâm lý nghĩ rằng nếu là địa điểm do ngân hàng

thuê thì gửi tiền sau này biết nhận ở đâu.

Bảy là, chưa có bộ phận theo dõi khách hàng lớn.

Do cạnh tranh của các NHTM, nhiều chi nhánh chưa tiếp cận được

khách hàng là tổ chức kinh tế, tập đoàn kinh tế lớn và các tổ chức khác. Đối

với thoả thuận hợp tác đã ký, việc triển khai chưa bài bản, không được theo

dõi và đánh giá thường xuyên. Mặt khác, các tổ chức kinh tế đồng thời mở tài

khoản tại nhiều TCTD, do đó nguồn vốn bị chia sẻ, khó duy trì ổn định.

2.5.3.2 Nguyên nhân khách quan

- Lạm phát gia tăng trong những năm gần đây, đặc biệt là từ cuối năm

2007 đến nay, gây tâm lý lo sợ đồng tiền trượt giá nên người dân thích cất trữ

tài sản dưới dạng ngoại tệ mạnh, vàng và bất động sản hơn là gửi tiền vào

ngân hàng. Tâm lý người Việt chưa quen sử dụng các cơng cụ thanh tốn khác

thay cho tiền mặt. Tuy nhiên lạm phát vẫn là con số có thể kiểm sốt được

nên nhà nước vẫn chưa ban hành các chính sách tiền tệ tích cực nhằm mục

đích tăng cường huy động vốn, hút vốn về từ lưu thơng.

- Hiện nay người dân Đà Nẵng vẫn có thói quen sử dụng tiền mặt trong

thanh tốn, chưa quen sử dụng các dịch vụ thanh toán của ngân hàng. Bên

cạnh đó thu nhập của dân còn thấp (chiếm trên 80% tổng dân số) nên việc huy

động tiền gửi thanh tốn của ngân hàng gặp nhiều khó khăn, doanh số huy

động tiền gửi thanh toán của ngân hàng bị hạn chế.

- Sự cạnh tranh giữa các NHTM ngày càng nghiệt ngã. Với số lượng

ngân hàng lớn như hiện nay, áp lực cạnh tranh đối với NHNo&PTNT nói

chung và chi nhánh NHNo&PTNT TP Đà Nẵng nói riêng sẽ ngày càng gia

tăng, đặc biệt là cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn bởi vốn là đầu vào

sống còn của hoạt động ngân hàng. Sức ép cạnh tranh để giữ vững và phát



66

triển nguồn vốn rất gay gắt, đặc biệt là sức ép cạnh tranh từ khối các ngân

hàng thương mại cổ phần và các ngân hàng nước ngoài. Điều này càng trở

nên khốc liệt hơn khi mới đây NHNN đã cho phép một số chi nhánh ngân

hàng nước ngoài được phép huy động tiền gửi bằng VND và trong thời gian

tới sẽ có thêm nhiều ngân hàng nước ngồi được phép hoạt động tại Việt

Nam. Khối các ngân hàng thương mại cổ phần đang tạo nhiều ấn tượng trên

thị trường, các ngân hàng này cũng đồng loạt khai trương nhiều chi nhánh,

phòng giao dịch mới, tạo thành những mũi nhọn trực tiếp nhất thu hút khách

hàng. Người dân đang ngày càng tiếp cận khối ngân hàng cổ phần thuận tiện

hơn.

Bên cạnh đó, cạnh tranh về lãi suất được xem là hình thức cạnh tranh nổi

bật nhất giữa các ngân hàng hiện nay. Khối các ngân hàng cổ phần thường có

lãi suất hấp dẫn hơn vì khơng bị ràng buộc bởi các thoả thuận. Ngồi ra, chi

nhánh NHNo&PTNT TP Đà Nẵng còn bị cạnh tranh bởi nhiều tổ chức tài

chính khác trong việc huy động vốn như: bảo hiểm nhân thọ, tiết kiệm bưu

điện. Hiện nay, mức lãi suất huy động của tiết kiệm bưu điện khá hấp dẫn, ở

các kỳ hạn ngắn có mức chênh lệch so với lãi suất huy động của các ngân

hàng thương mại quốc doanh. Với mức lãi suất này cộng thêm ưu thế về mạng

lưới, công nghệ, tiết kiệm bưu điện sẽ là một đối thủ tiềm tàng của các ngân

hàng trong tương lai.

Trên đây là phân tích thực trạng huy động vốn tại chi nhánh

NHNo&PTNT TP Đà Nẵng trong 5 năm (2007-2011). Mặc dù trong những

năm gần đây, hoạt động huy động vốn của NHNo&PTNT TP Đà Nẵng đã thu

được những kết quả nhất định như: quy mô vốn huy động liên tục gia tăng,

vốn huy động đạt được tốc độ tăng trưởng nhất định, chi phí huy động vốn

ln được cải thiện… Tuy nhiên còn những hạn chế yếu kém như đã phân

tích. Đây là cơ sở để tác giả luận văn đề ra giải pháp khắc phục ở chương 3.



67



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

5 Một số kết luận

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×