Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP

Tải bản đầy đủ - 0trang

6

tồn bộ q trình SXKD. Thơng tin do KTQT cung cấp sẽ là cơ sở cho việc kiểm

tra, phân tích đánh giá các hoạt động, đánh giá hiệu quả kinh tế các dự án đầu tư và

lập kế hoạch kinh doanh của các nhà quản trị.

Khái niệm về KTQT được Hiệp hội kế tốn Mỹ định nghĩa: “là q trình định

dạng, đo lường, tổng hợp, phân tích, lập báo biểu, giải trình và thơng đạt các số

liệu tài chính và phi tài chính cho ban quản trị để lập kế hoạch, theo dõi việc thực

hiện kế hoạch trong phạm vi nội bộ một doanh nghiệp, đảm bảo việc sử dụng có

hiệu quả các tài sản và quản lý chặt chẽ các tài sản này.” [9, tr.17]

Còn theo Luật kế tốn Việt Nam thì “Kế tốn quản trị là việc thu thập, xử lý,

phân tích và cung cấp thơng tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết

định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế tốn.” [10]

Thơng tin do KTQT cung cấp đặt trọng tâm cho tương lai, đó là những

thơng tin cần thiết một cách trực tiếp và thường xuyên đối với các nhà quản trị.

Yêu cầu của KTQT là phải xây dựng dự tốn, thu nhận và xử lý các thơng tin về

chi phí, giá thành, thu nhập và kết quả… của từng nhóm sản phẩm, sản phẩm,

đánh giá trách nhiệm quản lý các bộ phận; tiến hành phân tích kịp thời các thông

tin làm cơ sở cho việc đề ra những giải pháp, những quyết định đúng đắn để đối

phó kịp thời với những diễn biến của thị trường, sử dụng hiệu quả các nguồn lực

của doanh nghiệp.

KTQT có quan hệ chặt chẽ với KTTC trong việc sử dụng các số liệu kế tốn

chi tiết, song KTQT khơng phải là kế tốn chi tiết. Nhu cầu thơng tin chính của các

nhà quản trị không chỉ là thông tin chi tiết mà phải là các bảng biểu, các bảng tóm

tắt, phân tích các thơng tin chi tiết từ sổ sách kế tốn. Khi sử dụng các báo cáo này,

nhà quản trị sẽ có được các thông tin mà họ quan tâm. KTQT sử dụng các phương

pháp riêng của mình để thiết kế, tổng hợp, phân tích và truyền đạt thơng tin kế tốn,

đặt chúng trong bối cảnh các mục tiêu đã được xác định với các tình huống khác

nhau nhằm cung cấp thơng tin phù hợp, hữu ích theo yêu cầu của nhà quản trị. Nội



7

dung thông tin mà KTQT cung cấp cho nhà quản lý sẽ bổ sung cho phần thiếu sót

thơng tin mà KTTC không cung cấp được.

1.1.2. Đặc điểm của kế toán quản trị

- Kế toán quản trị chủ yếu cung cấp dữ liệu, thông tin sử dụng để quản lý nội

bộ trong doanh nghiệp.

- Dữ liệu, thông tin kế tốn quản trị chú trọng đến tính chi tiết, tỉ mỉ theo từng

đối tượng, bộ phận cụ thể.

- Thông tin kế tốn quản trị cung cấp ngồi chỉ tiêu giá trị còn có thể chú trọng

đến chỉ tiêu hiện vật hay các chỉ tiêu khác tùy theo từng đối tượng (kế tốn tài chính

chỉ cung cấp các chỉ tiêu giá trị).

- Kế tốn quản trị cung cấp thơng tin để phân tích, đánh giá tình hình để quản

trị kinh doanh hằng ngày và có các quyết định cho tương lai.

- Tổ chức kế toán quản trị sẽ tùy thuộc vào đặc điểm, yêu cầu và trình độ quản

lý của doanh nghiệp cũng như đặc điểm đối tượng kế toán cụ thể ở từng doanh

nghiệp. [2, tr.58]

1.1.3. Nội dung của kế tốn quản trị

Theo Thơng tư 53/2006/TT_BTC, nội dung chủ yếu và phổ biến của KTQT

trong doanh nghiệp gồm [1], [4], [7]:

- Lập dự toán ngân sách sản xuất, kinh doanh;

- KTQT chi phí và giá thành sản phẩm;

- Phân tích mối quan hệ giữa chi phí, khối lượng và lợi nhuận;

- Lựa chọn thơng tin thích hợp cho việc ra quyết định.

1.1.3.1. Lập dự toán ngân sách sản xuất, kinh doanh

KTQT giúp cho việc lập dự toán ngân sách sản xuất kinh doanh. Hệ thống các

chỉ tiêu dự toán bao gồm:

- Chỉ tiêu dự toán tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ



8

- Chỉ tiêu dự tốn sản lượng sản xuất sản phẩm, dịch vụ

- Chỉ tiêu dự toán chi phí sản xuất, dịch vụ

- Chỉ tiêu dự tốn hàng tồn kho

- Chỉ tiêu dự tốn chi phí bán hàng

- Chỉ tiêu dự tốn chi phí quản lý doanh nghiệp

- Chỉ tiêu dự toán vốn bằng tiền

- Chỉ tiêu dự toán Báo cáo kết quả sản xuất, kinh doanh

- Chỉ tiêu dự toán Bảng cân đối kế toán.

1.1.3.2. KTQT chi phí và giá thành sản phẩm

Với nhiệm vụ chủ yếu là cung cấp thơng tin tồn diện và đầy đủ về chi phí,

KTQT chi phí là cơng cụ hữu hiệu đáp ứng nhu cầu thơng tin chi phí cho các nhà

quản trị để đưa ra các quyết định kinh doanh. Bởi lẽ, hầu hết các quyết định của nhà

quản trị đều liên quan đến chi phí.

Do vậy, việc nghiên cứu đặc điểm và nội dung của KTQT chi phí là việc làm

rất cần thiết đối với từng doanh nghiệp.

Doanh nghiệp căn cứ vào đặc điểm hoạt động và yêu cầu quản lý để tổ chức

tập hợp chi phí theo từng trung tâm phát sinh chi phí theo các nội dung sau:

+ Phân loại chi phí trong KTQT (Xem hình 1.1)

Việc phân loại chi phí của doanh nghiệp là nhằm mục đích phục vụ cho quản

trị hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, do đó tùy thuộc vào mục đích,

yêu cầu quản trị của doanh nghiệp trong từng thời kỳ, từng hoàn cảnh để lựa chọn

tiêu thức phân loại phù hợp

+ Phương pháp tập hợp chi phí

Doanh nghiệp cần lựa chọn các phương pháp tập hợp chi phí phù hợp theo

từng loại chi phí:

Phương pháp trực tiếp



9

Áp dụng cho trường hợp chi phí phát sinh chỉ liên quan đến một đối tượng

chịu chi phí. Theo phương pháp này thì chi phí của đối tượng nào được tập hợp trực

tiếp cho đối tượng đó.

Phương pháp phân bổ

Áp dụng cho trường hợp chi phí phát sinh liên quan đến nhiều đối tượng chịu

chi phí. Khi thực hiện phương pháp phân bổ chi phí doanh nghiệp có thể lựa chọn

một trong các căn cứ phân bổ sau: Giờ công, ngày công, giờ máy hoạt động, diện

tích sử dụng… và phương pháp phân bổ là trực tiếp hoặc phân bổ theo cấp bậc.

+ Xác định trung tâm chi phí

Việc xác định trung tâm chi phí phụ thuộc vào quy trình sản xuất và quy mô

của từng loại doanh nghiệp. Các trung tâm chi phí thường được phân loại là:

- Trung tâm chính, như: Trung tâm mua hàng, trung tâm sản xuất (Các phân

xưởng, bộ phận sản xuất…)

- Trung tâm phụ, như: Trung tâm hành chính, quản trị; trung tâm kế tốn, tài chính…

+ Trình tự kế tốn chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

- Tập hợp chi phí (trực tiếp, gián tiếp và phân bổ)

- Tổng hợp chi phí, xử lý chênh lệch thừa, thiếu

- Kiểm kê, đánh giá sản phẩm dở dang, xác định chi phí dở dang

- Xác định phương pháp tính giá thành áp dụng

- Lập báo cáo (thẻ tính) giá thành sản phẩm.

Sơ đồ hình 1.1 bên dưới cho thấy việc phân loại chi phí theo các quan điểm

của KTTC và KTQT. Từ đó cho thấy mối quan hệ cung cấp thơng tin chi phí của

KTTC cho yêu cầu sử dụng thông tin của KTQT



10

CP sản xuất



CP ngoài sản xuất



CP thời kỳ



Theo nội dung

kinh tế



CP sản phẩm



Theo mối quan hệ giữa chi phí

với các khoản mục trên BCTC



Theo quan điểm KTTC



CHI PHÍ

Theo quan điểm KTQT

Theo mối quan hệ

với việc lập kế

hoạch và kiểm tra



Chi

phí

khả

biến



Chi

phí

bất

biến



Chi

phí

hỗn

hợp



Theo tính

chất chi

phí



Chi

phí

trực

tiếp



Chi

phí

gián

tiếp



Chi

phí

kiểm

sốt

được



Theo yêu cầu sử dụng

chi phí trong việc lựa

chọn dự án đầu tư



Chi phí

khơng

kiểm

sốt

được



Chi

phí

thích

hợp



Chi

phí

chênh

lệch



Chi

phí



hội



Chi

phí

chìm



Hình 1.1 Phân loại chi phí trong hoạt động kinh doanh

1.1.3.3. Phân tích mối quan hệ giữa chi phí, khối lượng và lợi nhuận

Mối quan hệ giữa chi phí, khối lượng và lợi nhuận (C.V.P) là mối quan hệ giữa

các nhân tố giá bán, khối lượng (số lượng, mức độ hoạt động), kết cấu hàng bán chi

phí (cố định, biến đổi) và sự tác động của các nhân tố này đến lợi nhuận của doanh

nghiệp.

Doanh nghiệp cần phân tích mối quan hệ này thơng qua hệ thống chỉ tiêu phân

tích, gồm:

- Lãi tính trên biến phí đơn vị (còn gọi là số dư đảm phí)

- Tổng lãi tính trên biến phí

- Tỷ suất lãi tính trên biến phí



11

- Kết cấu chi phí

- Đòn bẩy kinh tế

- Điểm hồ vốn (sản lượng, doanh thu, cơng suất, thời gian hồ vốn…)

Việc phân tích mối quan hệ này giúp doanh nghiệp đưa ra được các quyết định

trong sản xuất, kinh doanh nhằm tối đa hoá lợi nhuận như: Lựa chọn sản phẩm và

sản lượng sản xuất, xác định giá bán, định mức chi phí...

Việc phân tích thơng qua mơ hình C.V.P không chỉ giúp cho việc lựa chọn dây

chuyền sản xuất, định giá bán sản phẩm, xây dựng chiến lược tiêu thụ, chiến lược

marketing nhằm khai thác có hiệu quả SXKD của doanh nghiệp, mà còn giúp ích

nhiều cho việc xem xét rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp.

1.1.3.4. Lựa chọn thơng tin thích hợp cho việc ra quyết định

Ra quyết định là chức năng cơ bản của nhà quản trị doanh nghiệp. Quyết định

phổ biến ở doanh nghiệp gồm: Quyết định ngắn hạn và quyết định dài hạn.

Quyết định đầu tư ngắn hạn thường là: Quyết định loại bỏ hay kinh doanh 1 bộ

phận (sản phẩm), quyết định sản xuất hay mua ngoài, quyết định nên bán hay tiếp

tục sản xuất, quyết định trong điều kiện năng lực SXKD bị giới hạn...

Quyết định đầu tư dài hạn thường là: Quyết định đầu tư tài sản mới hay tiếp

tục sử dụng tài sản cũ; mở rộng quy mô sản xuất; thuê hay mua TSCĐ…

1.1.4. Kế toán quản trị với chức năng quản lý

Trách nhiệm của các nhà quản trị là điều hành và quản lý các mặt hoạt động

của doanh nghiệp. Các chức năng cơ bản của quản lý được khái quát bằng hình 1.2

sau:

Lập kế hoạch



Đánh giá



Ra quyết định



Thực hiện



Kiểm tra



Hình 1.2 Các chức năng cơ bản của quản lý



12

Qua sơ đồ này, ta có thể thấy sự liên tục của hoạt động quản lý từ khâu lập kế

hoạch đến thực hiện, kiểm tra, đánh giá rồi sau đó quay lại khâu lập kế hoạch cho

kỳ sau, tất cả đều xoay quanh trục ra quyết định.

Mối quan hệ giữa chức năng quản lý với q trình kế tốn quản trị được thể

hiện qua hình 1.3

Chức năng quản lý

Xác định mục tiêu



Q trình kế tốn quản trị

Chính thức hóa thành các chỉ tiêu kinh tế



Lập kế hoạch



Lập dự toán chung, chi tiết



Tổ chức thực hiện



Thu nhận kết quả thực hiện



Kiểm tra đánh giá



Soạn thảo báo cáo kế tốn quản trị



Hình 1.3 Sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa chức năng quản lý với quá trình KTQT

Như vậy, để làm tốt chức năng quản lý, nhà quản trị phải có thơng tin cần

thiết có thể ra quyết định đúng đắn. KTQT sẽ là nguồn chủ yếu, dù không phải là

duy nhất, cung cấp nhu cầu thơng tin đó. Vai trò của KTQT thể hiện trong các khâu

của quá trình quản lý được thể hiện cụ thể như sau:

 Trong giai đoạn lập kế hoạch và dự toán

Lập kế hoạch là xây dựng các mục tiêu và vạch ra các bước thực hiện để đạt

được những mục tiêu đó. Dự tốn cũng là một kế hoạch nhằm liên kết các mục tiêu

và chỉ rõ cách huy động, sử dụng các nguồn lực để có thể đạt các mục tiêu đề ra. Để

chức năng lập kế hoạch và dự toán được thực hiện tốt, đảm bảo tính khoa học và

khả thi thì phải dựa trên những thơng tin đầy đủ, thích hợp và có cơ sở. KTQT sẽ

cung cấp cho các nhà quản trị các thơng tin đó để lựa chọn phương án tối ưu nhất,

như chọn được sản phẩm sinh lợi cao nhất, huy động các nguồn lực hợp lý, định

được giá bán hợp lý và có tính cạnh tranh.

 Trong giai đoạn tổ chức thực hiện

Cung cấp thông tin để ra quyết định kinh doanh đúng đắn trong quá trình

thực hiện các quyết định hằng ngày, các quyết định ngắn hạn. Ngồi ra trong q



13

trình thực hiện các kế hoạch đầu tư dài hạn cũng cần phải có các thơng tin cần thiết

và đầy đủ.

 Trong giai đoạn kiểm tra và đánh giá

Cần kiểm tra và đánh giá thực hiện kế hoạch và dự toán, xác định những sai

biệt; nhà quản trị cần được các kế toán viên cung cấp các báo cáo thực hiện để nhận

diện những vấn đề còn tồn tại và những vấn đề cần có tác động của quản lý.

 Trong khâu ra quyết định

Các nhà quản trị cần phải có các thơng tin đầy đủ, đáng tin cậy và thích hợp.

KTQT thực hiện các nghiệp vụ phân tích chun mơn, chọn lọc những thơng tin cần

thiết, thích hợp, rồi tổng hợp trình bày chúng theo một trình tự dễ hiểu nhất và giải

thích q trình phân tích đó cho các nhà quản trị.

Bên cạnh đó, KTQT khơng chỉ cung cấp thơng tin thích hợp, mà còn bằng

cách vận dụng các kỹ thuật phân tích vào những tình huống khác nhau, để từ đó

giúp nhà quản trị lựa chọn quyết định thích hợp nhất. [9, tr.28 – 31]

1.2. HỆ THỐNG THƠNG TIN KẾ TỐN QUẢN TRỊ TRONG DOANH

NGHIỆP XÂY LẮP

1.2.1. Các khái niệm về hệ thống thông tin

 Hệ thống

Hệ thống là một tập hợp gồm nhiều phần tử tích hợp với nhau nhằm đạt được

một mục tiêu xác định. [8, tr.4]

 Hệ thống thông tin

Hệ thống thông tin là một loạt các thủ tục mà khi thực hiện sẽ cung cấp thông

tin cho việc ra quyết định và kiểm soát trong doanh nghiệp. [6, tr.12]

 Hệ thống thơng tin kế tốn

Hệ thống thơng tin kế tốn là một hệ thống thu thập, ghi nhận, lưu trữ và xử

lý dữ liệu nhằm tạo ra thông tin cho người ra quyết định. Hệ thống thơng tin kế

tốn trong một doanh nghiệp được thiết kế nhằm thu nhận các nghiệp vụ kinh tế

- như là dữ liệu đầu vào và xử lý chúng để tạo ra các báo cáo kế tốn – như là

thơng tin đầu ra. [8, tr.4]



14

 Hệ thống thơng tin kế tốn quản trị

Hệ thống thơng tin kế toán quản trị được xem là một hệ thống con của hệ

thống thơng tin kế tốn, nó cung cấp các thơng tin nhằm mục đích quản trị trong

nội bộ doanh nghiệp để dự báo các sự kiện sẽ xảy ra và dự đốn các ảnh hưởng về

tài chính kinh tế của chúng đối với doanh nghiệp. [6, tr.21]

1.2.2. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp xây lắp

và ảnh hưởng của nó đến tổ chức thơng tin kế tốn quản trị

Xây lắp là một ngành sản xuất có tính chất cơng nghiệp, nó tạo ra cơ sở vật

chất và kỹ thuật ban đầu cho xã hội. Trong quá trình đầu tư xây dựng cơ bản, các tổ

chức xây lắp nhận thầu giữ một vai trò hết sức quan trọng. Hiện nay ở nước ta đang

tồn tại các tổ chức xây lắp như Tổng công ty, công ty, doanh nghiệp, đội xây

dựng… thuộc các thành phần kinh tế. Tuy các đơn vị này khác nhau về quy mơ sản

xuất, hình thức quản lý nhưng các đơn vị này đều là những tổ chức nhận thầu xây

lắp và đều tạo ra sản phẩm xây lắp. Sản phẩm xây lắp được tiến hành một cách liên

tục từ khâu thăm dò, điều tra, khảo sát đến thiết kế thi cơng và quyết tốn cơng trình

khi hồn thành. Q trình sản xuất của DNXL và sản phẩm xây lắp có đặc điểm

riêng biệt, khác với các ngành sản xuất khác và điều đó có ảnh hưởng đến tổ chức

thơng tin kế tốn quản trị, cụ thể:

Giá của cơng trình, hạng mục cơng trình là giá dự tốn hoặc giá thỏa

thuận do đơn vị xây lắp kí kết với các đơn vị chủ đầu tư. Tính chất hàng hóa của

SPXL khơng được thể hiện rõ, q trình tiêu thụ SPXL được thực hiện thông qua

việc nghiệm thu và bàn giao cơng trình, khối lượng xây lắp hồn thành cho bên giao

thầu.

Hoạt động của DNXL mang tính chất lưu động, được tiến hành ngoài

trời, các điều kiện sản xuất như xe, máy, thiết bị thi công, người lao động,… phải di

chuyển theo địa điểm sản xuất. Đặc điểm này làm cho cơng tác quản lý, sử dụng,

hạch tốn tài sản, vật tư rất phức tạp do ảnh hưởng của điều kiện thiên nhiên, thời

tiết, dễ mất mát, dễ hư hỏng.



15

Thời gian sử dụng của SPXL lâu, chất lượng sản phẩm được xác định cụ

thể trong hồ sơ thiết kế kỹ thuật được duyệt, đòi hỏi việc tổ chức quản lý sản xuất

và hạch toán phải đảm bảo theo đúng dự toán thiết kế.

Sản phẩm xây lắp có kích thước và giá trị lớn thường vượt quá số vốn lưu

động của doanh nghiệp xây lắp. Hơn nữa thời gian thi công tương đối dài, trong

thời gian sản xuất thi công xây dựng doanh nghiệp chưa tạo ra sản phẩm cho xã hội

nhưng lại sử dụng nhiều vật tư, nhân lực, chi phí…điều này làm cho vốn đầu tư xây

dựng cơng trình và vốn sản xuất của doanh nghiệp xây lắp thường bị ứ đọng lâu tại

cơng trình đang xây dựng. Chính vì vậy, các doanh nghiệp xây lắp phải lựa chọn

phương án có thời gian xây dựng hợp lý, kiểm tra chất lượng chặt chẽ, phải có chế

độ thanh tốn giữa kỳ và dự trữ vốn phù hợp, đồng thời khi lập kế hoạch xây dựng

doanh nghiệp phải cân nhắc thận trọng, thấy rõ được các yêu cầu về tiền vốn, vật tư,

nhân cơng của cơng trình, quản lý, theo dõi các khoản mục phí trong q trình sản

xuất thi cơng chặt chẽ nhằm đảm bảo sử dụng vốn tiết kiệm.

Mặt khác do thời gian thi công tương đối dài nên kỳ tính giá thành được xác

định tùy thuộc vào đặc điểm kỹ thuật của từng loại cơng trình được thể hiện qua

phương pháp lập dự toán và phương thức thanh toán giữa hai bên giao thầu và nhận

thầu. Cũng do chu kỳ sản xuất sản phẩm xây lắp lâu dài nên đối tượng tính giá

thành có thể là sản phẩm xây lắp hoàn thành đến giai đoạn quy ước là điểm dừng kỹ

thuật hợp lý. Sản phẩm xây lắp có kích thước và trọng lượng lớn nên đòi hỏi số

lượng lao động, số lượng nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ phục vụ sản xuất lớn,

khác nhau, vì vậy giá thành sản phẩm xây lắp rất phức tạp và thường xuyên thay đổi

theo từng giai đoạn. Việc xác định đúng đắn đối tượng tính giá thành và kỳ tính giá

thành sẽ đáp ứng yêu cầu quản lý kịp thời và chặt chẽ chi phí sản xuất, đánh giá

đúng đắn tình hình quản lý thi công trong từng thời kỳ nhất định.

Sản phẩm xây lắp có giá trị sử dụng dài qua nhiều năm thậm chí hàng

trăm năm. Mỗi sản phẩm hồn thành đều phải đảm bảo các tiêu chuẩn về kỹ thuật,

tính bền vững cùng với các tiêu chuẩn khắt khe khác bởi vì mọi sai lầm trong q

trình thi cơng thường khó sửa chữa, phải phá đi làm lại. Các sai lầm trong xây lắp



16

thường gây lãng phí, vừa để lại hậu quả có khi rất nghiêm trọng, lâu dài và khó khắc

phục. Do đặc điểm này mà trong quá trình thi cơng cần phải thường xun kiểm tra

giám sát chất lượng cơng trình.

Để nhận được cơng trình, các doanh nghiệp xây lắp thường phải trải qua

khâu đấu thầu. Do đó cơng tác xác định giá dự tốn của cơng trình cần phải được

coi trọng để từ đó xác định mức giá bỏ thầu hợp lý, đảm bảo hiệu quả hoạt động

kinh doanh xây lắp của doanh nghiệp và khả năng thắng thầu. [10]

1.2.3. Mục tiêu tổ chức hệ thống thông tin KTQT trong doanh nghiệp xây lắp

Xuất phát từ nhu cầu thông tin của những nhà quản trị doanh nghiệp để phục vụ

cho quá trình ra quyết định của họ nhằm tối đa hóa lợi nhuận trong kinh doanh nên việc

tổ chức hệ thống thơng tin kế tốn quản trị trong doanh nghiệp thật sự rất quan trọng.

Thoạt nhìn, kế tốn quản trị có mục đích bổ sung cho kế tốn tài chính, đây

chỉ là hai hệ thống con của một hệ thống kế toán, cả hai nhằm mục đích mơ hình

hóa thơng tin kinh tế của doanh nghiệp. Tuy nhiên, chính nhu cầu bí mật các thơng

tin nội bộ đối với người cạnh tranh và công khai các thơng tin bên ngồi cho nhà tài

trợ là động cơ chủ yếu hình thành hai hệ thống con này. Nói một cách khác, chính

cạnh tranh làm xuất hiện nhu cầu tổ chức hệ thống thơng tin kế tốn quản trị trong

doanh nghiệp, đặc biệt trong các doanh nghiệp xâp lắp cơ điện lạnh vì nó gắn liền

với đặc điểm về sự cạnh tranh khác biệt hóa sản phẩm để phát triển sản phẩm xây lắp

cơ điện lạnh của mình so với các đối thủ khác trên thị trường.

1.2.4. Tổ chức thông tin KTQT trong doanh nghiệp xây lắp

1.2.4.1. Tổ chức thơng tin KTQT đối với cơng tác dự tốn chi phí sản xuất

Bất kỳ một doanh nghiệp xây lắp nào muốn hoạt động hiệu quả đều phải có

một dự tốn chi phí sản xuất cụ thể. Dự tốn càng chính xác bao nhiêu thì việc tiến

hành thực hiện cơng việc hiệu quả bấy nhiêu.

Lập dự tốn là q trình tính toán chi tiết nhằm chỉ ra cách huy động, sử

dụng vốn và các nguồn lực khác theo từng kỳ và được biểu diễn một cách có hệ

thống dưới dạng số lượng và giá trị. Việc lập dự tốn chi phí sản xuất là dự toán về



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x