Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN

Tải bản đầy đủ - 0trang

7



Về mặt định lượng: bản chất của hiệu quả là kết quả thu được so với

chi phí bỏ ra.

Về mặt định tính: bản chất của hiệu quả thể hiện ở trình độ và năng lực

quản lý ở các khâu, các cấp quản lý thông qua việc nổ lực thực hiện nhiệm vụ

kinh tế xã hội gắn liền với nhiệm vụ chính trị.

1.1.2. Phân loại hiệu quả

Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế tổng hợp được tạo thành

bởi tất cả các yếu tố của quá trình SXKD, nên cần phải xem xét hiệu quả kinh

doanh trên cả hai mặt đó là hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội, trong đó hiệu

quả kinh tế có ý nghĩa quyết định.

Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các

nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp về lao động, vật tư, tiền vốn nhằm đạt kết

quả cao nhất với chi phí thấp nhất trong hoạt động SXKD. Hiệu quả kinh tế

không những là thước đo trình độ tổ chức quản lý SXKD mà còn là vấn đề

sống còn của các doanh nghiệp.

Như vậy, hiệu quả kinh tế là hiệu quả mà các nhà doanh nghiệp sử

dụng chủ yếu để đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

mình vì mục đích cuối cùng của hoạt động doanh nghiệp là đảm bảo sự tăng

trưởng tài sản của doanh nghiệp. Để đạt được mục tiêu đó, doanh nghiệp phải

sử dụng và phát triển tiềm năng kinh tế của mình để đạt được lợi nhuận, đảm

bảo được khả năng sinh lời, bảo tồn và phát triển nguồn vốn.

Hiệu quả xã hội phản ánh những lợi ích mà xã hội đạt được từ quá trình

hoạt động kinh doanh, đó chính là việc cung ứng hàng hóa, dịch vụ ngày càng

tốt hơn nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất, văn hóa tinh thần cho xã hội.

Bên cạnh hiệu quả kinh tế thì hiệu quả xã hội cũng không kém phần

quan trọng, nếu doanh nghiệp chú trọng đến lợi ích mà xã hội có được từ hoạt

động kinh doanh của doanh nghiệp, doanh nghiệp đáp ứng các yêu cầu của



8



khách hàng về cách phục vụ khách hàng, nghiên cứu những sản phẩm mới

vừa đáp ứng nhu cầu vật chất, vừa mang lại lợi ích cộng đồng thì sẽ góp phần

thúc đẩy hiệu quả kinh tế.

Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết, ảnh

hưởng và tác động qua lại lẫn nhau. Hiệu quả kinh tế dễ xác định, có thể đo

lường các chỉ tiêu ở mức độ tổng hợp và cụ thể. Hiệu quả xã hội chỉ có thể

đánh giá một cách tương đối thông qua những biểu hiện của đời sống xã hội

trong phạm vi nền kinh tế. Vì thế, khi đánh giá hiệu quả kinh doanh của

doanh nghiệp thường chỉ đề cập đến hiệu quả kinh tế còn hiệu quả xã hội chỉ

được kết hợp đánh giá đan xen cùng hiệu quả kinh tế.

Hiệu quả của doanh nghiệp được nghiên cứu trong phần này được xem

xét một cách tổng thể bao gồm nhiều hoạt động. Hoạt động kinh doanh và

hoạt động tài chính ở doanh nghiệp có mối quan hệ qua lại nên phân tích hiệu

quả hoạt động của doanh nghiệp phải xem xét đầy đủ cả hai hoạt động này.

Một doanh nghiệp có thể có hiệu quả kinh doanh cao nhưng hiệu quả tài

chính thấp vì các chính sách tài trợ khơng thích hợp.

Hiệu quả kinh doanh được tạo thành bởi tất cả các yếu tố của quá trình

sản xuất kinh doanh. Do vậy hiệu quả kinh doanh của một doanh nghiệp

không chỉ được xem xét một cách tổng hợp mà còn được nghiên cứu trên cơ

sở các yếu tố thành phần của nó, đó là hiệu quả cá biệt.

- Hiệu quả cá biệt: để có thể xem xét đánh giá một cách chính xác hiệu

quả kinh doanh cá biệt, người ta xây dựng các chỉ tiêu chi tiết cho từng yếu tố

của quá trình sản xuất kinh doanh trên cơ sở so sánh từng loại phương tiện,

từng nguồn lực với kết quả đạt được. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả cá biệt

gồm: hiệu suất sử dụng tài sản của doanh nghiệp, hiệu suất sử dụng lao động

của doanh nghiệp và hiệu suất sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp.



9



- Hiệu quả tổng hợp: ngoài việc xem xét hiệu quả cá biệt của từng loại

nguồn lực, ta cần phân tích hiệu quả tổng hợp. Đó chính là khả năng sử dụng

một cách tổng hợp các nguồn lực để tạo ra kết quả trong lĩnh vực sản xuất

kinh doanh. Để nhận dịnh tổng quát và xem xét hiệu quả tổng hợp, nhà phân

tích dựa vào các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời của doanh nghiệp, đó là

khả năng sinh lời từ các hoạt động của doanh nghiệp và khả năng sinh lời của

tài sản.

Hiệu quả tài chính thường được các nhà đầu tư quan tâm, đó là thái độ

giữ gìn và phát triển nguồn vốn chủ sở hữu. một doanh nghiệp có hiệu quả tài

chính cao chính là điều kiện cho doanh nghiệp tăng trưởng. Để phát triển

doanh nghiệp cần phải đầu tư và sự đầu tư luôn cần các nguồn vốn. Vấn đề

này đòi hỏi doanh nghiệp nên gia tăng vốn chủ sở hữu hay nên huy động vốn

vay. Việc huy động vốn sẽ dễ dàng hơn nếu có những chứng cớ về khả năng

tạo ra các khoản lãi cao. Hơn nữa, nếu tỉ lệ này cao, người chủ sở hữu dễ dàng

chấp nhận để lại phần lớn lợi nhuận vào việc đầu tư, và như vậy doanh nghiệp

có điều kiện bổ sung thêm các phương tiện kinh doanh. Do vậy hiệu quả tài

chính là mục tiêu chủ yếu của các nhà quản trị, các nhà lãnh đạo, nhất là trong

trường hợp họ cũng là chủ và có vốn đầu tư. Nghiên cứu hiệu quả tài chính

nhằm đánh giá sự tăng trưởng của tài sản cho doanh nghiệp so với tổng số

vốn mà doanh nghiệp thực có, đó là khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu.

1.1.3. Bản chất của hiệu quả hoạt động

Để hiểu rõ bản chất của hiệu quả hoạt động kinh doanh, cần phân biệt

ranh giới giữa hai phạm trù: hiệu quả và kết quả.

Kết quả phản ánh những cái thu được sau một quá trình sản xuất kinh

doanh hay một khoảng thời gian sản xuất kinh doanh nào đó. Kết quả bao giờ

cũng là mục tiêu của DN có thể được biểu hiện bằng đơn vị hiện vật hoặc đơn

vị giá trị. Kết quả cũng có thể phản ánh mặt chất lượng của hoạt động kinh



10



doanh hoàn toàn định tính như uy tín, danh tiếng của DN hay chất lượng của

sản phẩm…

Hiệu quả phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất. Trình độ sử

dụng các nguồn lực không thể đo bằng các đơn vị hiện vật hoặc giá trị mà là

một phạm trù tương đối. Cần chú ý rằng trình độ sử dụng các nguồn lực chỉ có

thể được phản ánh bằng số tương đối như: tỷ số giữa kết quả và hao phí nguồn

lực. Trong thực tế, người ta xác định hiệu quả bằng chênh lệch giữa kết quả

đầu ra với chi phí đầu vào. Đây là một cách hiểu chưa đầy đủ về hiệu quả.

Chênh lệch giữa kết quả và chi phí ln là số tuyệt đối, nó chỉ phản ánh mức

độ đạt được về mặt nào đó nên cũng mang bản chất là kết quả của quá trình

sản xuất - kinh doanh và khơng bao giờ phản ánh được trình độ sử dụng các

nguồn lực sản xuất.

Như vậy, bản chất của hiệu quả hoạt động kinh doanh như sau: hiệu quả

hoạt động kinh doanh là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của hoạt động

kinh doanh. Nó thể hiện trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất (lao động,

máy móc thiết bị, nguyên liệu, vốn, đất đai…) trong quá trình tiến hành hoạt

động kinh doanh của một DN.

Hiệu quả hoạt động kinh doanh của DN chính là hiệu quả được xem xét

ở góc độ một đơn vị kinh tế cơ sở đó là DN. Hiệu quả này của DN có thể

được đánh giá ở những góc độ khác nhau: người chủ sở hữu của DN và toàn

bộ nền kinh tế quốc dân. Dưới góc độ chủ sở hữu DN, hiệu quả hoạt động

kinh doanh được biểu hiện là hiệu quả tài chính.

Mục tiêu chung của các DN hoạt động kinh doanh là tối đa hóa lợi ích

của chủ sở hữu. Lợi ích chủ sở hữu của mỗi DN thể hiện qua lợi nhuận, giá trị

của DN...

1.1.4. Mục đích của phân tích hiệu quả hoạt động trong DN

Phân tích hoạt động của DN hướng vào phục vụ nội bộ quản trị của DN

nên rất linh hoạt và đa dạng trong các phương pháp kỹ thuật và dạng thức báo

cáo, trình bày. Hoạt động phân tích nhằm giúp:



11



DN tự đánh giá mạnh yếu nhằm cũng cố, phát huy, cải tiến quản lý,

điều hành Công ty cho phù hợp;

Khai thác tiềm năng thị trường, nguồn lực DN nhằm đạt hiệu quả cao nhất;

Ra các quyết định quản trị DN dựa trên cơ sở kết quả phân tích, dự báo,

phòng chống rủi ro.[8].

1.2. NGUỒN THƠNG TIN VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH

HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TRONG DOANH NGHIÊP

1.2.1. Nguồn thơng tin sử dụng phân tích hiệu quả hoạt động trong

doanh nghiệp

a. Nguồn thông tin từ bên trong Cơng ty

Khi phân tích hiệu quả hoạt động trong DN, cần phải có các thơng tin

từ bên trong của DN như thơng tin từ báo cáo tài chính và các báo cáo nội bộ

của Công ty.

Hệ thống báo cáo tài chính DN bao gồm các báo cáo chủ yếu sau:

- Bảng cân đối kế toán: Là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ảnh

tổng qt tình hình tài sản và nguồn hình thành tài sản của Cơng ty dưới hình

thái tiền tệ tại một thời điểm nhất định thường là cuối quý, cuối năm.

- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: Là báo cáo tài chính phản ánh

tổng quát tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh trong một kỳ kinh doanh

của doanh nghiệp.

Khi phân tích việc tính tốn các tỷ số khả năng sinh lời rất hữu ích khi

xem xét báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, vì chúng thể hiện lợi tức mà

DN kiếm được so với các yếu tố khả biến như tổng tài sản, DT và VCSH; và

các tỷ số bù đắp, đo lường khả năng trả lãi.

- Thuyết minh báo cáo tài chính: Thuyết minh cơng bố các chính sách

kế toán quan trọng đã dùng để lập các báo cáo tài chính và cung cấp các thơng

tin chi tiết bổ sung cho một số khoản mục trên các báo cáo tài chính.



12



- Các báo cáo chi tiết: Bảng chi tiết về kết quả kinh doanh, tình hình

tăng giảm TSCĐ, báo cáo tình hình thực hiện quỹ tiền lương, tình hình thu

nộp ngân sách nhà nước...Ngồi ra, khi phân tích hiệu quả hoạt động kinh

doanh trong Công ty ta cần có thơng tin về số liệu chi phí lãi vay, chi phí khả

biến, chi phí bất biến trong các yếu tố chi phí sản xuất kinh doanh, bảng trích

khấu haoTSCĐ, sản lượng sản xuất và tiêu thụ...

b. Nguồn thông tin từ bên ngồi Cơng ty

Hoạt động kinh doanh của Cơng ty theo cơ chế thị trường nên chịu tác

động bởi nhiều nhân tố thuộc môi trường vĩ mô; để phân tích hiệu quả hoạt

động của Cơng ty phải cần đến những thông tin liên quan đến hoạt động kinh

doanh của Công ty như thông tin về sự tăng trưởng, suy thối của nền kinh tế,

lạm phát, giảm phát; các chính sách của Nhà nước; thông tin về dự báo về nhu

cầu thị trường, triển vọng phát triển trong sản xuất kinh doanh; thông tin về

môi trường vĩ mô, nhà nước quản lý cần quan tâm đến những thông tin liên

quan đến lĩnh vực kinh doanh như: Định hướng phát triển, mức độ và yêu cầu

công nghệ, môi trường, quy mô của thị trường...ảnh hưởng đến chiến lược và

sách lược kinh doanh trong từng thời kỳ của Công ty. Kết hợp những thơng

tin này sẽ đánh giá đầy đủ hơn tình hình hoạt động và dự báo những nguy cơ,

cơ hội đối với hoạt động kinh doanh của DN.

1.2.2. Phương pháp phân tích hiệu quả hoạt động

Khi phân tích hiệu quả hoạt động của DN, có nhiều phương pháp khác

nhau được sử dụng để phân tích. Tùy thuộc vào mục đích phân tích, mà có thể

vận dụng các phương pháp phân tích thích hợp; một số phương pháp chủ yếu

được sử dụng là:

a. Phương pháp so sánh

Phương pháp so sánh là phương pháp đơn giản nhất, xem xét một chỉ

tiêu phân tích bằng cách dựa trên việc so sánh với một chỉ tiêu gốc. Phương



13



pháp này được sử dụng khá phổ biến trong phân tích hiệu quả hoạt động. Nó

được dùng để đánh giá kết quả, xác định vị trí và xu hướng biến động của chỉ

tiêu phân tích.

Tiêu chuẩn so sánh: Kế hoạch, thực hiện các kỳ trước, DN tiêu biểu

cùng ngành, hoặc đối thủ cạnh tranh chính, BQ ngành, thơng số thị trường,

các chỉ tiêu có thể so sánh khác.

Điều kiện so sánh: các chỉ tiêu so sánh được phải phù hợp về yếu tố

không gian, thời gian, cùng một nội dung kinh tế, đơn vị đo lường, phương

pháp tính tốn, quy mơ và điều kiện kinh doanh.

Kỹ thuật so sánh: Để đáp ứng các mục tiêu nghiên cứu khác nhau,

trong phân tích người ta thường dùng các kỹ thuật so sánh sau:

So sánh bằng số tuyệt đối: Là việc xác định chênh lệch giữa trị số của

chỉ tiêu kỳ phân tích với trị số của chỉ tiêu kỳ gốc. Kết quả so sánh biểu hiện

khối lượng, quy mô của các hiện tượng kinh tế.

∆ = Chỉ tiêu kỳ phân tích - Chỉ tiêu kỳ gốc

So sánh bằng số tương đối: Là xác định số % tăng (giảm) giữa thực tế

so với kỳ gốc của chỉ tiêu phân tích, cũng có khi là tỷ trọng của một hiện

tượng kinh tế trong tổng thể quy mô chung được xác định. Kết quả so sánh

biểu hiện kết cấu, mối quan hệ tỷ lệ, tốc độ phát triển, mức độ phổ biến của

các hiện tượng nghiên cứu.

Tỷ lệ tăng (giảm) của chỉ

tiêu



=



Số kỳ phân tích

Số kỳ gốc



*

100%



Hay:

*

Mức tăng (chỉ tiêu phân tích)

Số kỳ gốc

100%

So sánh bằng số BQ: Số BQ là dạng đặc biệt của số tuyệt đối, biểu hiện

t



=



tính chất đặc trưng chung về mặt số lượng nhằm phản ánh đặc điểm chung

của một đơn vị, một bộ phận hay một tổng thể chung có cùng một tính chất.



14



b. Phương pháp chi tiết

Các chỉ tiêu kinh tế phản ánh quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh

thường đa dạng và phong phú. Để nắm bắt được bản chất và đánh giá chính

xác kết quả đạt được của các chỉ tiêu này, khi tiến hành phân tích, có thể chi

tiết các chỉ tiêu này theo yếu tố cấu thành, theo thời gian, theo không gian.

- Chi tiết các chỉ tiêu theo yếu tố cấu thành sẽ giúp đánh giá được mức

độ đạt được của từng yếu tố của kỳ phân tích so với kỳ gốc, đánh giá được vai

trò mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đối với tổng thể.

- Chi tiết các chỉ tiêu theo thời gian sẽ giúp đánh giá được tiến độ thực

hiện, kết quả đạt được, nhịp độ phát triển, tính thời vụ … trong từng khoảng

thời gian nhất định. Tùy theo đặc điểm của hoạt động kinh doanh, mục đích

của việc phân tích, nội dung kinh tế của chỉ tiêu mà có thể chi tiết các chỉ tiêu

nghiên cứu theo tháng, quý, năm…

- Chi tiết các chỉ tiêu theo không gian, sẽ giúp đánh giá được kết quả

thực hiện của từng đơn vị, từng bộ phận, mức độ đóng góp của từng đơn vị,

từng bộ phận vào kết quả chung.

c. Phương pháp thay thế liên hoàn và số chênh lệch

- Phương pháp thay thế liên hoàn: Thay thế liên hoàn là phương pháp

mà các nhân tố lần lược được thay thế theo một trình tự thống nhất nhằm xác

định mức độ ảnh hưởng của chúng đến chỉ tiêu phân tích. Trong khi một nhân

tố thay thế, các nhân tố còn lại được giữ cố định. Chênh lệch giữa kết quả

thay thế nhân tố lần sau với kết quả thay thế lần trước chính là ảnh hưởng của

nhân tố vừa thay thế đến sự biến động của chỉ tiêu nghiên cứu; phương pháp

thay thế liên hoàn được thực hiện qua các bước sau:

+ Xác định chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu.

+ Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phán ánh đối tưưọng

nghiên cứu, các nhân tố này đòi hỏi phải có quan hệ chặt chẽ với chỉ tiêu

nghiên cứu dưới dạng tích số hoặc thương số.



15



+ Sắp xếp các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phán ánh đối tượng nghiên

cứu theo trình tự nhất định, từ nhân tố số lượng đến nhân tố chất lượng.

Lần lượt thay thế giá trị của từng nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu nghiên

cứu theo trình tự đã sắp xếp ở bước trên. Sau mỗi lần thay thế trị số của từng

nhân tố, nhà phân tích phải xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố vừa thay

thế đến sự biến động cảu chỉ tiêu phản ánh đối tượng bằng cách lấy kết quả

thay thế lần sau trừ kết quả thay thế lần trước. Lần trước của nhân tố đầu tiên

chính là so với gốc.

+ Tổng hợp ảnh hưởng của tất cả các nhân tố đến sự biến động của chỉ

tiêu nghiên cứu giưữa kỳ phân tích so với kỳ gốc. Từ đó, đưa ra nhận xét, kết

luận và đánh giá sự biến động của chỉ tiêu nghiên cứu cũng như sự ảnh hưởng

của từng nhân tố tác động.

Có thể minh họa các bước trên như sau:

* Trường hợp các nhân tố quan hệ dạng tích số:

Ký hiệu Q là chỉ tiêu phân tích; ký hiệu a, b, c là trình tự các nhân tố

ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích.

Thể hiện bằng phương trình: Q = a.b.c

Gọi Q1 là chỉ tiêu kỳ phân tích, Q 0 là chỉ tiêu kỳ gốc. Đối tượng Q chịu

ảnh hưởng của bốn nhân tố: a, b, c và các nhân tố này có quan hệ chặt chẽ với

Q dưới dạng tích số, thể hiện qua cơng thức: Q = a.b.c

Ta có: Chỉ tiêu nghiên cứu kỳ phân tích: Q1= a1.b1.c1

Chỉ tiêu nghiên cứu kỳ gốc: Q0= a0.b0c0

Q1- Q0 = ∆Q : Chênh lệch giữa kỳ phân tích và kỳ gốc

∆Q : là đối tượng phân tích, ∆Q = a1.b1.c1 - a0.b0c0

Tiến hành thực hiện thay thế theo các bước sau:

+ Bước 1 (thay thế nhân tố a), ta có mức độ ảnh hưởng của nhân tố a

đến chỉ tiêu Q: ∆a = a1.b0.c0 - a0.b0c0



16



+ Bước 2 ( thay thế nhân tố b), ta có mức độ ảnh hưởng của nhân tố b

đến chỉ tiêu Q: ∆b = a1.b1.c0 - a1.b0c0

+ Bước 3 ( thay thế nhân tố c), ta có mức độ ảnh hưởng của nhân tố c

đến chỉ tiêu Q: ∆c = a1.b1.c1 - a1.b1c0

Tổng hợp mức độ ảnh hưởng của các nhân tố:

∆a + ∆b + ∆c = a1.b0.c0 - a0.b0c0 + a1.b1.c0 - a1.b0c0 + a1.b1.c1 - a1.b1c0

= a1.b1.c1 - a0.b0c0 = ∆Q: đối tượng phân tích

Qua thực hiện các bước như trên, nhân tố đã thay thế ở các bước trước

phải được giữ nguyên cho các bước thay thế sau.

* Trường hợp các nhân tố quan hệ dạng thương số:

Ký hiệu Q là chỉ tiêu phân tích; ký hiệu a, b, c là trình tự các nhân tố

ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích.

Thể hiện bằng phương trình:



a

Q  xc

b



Gọi Q1 là chỉ tiêu kỳ phân tích, Q0 là chỉ tiêu kỳ gốc



a

Q1  1 xc1 ;

b1



a

Q0  0 xc0

b0



Q1- Q0 = ∆Q : Đối tượng phân tích

+ Thay thế nhân tố a; ta có:



a

a

a  1 xc0  0 xc0 mức độ ảnh hưởng của nhân tố a

b0

b0

+ Thay thế nhân tố b; ta có:



a

a

b  1 xc0  1 xc0 mức độ ảnh hưởng của nhân tố b

b1

b0

+ Thay thế nhân tố b; ta có:



17



a

a

c  1 xc1  1 xc0 mức độ ảnh hưởng của nhân tố c

b1

b1

Tổng hợp mức độ ảnh hưởng của các nhân tố:

∆a + ∆b + ∆c = ∆Q



a

a

Q  1 xc1  0 xc0

b1

b0

- Phương pháp số chênh lệch:

Phương pháp số chênh lệch là đơn giản hơn của phương pháp thay thế

liên hoàn, một dạng đặt biệt của phương pháp thay thế liên hoàn vì thế

phương pháp số chênh lệch tơn trọng đầy đủ nội dung các bước tiến hành của

phương pháp thay thế liên hoàn, chỉ khác nhau ở chỗ: “để xác định mức độ

ảnh hưởng của nhân tố nào thì trực tiếp dùng số chênh lệch về giá trị kỳ phân

tích so với kỳ gốc của nhân tố đó để xác định”.

Giả sử với đối tượng nghiên cứu Q và các nhân tố ảnh hưởng: a, b như

phần phương pháp thay thế liên hồn, ta có:

∆a = (a1-a0).b0



∆b = (b1-b0).a1



∆Q = Q1 - Q0 = ∆a+∆b [1],[2].

1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG

1.3.1. Các nhân tố bên ngoài DN

a. Môi trường kinh doanh

Môi trường kinh doanh chung là môi trường bao trùm lên mọi hoạt

động của Công ty, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh. Nó được xác lập bởi các yếu tố vĩ mơ như: chính trị, hệ thống luật

pháp, kinh tế, các yếu tố về chính sách tài chính, kế tốn... ảnh hưởng đến

hoạt động kinh doanh của Cơng ty cổ phần. Mơi trường kinh doanh chung có

ảnh hưởng lâu dài đến Cơng ty cổ phần và nằm ngồi sự kiểm soát của DN.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×